Pháp lệnh bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp năm 1961 được ban hành bởi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh, nhằm thay thế cho Sắc luật số 004-SLt ngày 20 tháng 7 năm 1957. Văn bản này quy định toàn diện về nguyên tắc, quy trình, tổ chức và thể thức tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, bảo đảm quyền dân chủ của công dân trong việc xây dựng chính quyền địa phương.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh áp dụng đối với mọi công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào HĐND các cấp, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hóa, nghề nghiệp hay thời hạn cư trú. Quy định này cũng áp dụng đối với quân nhân đang phục vụ trong quân đội và công an nhân dân vũ trang. Những người bị tòa án hoặc pháp luật tước quyền bầu cử, ứng cử và những người mất trí không được thực hiện các quyền này. Kinh phí tổ chức bầu cử hoàn toàn do ngân sách Nhà nước chi trả.
Các nội dung cốt lõi của Pháp lệnh
1. Nguyên tắc bầu cử và quy định về lập danh sách cử tri
- Nguyên tắc bầu cử: Việc bầu cử đại biểu HĐND các cấp được tiến hành theo bốn nguyên tắc vàng: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
- Lập danh sách cử tri: Danh sách cử tri được lập theo khu vực bỏ phiếu bởi Ủy ban hành chính thị xã, khu phố, thị trấn, xã hoặc do ban chỉ huy các đơn vị quân đội và công an nhân dân vũ trang thực hiện. Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri tại nơi cư trú của mình.
- Niêm yết và khiếu nại: Danh sách cử tri phải được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban hành chính hoặc những nơi công cộng chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử. Nhân dân có quyền khiếu nại hoặc báo cáo sai sót trong vòng 20 ngày kể từ ngày niêm yết. Cơ quan lập danh sách phải giải quyết trong vòng 3 ngày. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết, người dân có quyền khiếu nại lên Tòa án nhân dân cấp huyện, quyết định của Tòa án là quyết định cuối cùng.
- Thay đổi nơi cư trú: Cử tri chuyển nơi cư trú từ khi công bố danh sách đến ngày bầu cử được cấp giấy chứng nhận để ghi tên và bỏ phiếu tại nơi cư trú mới.
2. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
- HĐND thị trấn và xã: Miền xuôi có từ 2.000 nhân khẩu trở xuống được bầu 20 đại biểu, cứ thêm 200 nhân khẩu được bầu thêm 1 đại biểu (tối đa 35 đại biểu). Miền núi và hải đảo có từ 700 nhân khẩu trở xuống được bầu 20 đại biểu, cứ thêm từ 150 đến 200 nhân khẩu được bầu thêm 1 đại biểu (tối đa 35 đại biểu). Xã trên 6.000 nhân khẩu có thể bầu tới 40 đại biểu. Xã dưới 300 nhân khẩu có thể bầu dưới 20 đại biểu.
- HĐND khu phố: Có từ 20.000 nhân khẩu trở xuống bầu 30 đại biểu, cứ thêm 2.500 nhân khẩu được bầu thêm 1 đại biểu (tối đa 50 đại biểu).
- HĐND thị xã: Có từ 10.000 nhân khẩu trở xuống bầu 30 đại biểu, cứ thêm 1.500 nhân khẩu được bầu thêm 1 đại biểu (tối đa 50 đại biểu).
- HĐND huyện và châu: Huyện miền xuôi dưới 50.000 nhân khẩu bầu 35 đại biểu, cứ thêm 4.000 nhân khẩu bầu thêm 1 đại biểu (tối đa 50 đại biểu). Châu và huyện miền núi, hải đảo dưới 10.000 nhân khẩu bầu 30 đại biểu, cứ thêm từ 1.500 đến 20.000 nhân khẩu bầu thêm 1 đại biểu (tối đa 50 đại biểu).
- HĐND tỉnh: Tỉnh miền xuôi dưới 250.000 nhân khẩu bầu 50 đại biểu, cứ thêm 20.000 nhân khẩu bầu thêm 1 đại biểu (tối đa 120 đại biểu). Tỉnh miền núi dưới 80.000 nhân khẩu bầu 50 đại biểu, cứ thêm 10.000 nhân khẩu bầu thêm 1 đại biểu (tối đa 120 đại biểu).
- HĐND thành phố: Dưới 60.000 nhân khẩu bầu 50 đại biểu, cứ thêm 10.000 nhân khẩu bầu thêm 1 đại biểu (tối đa 140 đại biểu).
- HĐND khu tự trị: Cứ từ 2.000 đến 10.000 nhân khẩu bầu 1 đại biểu (tối đa 150 đại biểu). Khu Hồng Quảng áp dụng như cấp thành phố; khu vực Vĩnh Linh áp dụng như tỉnh miền xuôi.
- Chính sách ưu tiên: Chính phủ có thể châm chước tỷ lệ đại biểu đối với các địa phương có nhiều dân tộc thiểu số sống xen kẽ, khu công nghiệp tập trung hoặc nông trường để bảo đảm cơ cấu đại biểu thích đáng.
3. Đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu
- Đơn vị bầu cử: Đại biểu HĐND được bầu theo các đơn vị bầu cử được phân chia dựa trên địa giới hành chính (thôn, liên xóm, đường phố, tiểu khu, xã, huyện, thị xã...). Đơn vị bầu cử nào được bầu từ 10 đại biểu trở lên có thể chia thành nhiều đơn vị bầu cử nhỏ hơn. Danh sách đơn vị bầu cử và số đại biểu phải được công bố chậm nhất là 40 ngày trước ngày bầu cử.
- Khu vực bỏ phiếu: Mỗi đơn vị bầu cử được chia thành các khu vực bỏ phiếu từ 500 đến 2.500 nhân khẩu để thuận tiện cho người dân. Vùng miền núi, hải đảo có thể thành lập khu vực bỏ phiếu dưới 500 nhân khẩu. Các bệnh viện, nhà dưỡng lão, nhà tàn tật có từ 50 cử tri trở lên được tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng. Lực lượng quân đội và công an nhân dân vũ trang cũng tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng.
4. Các tổ chức phụ trách bầu cử
- Hội đồng bầu cử (thành lập trước 40 ngày): Gồm từ 7 đến 21 thành viên đại diện cho các chính đảng và đoàn thể. Có nhiệm vụ kiểm tra việc thi hành luật lệ, giải quyết khiếu nại, tiếp nhận hồ sơ ứng cử, lập và công bố danh sách ứng cử viên, phân phối phiếu bầu và tuyên bố kết quả bầu cử.
- Ban bầu cử (thành lập trước 30 ngày tại mỗi đơn vị bầu cử): Gồm từ 5 đến 15 thành viên, có nhiệm vụ đôn đốc các Tổ bầu cử, kiểm tra danh sách cử tri, phân phối phiếu bầu và lập biên bản xác định kết quả bầu cử của đơn vị mình.
- Tổ bầu cử (thành lập trước 20 ngày tại mỗi khu vực bỏ phiếu): Gồm từ 5 đến 11 thành viên (đối với quân đội là từ 5 đến 9 thành viên), phụ trách trực tiếp công tác bỏ phiếu, bảo đảm trật tự phòng bỏ phiếu, phát phiếu, kiểm phiếu và lập biên bản kiểm phiếu.
- Hội đồng giám sát bầu cử cấp xã, thị trấn: Được thành lập ở cấp huyện để hướng dẫn, kiểm tra và giám sát công tác bầu cử tại các xã, thị trấn.
- Nguyên tắc hoạt động: Các tổ chức phụ trách bầu cử không được vận động bầu cử cho bất kỳ ứng cử viên nào và tự giải thể sau khi cuộc bầu cử kết thúc. Người ứng cử không được tham gia vào các tổ chức phụ trách bầu cử này.
5. Thủ tục ứng cử và vận động bầu cử
- Quyền ứng cử: Các chính đảng, đoàn thể có thể giới thiệu người ứng cử độc lập hoặc liên hiệp giới thiệu. Cá nhân có quyền tự ứng cử. Mỗi người chỉ được đăng ký ứng cử tại một đơn vị bầu cử duy nhất.
- Nộp hồ sơ và công bố danh sách: Hồ sơ ứng cử phải nộp cho Hội đồng bầu cử chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử. Danh sách ứng cử viên phải được công bố chậm nhất là 20 ngày trước ngày bầu cử. Mọi khiếu nại về danh sách ứng cử viên phải được giải quyết trong vòng 3 ngày và quyết định của Hội đồng bầu cử là chung thẩm.
- Vận động bầu cử: Các tổ chức và công dân có quyền tự do cổ động cho người ứng cử thông qua mít tinh, hội nghị, báo chí và các hình thức hợp pháp khác. Ứng cử viên có quyền tự do cổ động cho bản thân trong phạm vi pháp luật cho phép.
6. Thể thức bỏ phiếu và ngày bầu cử
- Thời gian tổ chức: Cuộc bầu cử phải được tiến hành trong khoảng thời gian từ 2 tháng trước đến 1 tháng sau khi HĐND khóa trước hết nhiệm kỳ. Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật hoặc ngày nghỉ, được công bố trước ít nhất 60 ngày.
- Thời gian bỏ phiếu: Diễn ra liên tục từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối (có thể bắt đầu sớm hơn hoặc kéo dài nhưng không quá 10 giờ đêm).
- Quy trình bỏ phiếu: Cử tri phải tự mình đi bầu, không được nhờ người khác bầu thay hoặc gửi thư. Cử tri không biết chữ hoặc tàn tật có thể nhờ người viết hộ hoặc bỏ phiếu hộ vào hòm phiếu. Đối với cử tri đau ốm, già yếu, Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ đến tận chỗ ở. Việc viết phiếu phải bảo đảm bí mật tuyệt đối. Nghiêm cấm mọi hành vi tuyên truyền, cổ động tại phòng bỏ phiếu.
