Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 được ban hành nhằm xác định các quyền cơ bản, bổn phận của trẻ em cũng như quy định rõ trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước và toàn xã hội trong việc chăm lo, giáo dục thế hệ tương lai của đất nước. Luật áp dụng đối với mọi trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi, không phân biệt giới tính, hoàn cảnh gia đình, dân tộc, tôn giáo hay địa vị xã hội.
Các nguyên tắc chung và quyền cơ bản của trẻ em
- Quyền bình đẳng và không phân biệt đối xử: Mọi trẻ em, không phân biệt con trong hay ngoài giá thú, con đẻ hay con nuôi, dân tộc, tôn giáo hay địa vị xã hội của cha mẹ, đều được hưởng đầy đủ các quyền bảo vệ, chăm sóc và giáo dục theo quy định của pháp luật.
- Quyền khai sinh và quốc tịch: Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch. Đối với trẻ em không rõ cha mẹ, các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm hỗ trợ xác định cha mẹ khi có yêu cầu.
- Quyền được chăm sóc và nuôi dạy: Trẻ em được tạo điều kiện phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Nhà nước có chính sách hỗ trợ đặc biệt đối với trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em ở vùng cao, hải đảo, vùng sâu vùng xa. Trẻ em tàn tật, khuyết tật được hỗ trợ điều trị, phục hồi chức năng và học tập tại các lớp học chuyên biệt. Trẻ em không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội nuôi dưỡng.
- Quyền sống chung với cha mẹ: Trẻ em có quyền sống cùng cha mẹ và không ai được phép chia cắt, trừ trường hợp vì lợi ích tối cao của trẻ. Việc cho nhận con nuôi hoặc đưa trẻ ra nước ngoài phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật.
- Quyền được tôn trọng và bảo vệ: Trẻ em được bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự, đồng thời có quyền bày tỏ ý kiến, nguyện vọng cá nhân. Nghiêm cấm mọi hành vi ngược đãi, hành hạ, ruồng bỏ, bắt cóc, mua bán trẻ em hoặc kích động trẻ em vi phạm pháp luật.
- Quyền chăm sóc sức khỏe: Trẻ em dưới sáu tuổi được khám, chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở y tế nhà nước theo quy định. Cơ quan y tế có trách nhiệm theo dõi, phòng bệnh và khám sức khỏe định kỳ cho trẻ. Nghiêm cấm sử dụng lao động trẻ em trái quy định gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường.
- Quyền học tập và vui chơi: Trẻ em có quyền học tập, có bổn phận hoàn thành chương trình phổ cập và được miễn học phí khi học tiểu học tại các trường quốc lập. Trẻ em cũng có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh; nghiêm cấm việc sử dụng sai mục đích các cơ sở vật chất dành cho việc học tập, vui chơi của trẻ.
- Quyền sở hữu tài sản: Trẻ em có quyền có tài sản, quyền thừa kế và hưởng các chế độ bảo hiểm. Người giám hộ có trách nhiệm quản lý tài sản này và bàn giao lại khi trẻ đến tuổi thành niên.
Bổn phận của trẻ em và các hành vi bị nghiêm cấm
- Bổn phận của trẻ em: Trẻ em phải kính trọng, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; lễ phép với người lớn, yêu thương em nhỏ; chăm chỉ học tập, rèn luyện thân thể và tuân thủ nội quy nhà trường; tôn trọng pháp luật, giữ gìn của công; yêu quê hương, đất nước và có ý thức xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
- Các hành vi bị nghiêm cấm đối với xã hội: Trẻ em không được đánh bạc, uống rượu, hút thuốc và dùng chất kích thích. Nghiêm cấm mọi hành vi lôi kéo, dụ dỗ trẻ em vào các tệ nạn này, hoặc ép buộc trẻ em mại dâm, tiếp cận các văn hóa phẩm đồi trụy, đồ chơi hoặc trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh.
- Xử lý trẻ em vi phạm pháp luật: Việc truy cứu trách nhiệm hành chính, dân sự hay hình sự đối với trẻ em vi phạm pháp luật phải được thực hiện theo các quy định riêng biệt của pháp luật dành cho người chưa thành niên.
Trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội
- Trách nhiệm của gia đình: Cha mẹ hoặc người đỡ đầu là người trước tiên chịu trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, nuôi dạy và làm gương tốt cho trẻ. Trong trường hợp ly hôn, người không trực tiếp nuôi dưỡng vẫn phải đóng góp chi phí và thực hiện nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con. Cha mẹ phải chịu trách nhiệm hành chính, dân sự đối với các thiệt hại do hành vi của con mình gây ra.