7. Kiểm phiếu và xác định kết quả bầu cử
- Quy trình kiểm phiếu: Việc kiểm phiếu được thực hiện công khai tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi kết thúc bỏ phiếu, dưới sự chứng kiến của hai cử tri không phải là người ứng cử. Ứng cử viên, người đại diện hợp pháp và phóng viên được quyền chứng kiến.
- Phiếu không hợp lệ: Là phiếu không theo mẫu quy định, không có dấu của Tổ bầu cử, hoặc ghi số lượng ứng cử viên vượt quá số đại biểu được bầu.
- Tiêu chuẩn trúng cử: Người trúng cử phải đạt được trên một nửa (trên 50%) số phiếu bầu hợp lệ và được xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp. Trường hợp số phiếu ngang nhau thì người nhiều tuổi hơn sẽ trúng cử.
- Bầu thêm và bầu lại:
- Bầu thêm: Tiến hành trong vòng 15 ngày nếu cuộc bầu cử đầu tiên chưa bầu đủ số lượng đại biểu quy định.
- Bầu lại: Tiến hành trong vòng 15 ngày nếu số cử tri đi bầu tại đơn vị bầu cử đạt dưới một nửa (dưới 50%) tổng số cử tri trong danh sách.
- Công bố kết quả: Hội đồng bầu cử lập biên bản tổng kết và công bố kết quả bầu cử chậm nhất từ 5 đến 20 ngày tùy theo cấp HĐND. Trong phiên họp đầu tiên, HĐND sẽ thành lập Ban thẩm tra tư cách đại biểu để xác nhận tư cách đại biểu của cấp mình.
8. Xử lý vi phạm pháp luật về bầu cử
- Hành vi cản trở bầu cử: Người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại đến quyền tự do bầu cử, ứng cử của công dân sẽ bị cảnh cáo hoặc phạt tù đến 2 năm.
- Hành vi gian lận của nhân viên bầu cử: Thành viên các tổ chức phụ trách bầu cử hoặc nhân viên chính quyền có hành vi giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc làm sai lệch kết quả bầu cử sẽ bị cảnh cáo hoặc phạt tù đến 3 năm.
- Bảo vệ người tố cáo: Mọi công dân có quyền và bổn phận tố cáo các hành vi trái pháp luật trong bầu cử. Người nào cản trở hoặc trả thù người tố cáo sẽ bị xử lý nghiêm khắc, mức phạt tù cao nhất là 3 năm.
- Hủy bỏ kết quả: Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền quyết định hủy bỏ cuộc bầu cử tại địa phương nếu phát hiện có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng và Chính phủ sẽ ấn định ngày bầu cử lại.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp năm 1961 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành và chính thức thay thế cho Sắc luật số 004-SLt ngày 20 tháng 7 năm 1957.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 1/LCT | Hà Nội, ngày 18 tháng 01 năm 1961 |
Căn cứ vào Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà;
Để nhân dân sử dụng quyền làm chủ nước nhà và xây dựng cơ quan quyền lực Nhà nước của mình ở địa phương,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp như sau:
Việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và từ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Công dân đang ở trong quân đội có quyền bầu cử và ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo điều 2 của pháp lệnh này.
Những người bị toà án hoặc pháp luật tước quyền bầu cử, ứng cử và những người mất trí không có quyền bầu cử và ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Kinh phí về tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp do ngân sách Nhà nước chịu.
Lúc lập danh sách cử tri, những công dân có quyền bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đều được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi cư trú.
Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri.
Danh sách cử tri do cáC Uỷ ban hành chính thị xã, khu phố, thị trấn, xã lập theo khu vực bỏ phiếu.
Danh sách cử tri ở các đơn vị quân đội và công an nhân dân vũ trang do các ban chỉ huy đơn vị quân đội và công an nhân dân vũ trang lập cho mỗi khu vực bỏ phiếu.
Chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử, phải niêm yết danh sách cử tri tại trụ sở các Uỷ ban hành chính thị xã, khu phố, thị trấn, xã hoặc ở những nơi công cộng của khu vực bỏ phiếu. Đồng thời phải thông báo cho nhân dân biết việc niêm yết đó để nhân dân tham gia kiểm tra danh sách.
Khi kiểm tra danh sách cử tri, nếu thấy có sai lầm, thiếu sót thì trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày niêm yết, nhân dân có quyền khiếu nại hoặc báo cáo bằng giấy hay là bằng miệng với cơ quan lập danh sách. Cơ quan lập danh sách cử tri phải ghi vào một quyển sổ những điều khiếu nại và báo cáo. Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại và báo cáo, cơ quan lập danh sách phải giải quyết.
Nếu người khiếu nại hoặc báo cáo chưa đồng ý về cách giải quyết đó, thì có quyền khiếu nại lên Toà án nhân dân huyện, châu, thị xã, khu phố hoặc thành phố. Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được khiếu, các Toà án nhân dân nói trên phải giải quyết; quyết định của Toà án nhân dân là quyết định cuối cùng.
Từ khi công bố danh sách cử tri cho đến ngày bầu cử, nếu cử tri nào đổi nơi cư trú thì có quyền xin giấy chứng nhận của Uỷ ban hành chính nơi cư trú để được ghi tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu nơi cư trú mới. Khi cấp giấy chứng nhận, Uỷ ban hành chính phải ghi ngay vào danh sách cử tri bên cạnh tên người cử tri đó: "đi bỏ phiếu nơi khác".
SỐ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP
- Nay quy định số đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp như sau:
1. Hội đồng nhân dân thị trấn và xã.
Thị trấn và xã miền xuôi có từ 2.000 nhân khẩu trở xuống bầu cử 20 đại biểu; có trên 2.000 nhân khẩu, thì ngoài số 20 đại biểu tính cho 2.000 nhân khẩu đầu tiên, cứ thêm 200 nhân khẩu thì được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 35 đại biểu.
2. Hội đồng nhân dân khu phố.
Khu phố có từ 20.000 nhân khẩu trở xuống bầu cử 30 đại biểu; có trên 20.000 nhân khẩu, thì ngoài số 30 đại biểu tính cho 20.000 nhân khẩu đầu tiên, cứ thêm 2.500 nhân khẩu thì được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 50 đại biểu.
3. Hội đồng nhân dân thị xã.
Thị xã có từ 10.000 nhân khẩu trở xuống bầu cử 30 đại biểu; có trên 10.000 nhân khẩu, thì ngoài số 30 đại biểu tính cho 10.000 nhân khẩu đầu tiên, cứ thêm 1.500 nhân khẩu thì được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 50 đại biểu.
4. Hội đồng nhân dân huyện và châu.
5. Hội đồng nhân dân tỉnh.
Tỉnh miền xuôi có từ 250.000 nhân khẩu trở xuống bầu cử 50 đại biểu; có trên 250.000 nhân khẩu, thì ngoài số 50 đại biểu tính cho 250.000 nhân khẩu đầu tiên, cứ thêm 20.000 nhân khẩu thì được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 120 đại biểu.
6. Hội đồng nhân dân thành phố.
Thành phố có từ 60.000 nhân khẩu trở xuống bầu cử 50 đại biểu; có trên 60.000 nhân khẩu, thì ngoài số 50 đại biểu tính cho 60.000 nhân khẩu đầu tiên, cứ thêm 10.000 nhân khẩu thì được bầu thêm 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 140 đại biểu.
7. Hội đồng nhân dân khu tự trị.
Khu tự trị tuỳ theo tình hình dân số và dân tộc ở từng nơi, cứ từ 2.000 đến 10.000 nhân khẩu thì bầu cử 1 đại biểu, nhưng tổng số không được quá 150 đại biểu.
8. Hội đồng nhân dân khu Hồng Quảng và khu vực Vĩnh Linh.
Số đại biểu Hội đồng nhân dân khu Hồng Quảng quy định như đối với các thành phố.
Số đại biểu Hội đồng nhân dân khu vực Vĩnh Linh quy định như đối với các tỉnh miền xuôi.
Đối với các địa phương có nhiều dâN tộc thiểu số sống xen kẽ, có các khu vực công nghiệp tập trung hoặc nông trường, để cho các dân tộc thiểu số và công nhân có số đại biểu thích đáng trong Hội đồng nhân dân, Chính phủ có thể châm chước các tỷ lệ nói trên trong phạm vi mức tối đa đã quy định.
ĐƠN VỊ BẦU CỬ VÀ KHU VỰC BỎ PHIẾU
Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được bầu theo đơn vị bầu cử.
Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân xã là thôn hay là liên xóm.
Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn là đường phố hay là liên xóm.
Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị xã là liên tiểu khu hay là liên xã (nếu có xã ngoại thị).
Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân khu phố là tiểu khu hay là liên tiểu khu.
Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, châu là xã hay là liên xã và thị trấn.
Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh là huyện, thị xã và thành phố (nếu có thành phố thuộc tỉnh).
Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố là khu phố ở nội thành và huyện ở ngoại thành.
Đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân khu tự trị là huyện hoặc liên huyện, châu và thị xã.
Trong các đơn vị nói trên, đơn vị nào được bầu từ 10 đại biểu trở lên thì có thể chia thành hai đơn vị bầu cử hoặc nhiều hơn.
Số đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương và tỉnh trực thuộc trung ương, danh sách các đơn vị và số đại biểu cho mỗi đơn vị do Uỷ ban hành chính khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương và tỉnh trực thuộc trung ương đề nghị, Chính phủ duyệt y.
Số đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh trực thuộc, khu tự trị, huyện, châu, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, khu phố, thị trấn, xã, danh sách các đơn vị và số đại biểu cho mỗi đơn vị do Uỷ ban hành chính cùng cấp đề nghị, Uỷ ban hành chính cấp trên trực tiếp duyệt y.
Các đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào phải được Uỷ ban hành chính cấp ấy công bố chậm nhất là 40 ngày trước ngày bầu cử.
Để nhân dân đi bỏ phiếu được thuận tiện, mỗi đơn vị bầu cử có thể chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu, mỗi khu vực bao gồm từ 500 đến 2.500 nhân khẩu.