- Trách nhiệm của nhà trường: Nhà trường, nhà trẻ và các cơ sở mẫu giáo phải bảo đảm điều kiện cần thiết để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của Nhà nước. Đội ngũ giáo viên, cô nuôi dạy trẻ phải được đào tạo chuyên môn, có sức khỏe, đạo đức tốt và yêu thương trẻ em.
- Trách nhiệm của Nhà nước: Nhà nước dành một tỷ lệ ngân sách thích đáng hàng năm cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Các cơ quan bảo vệ pháp luật có trách nhiệm ngăn ngừa vi phạm, giáo dục và cải tạo trẻ em hư, trẻ em vi phạm pháp luật.
- Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em: Có nhiệm vụ giúp Hội đồng bộ trưởng và Ủy ban nhân dân các cấp hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch bảo vệ, chăm sóc trẻ em, đồng thời phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, tổ chức liên quan.
- Vai trò của các tổ chức đoàn thể: Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt pháp luật về trẻ em, giám sát việc chấp hành pháp luật và hướng dẫn các hoạt động lành mạnh cho thiếu nhi.
- Quỹ bảo trợ trẻ em: Được thành lập từ nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm phục vụ sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Nghiêm cấm sử dụng quỹ này vào mục đích khác.
Khen thưởng, xử lý vi phạm và hiệu lực thi hành
- Khen thưởng: Cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sẽ được Nhà nước khen thưởng theo chế độ chung.
- Xử lý vi phạm: Người có hành vi xâm phạm quyền lợi của trẻ em, ngược đãi, hành hạ, lôi kéo trẻ em vi phạm pháp luật hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ sẽ bị xử lý kỷ luật, phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ vi phạm.
- Hiệu lực thi hành: Luật này bãi bỏ các quy định trước đây trái với các điều khoản của Luật. Hội đồng bộ trưởng chịu trách nhiệm quy định chi tiết để hướng dẫn thi hành Luật này trên thực tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 57-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 12 tháng 8 năm 1991 |
LUẬT
BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA QUỐC HỘI SỐ 57-LCT/HĐNN8
Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để nâng cao trách nhiệm của gia đình, cơ quan Nhà nước, nhà trường, tổ chức xã hội và công dân trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhằm bồi dưỡng các em trở thành công dân tốt của đất nước theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh;
Căn cứ vào các Điều 41, 64, 65 và 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này quy định các quyền cơ bản, bổn phận của trẻ em và việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi.
Trẻ em, không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con riêng, con chung; không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc của người nuôi dưỡng, đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật.
Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân.
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện.
Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em, đều bị nghiêm trị.
CÁC QUYỀN CƠ BẢN VÀ BỔN PHẬN CỦA TRẺ EM
1- Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dạy để phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức.
2- Trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em ở vùng cao, hải đảo, vùng xa xôi hẻo lánh, được Nhà nước tạo điều kiện trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.
3- Trẻ em tàn tật, trẻ em có khuyết tật, được Nhà nước và xã hội giúp đỡ trong việc điều trị, phục hồi chức năng để hoà nhập vào cuộc sống xã hội; được thu nhận vào các trường, lớp đặc biệt.
4- Trẻ em không nơi nương tựa, được Nhà nước và xã hội tổ chức chăm sóc, nuôi dạy.
Trẻ em có quyền sống chung với cha mẹ. Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích của đứa trẻ.
Việc giao, nhận trẻ em làm con nuôi phải theo quy định của pháp luật, bảo đảm cho đứa trẻ được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt.
Mọi trường hợp đưa trẻ em ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài vào, phải theo quy định của pháp luật.
1- Trẻ em được Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng của mình về những vấn đề có liên quan.
2- Nghiêm cấm việc ngược đãi, làm nhục, hành hạ, ruồng bỏ trẻ em; bắt trộm, bắt cóc, mua bán, đánh tráo trẻ em; kích động, lôi kéo, ép buộc trẻ em thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật hoặc làm những việc có hại đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em.
1- Trẻ em được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ. Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế của Nhà nước theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.
3- Nghiêm cấm việc sử dụng lao động trẻ em trái quy định của pháp luật, có hại cho sự phát triển bình thường của trẻ em.
1- Trẻ em có quyền được học tập và có bổn phận học hết chương trình giáo dục phổ cập. Trẻ em học bậc tiểu học trong các trường, lớp quốc lập không phải trả học phí.
2- Cha mẹ, người đỡ đầu có trách nhiệm tạo điều kiện tốt cho con em học tập.
3- Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền học tập của trẻ em, khuyến khích trẻ em học tập tốt và tạo điều kiện để trẻ em phát triển năng khiếu.
1- Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi.
2- Nhà nước khuyến khích và bảo trợ việc xây dựng, bảo vệ, sử dụng tốt những cơ sở vật chất, kỹ thuật và phương tiện phục vụ trẻ em học tập, sinh hoạt và vui chơi.