Các bệnh viện, nhà đỡ đẻ, nhà an dưỡng, nhà nuôi người tàn tật có từ 50 cử tri trở lên, thì có thể tổ chức thành khu vực bỏ phiếu riêng.
Việc chia khu vực bỏ phiếu do các Uỷ ban hành chính thị xã, khu phố, thị trấn, xã định và phải được Uỷ ban hành chính cấp trên trực tiếp phê chuẩn.
Các đơn vị quân đội và công an nhân dân vũ trang sẽ tổ chức thành khu vực bỏ phiếu riêng.
Những tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi cấp gồm có: Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử.
Riêng đối với việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã, thì ngoài những tổ chức nói trên, ở cấp huyện, châu, thành phố thuộc tỉnh, thị xã có thể thành lập Hội đồng giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã để giúp đỡ và hướng dẫn cho cuộc bầu cử ở thị trấn và xã tiến hành được tốt.
Hội đồng bầu cử.
Chậm nhất là 40 ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào, thì Uỷ ban hành chính cấp ấy thành lập một Hội đồng bầu cử gồm đại biểu các chính đảng và các đoàn thể trong địa phương, để:
a) Kiểm tra và đôn đốc việc thi hành luật lệ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong địa phương;
b) Xét và giải quyết những khiếu nại của nhân dân về công tác của các Ban bầu cử và Tổ bầu cử;
c) Tiếp nhận đơn ứng cử, lập và niêm yết danh sách những người ứng cử, xét và giải quyết những khiếu nại về việc lập danh sách người ứng cử;
d) Tiếp nhận phiếu bầu cử của Uỷ ban hành chính cùng cấp, để phân phối cho các ban bầu cử, chậm nhất là 10 ngày trước ngày bầu cử;
đ) Tiếp nhận và kiểm tra biên bản bầu cử do các Ban bầu cử gửi đến, làm biên bản ghi kết quả cuộc bầu cử trong địa phương;
e) Tuyên bố kết quả cuộc bầu cử;
g) Chuyển giao Uỷ ban hành chính cùng cấp biên bản tổng kết bầu cử và những hồ sơ tài liệu về cuộc bầu cử.
Hội đồng bầu cử gồm từ 7 đến 21 người. Hội đồng bầu ra một chủ tịch, một hoặc nhiều phó chủ tịch và một hoặc nhiều thư ký.
Danh sách Hội đồng bầu cử cấp khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương và tỉnh trực thuộc trung ương phải được Chính phủ phê chuẩn.
Danh sách Hội đồng bầu cử các cấp khác phải được Uỷ ban hành chính cấp trên trực tiếp phê chuẩn.
Ban bầu cử.
Chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào, thì Uỷ ban hành chính cấp ấy thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử một Ban bầu cử gồm đại biểu các chính đảng, các đoàn thể nhân dân trong địa phương, để:
a) Kiểm tra và đôn đốc các Tổ bầu cử chấp hành đúng luật lệ bầu cử;
b) Kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri;
c) Tiếp nhận phiếu bầu cử của Hội đồng bầu cử để phân phối cho các Tổ bầu cử chậm nhất là 7 ngày trước ngày bầu cử;
d) Kiểm tra và đôn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu;
đ) Kiểm tra công việc bầu cử tại các phòng bỏ phiếu;
e) Tiếp nhận và kiểm tra biên bản kiểm phiếu do các Tổ bầu cử gửi đến, làm biên bản ghi kết quả bầu cử trong đơn vị để gửi lên Hội đồng bầu cử.
Ban bầu cử gồm từ 5 đến 15 người. Ban bầu cử bầu ra một trưởng ban, một hoặc nhiều phó ban và một hoặc nhiều thư ký.
Tổ bầu cử.
a) Phụ trách công tác bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;
b) Bố trí phòng bỏ phiếu và chuẩn bị hòm bỏ phiếu;
c) Phát phiếu bầu cử có đóng dấu của Tổ bầu cử cho các cử tri;
d) Bảo đảm trật tự trong phòng bỏ phiếu;
đ) Kiểm phiếu và làm biên bản kiểm phiếu để gửi lên Ban bầu cử;
Tổ bầu cử gồm từ 5 đến 11 người. Tổ bầu cử bầu ra một tổ trưởng, một tổ phó và một hoặc nhiều thư ký.
Các đơn vị quân đội và công an nhân dân vũ trang thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử gồm từ 5 đến 9 đại biểu của quân đội hoặc của công an nhân dân vũ trang, thời hạn thành lập và nhiệm vụ quyền hạn như trên.
Hội đồng giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã.
Trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã, Uỷ ban hành chính huyện, châu, thành phố thuộc tỉnh, thị xã có thể thành lập Hội đồng giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã ở huyện, châu, thành phố thuộc tỉnh hoặc thị xã gồm đại biểu các chính đảng và các đoàn thể nhân dân trong địa phương, để:
a) Hướng dẫn và kiểm tra việc thi hành luật lệ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã trong địa phương;
b) Tiếp nhận và kiểm tra biên bản bầu cử do các Hội đồng bầu cử thị trấn và xã gửi lên;
c) Xét và giải quyết những khiếu nại về công tác của Hội đồng bầu cử thị trấn và xã.
Hội đồng giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã gồm từ 7 đến 15 người. Hội đồng bầu ra một chủ tịch, một hoặc nhiều phó chủ tịch và một hoặc nhiều thư ký.
Danh sách Hội đồng giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã phải được Uỷ ban hành chính cấp trên trực tiếp phê chuẩn.
Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử và Hội đồng giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã không được vận động bầu cử cho những người ra ứng cử. Những tổ chức đó hết nhiệm vụ sau khi cuộc bầu cử kết thúc.
Mỗi khi có cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, các chính đảng, các đoàn thể nhân dân có thể riêng biệt hoặc liên hiệp giới thiệu người ra ứng cử. Cá nhân có quyền tự ra ứng cử.
Mỗi người ứng cử chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử.
Người ứng cử không được tham gia vào Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử và Hội đồng giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã.
Chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử, các chính đảng, các đoàn thể nhân dân giới thiệu người ra ứng cử phải nộp tại Hội đồng bầu cử:
1. Giấy giới thiệu người ứng cử;
2. Giấy chứng nhận người ứng cử có đủ điều kiện ứng cử;
3. Đơn ứng cử của những người được giới thiệu có ghi tên, tuổi, nghề nghiệp, nguyên quán, địa chỉ, nơi ra ứng cử.
Chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử, cá nhân tự ra ứng cử phải nộp tại Hội đồng bầu cử đơn ứng cử và giấy chứng nhận có đủ điều kiện ứng cử.
Khi nhận đơn ứng cử, Hội đồng bầu cử phải cấp giấy biên nhận.
Khi hết hạn nộp đơn ứng cử, Hội đồng bầu cử phải lập danh sách những người ứng cử theo từng đơn vị bầu cử và công bố danh sách đó ít nhất là 20 ngày trước ngày bầu cử.
Kể từ ngày danh sách người ứng cử được công bố, ai thấy trong danh sách có sai lầm, thiếu sót thì có quyền khiếu nại hoặc báo cáo bằng giấy hay là bằng miệng với Hội đồng bầu cử, Hội đồng bầu cử phải ghi những khiếu nại và báo cáo ấy vào một quyển sổ. Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại và báo cáo, Hội đồng bầu cử phải giải quyết; quyết định của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng.
Các chính đảng, các đoàn thể nhân dân, cũng như mỗi công dân Việt Nam đều có quyền, trong phạm vi pháp luật, tự do cổ động bằng mít tinh, hội nghị, báo chí và mọi hình thức khác để giới thiệu người ứng cử.
Người ứng cử có quyền tự do cổ động cho bản thân mình trong phạm vi pháp luật.
Việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải tiến hành trong khoảng thời gian từ 2 tháng trước đến 1 tháng sau khi Hội đồng nhân dân khoá trước hết nhiệm kỳ.
Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật hoặc ngày nghỉ, và phải được ấn định và công bố ít nhất là 60 ngày trước khi bầu cử.
Chính phủ ấn định ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương và tỉnh trực thuộc trung ương và ấn định thời gian tiến hành bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp khác.
Căn cứ vào đó,
- Uỷ ban hành chính khu tự trị Việt Bắc ấn định ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh ở khu tự trị;
- Uỷ ban hành chính khu tự trị Thái - Mèo ấn định ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân châu, thị xã, thị trấn, xã ở khu tự trị;
- Uỷ ban hành chính thành phố trực thuộc trung ương, Uỷ ban hành chính tỉnh ấn định ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, khu phố, thị trấn, xã.
Trường hợp đặc biệt không thể tiến hành bầu cử trong thời gian đã quy định ở điều 32 thì Chính phủ phải báo cáo với Uỷ ban thường vụ Quốc hội và đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xét định.
Trong thời hạn 15 ngày trước ngày bầu cử, Tổ bầu cử phải thường xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu và thời gian bỏ phiếu bằng niêm yết, phát thanh và bằng mọi phương tiện thông thường của địa phương.
Cuộc bỏ phiếu tiến hành từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối. Tuỳ tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn giờ quy định, nhưng không được kéo dài quá 10 giờ đêm.
Cử tri phải tự mình đi bầu, không được nhờ người bầu thay, không được bầu bằng cách gửi thư.
Mỗi cử tri chỉ có quyền bỏ một phiếu.
Cử tri không biết chữ hoặc tàn tật không tự viết phiếu được, thì có thể nhờ người viết hộ, nhưng phải tự bỏ phiếu; nếu vì tàn tật mà không tự bỏ phiếu được, thì cử tri có thể nhờ người bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Lúc cử tri viết phiếu, không ai được đến gần để xem, kể cả nhân viên Tổ bầu cử.
Nếu viết hỏng, cử tri có thể đề nghị Tổ bầu cử đổi cho một phiếu khác.