3- Nghiêm cấm việc sử dụng những cơ sở vật chất, phương tiện công cộng dành cho việc học tập, vui chơi, giải trí của trẻ em vào mục đích khác.
Trẻ em có quyền có tài sản, quyền thừa kế, quyền hưởng các chế độ bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Cha mẹ, người đỡ đầu hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan phải giữ gìn, quản lý tài sản của trẻ em và giao lại cho trẻ em khi đến tuổi thành niên.
Trẻ em có bổn phận:
1- Yêu quý, kính trọng, hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ, lễ phép với người lớn, thương yêu em nhỏ, đoàn kết với bạn bè, giúp đỡ người già yếu, tàn tật, giúp đỡ gia đình làm những việc vừa sức mình;
2- Chăm chỉ học tập, rèn luyện thân thể; tuân theo nội quy của nhà trường;
3- Tôn trọng pháp luật; thực hiện nếp sống văn minh, trật tự công cộng và an toàn giao thông; giữ gìn của công, tôn trọng tài sản của người khác;
4- Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1- Trẻ em không được đánh bạc, uống rượu, hút thuốc và dùng các chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ.
2- Nghiêm cấm việc lôi kéo trẻ em đánh bạc, cho trẻ em uống rượu, hút thuốc, dùng chất kích thích có hại cho sức khoẻ.
3- Nghiêm cấm việc dụ dỗ, dẫn dắt trẻ em mại dâm, bán hoặc cho trẻ em sử dụng những văn hoá phẩm đồi truỵ, đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em.
Việc truy cứu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự đối với trẻ em vi phạm pháp luật, phải theo quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên.
TRÁCH NHIỆM CỦA GIA ĐÌNH, NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI
1- Cha mẹ hoặc người đỡ đầu là người trước tiên chịu trách nhiệm về việc bảo vệ, chăm sóc, nuôi dạy trẻ em, dành điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em.
2- Cha mẹ, các thành viên lớn tuổi khác trong gia đình, người đỡ đầu phải làm gương tốt về mọi mặt cho trẻ em noi theo; khi gặp khó khăn tự mình không giải quyết được, có thể yêu cầu cơ quan hoặc tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện tốt nghĩa vụ của mình.
3- Trong trường hợp ly hôn hoặc trong các trường hợp khác, người cha hoặc người mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên có nghĩa vụ đóng góp để nuôi dưỡng, giáo dục con; có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con theo quy định của pháp luật.
Nghiêm cấm hành vi xúi giục trẻ em thù ghét cha mẹ, gia đình hoặc người đỡ đầu.
Cha mẹ, người đỡ đầu phải chịu trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự về những thiệt hại do hành vi của đứa trẻ mình nuôi dạy gây ra.
1- Nhà trẻ, trường, lớp mẫu giáo, trường phổ thông phải có những điều kiện cần thiết để bảo đảm chất lượng nuôi dạy trẻ em, thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của Nhà nước.
2- Cô nuôi dạy trẻ, giáo viên, tổng phụ trách Đội phải được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, phải có sức khoẻ, có phẩm chất, đạo đức tốt, yêu nghề, yêu trẻ, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ.
1- Nhà nước dành một tỷ lệ ngân sách thích đáng trong kế hoạch hàng năm cho việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
3- Các cơ quan bảo vệ pháp luật, theo chức năng của mình, có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp thực hiện việc bảo vệ các quyền và lợi ích của trẻ em, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật của trẻ em, giáo dục trẻ em hư và cải tạo trẻ em vi phạm pháp luật.
Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em có nhiệm vụ giúp Hội đồng bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân cùng cấp hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và giám sát việc thực hiện kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; tổ chức sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế có liên quan để thực hiện việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
1- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm:
a) Tuyên truyền, giáo dục đoàn viên, hội viên và nhân dân chấp hành tốt pháp luật về trẻ em;
b) Vận động các gia đình thực hiện tốt việc chăm sóc, giáo dục trẻ em;
c) Chăm lo, bảo vệ quyền lợi của trẻ em, giám sát việc chấp hành pháp luật về trẻ em, đưa ra những kiến nghị cần thiết đối với các cơ quan Nhà nước hữu quan để thực hiện những nhiệm vụ đó; ngăn ngừa những hành vi và kháng nghị đối với những quyết định xâm phạm quyền, lợi ích của trẻ em.
2- Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, ngoài trách nhiệm quy định tại khoản 1, Điều này, có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan để tổ chức, hướng dẫn việc nuôi con khoẻ, dạy con ngoan.
3- Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, ngoài trách nhiệm quy định tại khoản 1, Điều này, có nhiệm vụ phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, tổ chức, hướng dẫn hoạt động của thiếu nhi.