Cấm tuyên truyền cổ động cho người ứng cử tại phòng bỏ phiếu.
Để bảo đảm trật tự cho việc bỏ phiếu, mọi người đều phải tuân theo nội quy của phòng bỏ phiếu.
Khi đã hết giờ bỏ phiếu mà còn một số cử tri có mặt ở phòng bỏ phiếu chưa kịp bỏ phiếu, thì cần để cho số cử tri đó bỏ phiếu xong rồi mới tuyên bố kết thúc cuộc bỏ phiếu.
Trong ngày bầu cử, cuộc bỏ phiếu phải tiến hành liên tục. Nếu có trường hợp bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu, thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong các giấy tờ và hòm phiếu lại rồi báo cáo cho Ban bầu cử biết, đồng thời phải khắc phục khó khăn để tiếp tục cuộc bỏ phiếu.
Nếu vì lý do đặc biệt cần hoãn ngày bỏ phiếu, thì Tổ bầu cử phải kịp thời báo cho Ban bầu cử biết để đề nghị Hội đồng bầu cử xét định.
Phiếu bầu phải được đếm và kiểm soát tại phòng bỏ phiếu. Lúc kiểm phiếu, Tổ bầu cử phải mời hai cử tri không ra ứng cử có mặt tại đó để chứng kiến.
Người ứng cử hoặc người được uỷ nhiệm thay mặt người ứng cử và các phóng viên báo chí, điện ảnh, nhiếp ảnh được vào xem kiểm phiếu.
Những phiếu sau đây là không hợp lệ:
1. Không phải là phiếu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát;
2. Không có dấu của Tổ bầu cử;
3. Ghi tên người ứng cử quá số đại biểu được bầu.
Trong trường hợp phiếu bầu có ghi tên một hay nhiều người không ra ứng cử, thì tên những người này không được tính.
Tổ bầu cử không được xoá hoặc chữa các tên ghi trên phiếu bầu.
Khi nghi ngờ phiếu nào không hợp lệ thì tổ trưởng Tổ bầu cử đưa ra toàn Tổ giải quyết.
Những khiếu nại tại chỗ về việc kiểm phiếu do Tổ bầu cử tiếp nhận, giải quyết và ghi cách giải quyết vào biên bản. Nếu Tổ bầu cử không giải quyết được thì phải đưa lên Ban bầu cử để giải quyết.
Kiểm phiếu xong, Tổ bầu cử phải lập biên bản trong đó có ghi:
- Tổng số cử tri;
- Số cử tri đã đi bầu;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu trắng;
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
- Những khiếu nại và cách giải quyết, những khiếu nại chưa được giải quyết.
Biên bản làm thành hai bản có chữ ký của tổ trưởng, thư ký và hai cử tri được mời chứng kiến cuộc kiểm phiếu. Một bản gửi đến Ban bầu cử, một ban gửi đến Uỷ ban hành chính thị xã, khu phố, thị trấn hoặc xã.
Mục 2: KẾT QUẢ BẦU CỬ Ở ĐƠN VỊ BẦU CỬ;
Sau khi nhận được biên bản của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và xác định kết quả bầu cử của các khu vực bỏ phiếu thuộc đơn vị bầu cử của mình.
Biên bản phải ghi rõ:
- Số đại biểu Hội đồng nhân dân ấn định cho đơn vị bầu cử;
- Số người ứng cử;
- Tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử;
- Số cử tri đã đi bầu, số cử tri không đi bầu, tỷ lệ số cử tri đã đi bầu so với tổng số cử tri;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu trắng;
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
- Danh sách những người trúng cử;
- Những khiếu nại do Tổ bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại do Ban bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại chuyển lên cấp trên để giải quyết.
Biên bản làm thành hai bản có chữ ký của trưởng ban, phó trưởng ban và thư ký. Một bản gửi lên Hội đồng bầu cử, một bản gửi lên Uỷ ban hành chính cùng cấp với Ban bầu cử.
Những người ứng cử được quá nửa số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn thì trúng cử; nếu có nhiều người được số phiếu ngang nhau thì người nhiều tuổi hơn được trúng cử.
Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử chưa đủ số đại biểu đã quy định, thì Ban bầu cử phải ghi rõ điểm này vào biên bản và báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để quyết định ngày bầu thêm số đại biểu còn thiếu, chậm nhất không được quá 15 ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu thêm, cử tri chỉ chọn bầu trong số người đã ra ứng cử nhưng không trúng cử kỳ đầu.
Trong mỗi đơn vị bầu cử, nếu số phiếu bầu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách thì Ban bầu cử phải ghi rõ điểm này vào biên bản và báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để quyết định ngày bầu lại, chậm nhất không được quá 15 ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu trong số người đã ra ứng cử kỳ đầu.
Việc bầu lại hoặc bầu thêm vẫn theo danh sách cử tri đã được sắp xếp trong cuộc bầu cử đầu tiên và phải theo những điều đã được quy định trong pháp lệnh này.