1- Nhà nước bảo trợ các công trình khoa học và công nghệ, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, mọi sáng kiến, việc làm có lợi cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; khuyến khích các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần dành một phần quỹ phúc lợi hoặc lợi nhuận vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
2- Quỹ bảo trợ trẻ em được thành lập bằng sự đóng góp của các cơ quan Nhà nước, đoàn thể nhân dân, tổ chức kinh tế, văn hoá, tổ chức từ thiện, tổ chức nhân đạo và các tổ chức xã hội khác, của các cá nhân ở trong nước, ngoài nước, viện trợ quốc tế cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
3- Nghiêm cấm việc sử dụng Quỹ bảo trợ trẻ em và các nguồn tài chính khác dành cho việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vào mục đích khác.
Cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, được khen thưởng theo chế độ chung của Nhà nước.
Người xâm phạm quyền của trẻ em, ngược đãi, làm nhục, hành hạ, ruồng bỏ trẻ em; kích động, lôi kéo, ép buộc trẻ em thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em làm hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tuỳ theo mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Những quy định trước đây trái Luật này đều bãi bỏ.
Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 9, thông qua ngày 12 tháng 8 năm 1991.
| Võ Chí Công (Đã ký) |
- 1Chỉ thị 23/2006/CT-TTg về việc tăng cường công tác y tế trong các trường học do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Thông tư liên tịch 03/2000/TTLT-BVCSTE-BVHTT-TƯĐTN hướng dẫn Chỉ thị 03/2000/CT-TTg về việc đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, vui chơi, giải trí cho trẻ em do Ủy ban bảo vệ chăm sóc trẻ em - Bộ Văn hóa thông tin -Đòan thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh ban hành
- 3Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979
- 4Công văn về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 298/TTg của Thủ tướng Chính phủ
- 5Quyết định 132/1997/QĐ-BT năm 1997 ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động thanh tra bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Bộ Trưởng-Chủ Nhiệm Uỷ Ban Bảo vệ và Chăm Sóc Trẻ Em Việt Nam ban hành
- 6Chỉ thị 06/1998/CT-TTg về tăng cường công tác bảo vệ trẻ em, ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thanh, trẻ em bị lạm dụng sức lao động do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 7Nghị định 293-CP năm 1981 thi hành Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 8Thông báo số 38/TB về kết quả làm việc của Thủ tướng Chính phủ với Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 9Quy định 1310/THKH năm 1991 về tuyển chọn cán bộ khoa học và kỹ thuật, cơ quan chủ trì thực hiện công trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp Nhà nước do Ủy ban Khoa học Nhà nước ban hành
- 10Thông báo số 159/TB-VPVP về ý kiến kết luận của Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm tại hội nghị về các giải pháp khắc phục tình trạng phụ nữ, trẻ em bị lừa gạt, buôn bán ra nước ngoài do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 11Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004
- 1Chỉ thị 23/2006/CT-TTg về việc tăng cường công tác y tế trong các trường học do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Thông tư liên tịch 03/2000/TTLT-BVCSTE-BVHTT-TƯĐTN hướng dẫn Chỉ thị 03/2000/CT-TTg về việc đẩy mạnh các hoạt động văn hoá, vui chơi, giải trí cho trẻ em do Ủy ban bảo vệ chăm sóc trẻ em - Bộ Văn hóa thông tin -Đòan thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh ban hành
- 3Hiến pháp năm 1980
- 4Nghị quyết về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Quốc hội ban hành
- 5Nghị định 362-HĐBT năm 1991 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 6Công văn về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 298/TTg của Thủ tướng Chính phủ
- 7Quyết định 132/1997/QĐ-BT năm 1997 ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động thanh tra bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Bộ Trưởng-Chủ Nhiệm Uỷ Ban Bảo vệ và Chăm Sóc Trẻ Em Việt Nam ban hành
- 8Chỉ thị 06/1998/CT-TTg về tăng cường công tác bảo vệ trẻ em, ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thanh, trẻ em bị lạm dụng sức lao động do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 9Nghị định 293-CP năm 1981 thi hành Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 10Nghị định 374-HĐBT Hướng dẫn Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 11Thông báo số 38/TB về kết quả làm việc của Thủ tướng Chính phủ với Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 12Quy định 1310/THKH năm 1991 về tuyển chọn cán bộ khoa học và kỹ thuật, cơ quan chủ trì thực hiện công trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cấp Nhà nước do Ủy ban Khoa học Nhà nước ban hành
- 13Thông báo số 159/TB-VPVP về ý kiến kết luận của Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm tại hội nghị về các giải pháp khắc phục tình trạng phụ nữ, trẻ em bị lừa gạt, buôn bán ra nước ngoài do Văn phòng Chính phủ ban hành
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991
- Số hiệu: 57-LCT/HĐNN8
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 12/08/1991
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 18
- Ngày hiệu lực: 16/08/1991
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2005
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