Sau khi nhận được biên bản của các Ban bầu cử và giải quyết những khiếu nại nếu có, Hội đồng bầu cử làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử.
Hội đồng bầu cử tuyên bố kết quả cuộc bầu cử chậm nhất là:
- 5 ngày sau ngày bầu cử đối với Hội đồng nhân dân thị trấn, khu phố, thị xã và xã;
- 7 ngày sau ngày bầu cử đối với Hội đồng nhân dân huyện miền xuôi;
- 12 ngày sau ngày bầu cử đối với Hội đồng nhân dân tỉnh ở khu tự trị và ở miền núi;
- 20 ngày sau ngày bầu cử đối với Hội đồng nhân dân khu tự trị.
Biên bản tổng kết ghi rõ:
- Tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân;
- Tổng số người ứng cử;
- Tổng số cử tri;
- Số cử tri đã đi bầu, số cử tri không đi bầu, tỷ lệ số cử tri đã đi bầu so với tổng số cử tri;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu trắng;
- Danh sách những người trúng cử và số phiếu bầu cho mỗi người trúng cử;
- Các việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết.
Biên bản làm thành hai bản có chữ ký của chủ tịch, các phó chủ tịch và thư ký của Hội đồng bầu cử; một bản gửi đến Uỷ ban hành chính cấp bầu Hội đồng nhân dân; một bản gửi lên Uỷ ban hành chính cấp trên trực tiếp. Nếu là cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương và tỉnh trực thuộc trung ương thì gửi biên bản lên Chính phủ; nếu là cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã thì ngoài biên bản gửi lên Uỷ ban hành chính cấp trên trực tiếp, còn phải gửi một bản cho Hội đồng giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã.
Sau khi kiểm tra biên bản của Hội đồng bầu cử thị trấn, xã và giải quyết những khiếu nại nếu có, Hội đồng giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã làm bản nhận xét gửi đến Uỷ ban hành chính cùng cấp kèm theo hồ sơ.
Trong phiên họp đầu tiên, Hội đồng nhân dân cử ra Ban thẩm tra tư cách đại biểu.
Căn cứ vào báo cáo của Ban thẩm tra tư cách đại biểu, Hội đồng nhân dân quyết định xác nhận tư cách đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình.
Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định huỷ bỏ cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nào có những điều không hợp pháp nghiêm trọng. Chính phủ ấn định ngày bầu cử lại Hội đồng nhân dân ấy.
HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI VI PHẠM QUYỀN TỰ DO BẦU CỬ VÀ ỨNG CỬ
Người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại đến quyền tự do bầu cử và ứng cử của công dân, thì tuỳ mức độ nặng nhẹ mà có thể bị cảnh cáo hoặc bị phạt tù, nặng nhất là 2 năm.
Nhân viên nào trong các Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử, Hội đồng giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thị trấn và xã, và nhân viên nào trong các tổ chức chính quyền phạm tội giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng mọi thủ đoạn khác để làm sai lạc kết quả cuộc bầu cử, thì tuỳ mức độ nặng nhẹ mà có thể bị cảnh cáo hoặc bị phạt tù, nặng nhất là 3 năm.
Mọi người đều có quyền và có bổn phận tố cáo các việc làm trái phép trong lúc bầu cử. Ai cản trở hoặc trả thù người tố cáo, thì tuỳ mức độ nặng nhẹ mà có thể bị cảnh cáo hoặc bị phạt tù, nặng nhất là 3 năm.
Pháp lệnh này thay cho sắc luật số 004-SLt ngày 20 tháng 7 năm 1957.
| Hồ Chí Minh (Đã ký) |
- 1Chỉ thị 31/CT-TW năm 2003 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 Bộ Chính trị ban hành
- 2Quyết định 64-CP năm 1963 về việc định lại thời gian bầu cử Hội đồng nhân dân các huyện Quỳ châu, Quế phong, Quỳ hợp thuộc tỉnh Nghệ an do Hội Đồng Chính Phủ ban hành
- 3Quyết định 24-CP năm 1974 về việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4Sắc luật số 004/SLT về việc về bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp do Chủ tịch nước ban hành
- 5Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1983
- 1Sắc luật số 004/SLT về việc về bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp do Chủ tịch nước ban hành
- 2Pháp lệnhQuy định một số điểm về bầu cử và tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp trong thời chiến năm 1967
- 3Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp năm 1981
- 4Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1983
- 1Chỉ thị 31/CT-TW năm 2003 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 Bộ Chính trị ban hành
- 2Thông tư 09-NV năm 1961 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh về bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp do Bộ Nội vụ ban hành
- 3Quyết định 64-CP năm 1963 về việc định lại thời gian bầu cử Hội đồng nhân dân các huyện Quỳ châu, Quế phong, Quỳ hợp thuộc tỉnh Nghệ an do Hội Đồng Chính Phủ ban hành
- 4Quyết định 24-CP năm 1974 về việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 5Hiến pháp năm 1959
Pháp lệnh bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp năm 1961
- Số hiệu: 1/LCT
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 18/01/1961
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Hồ Chí Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 3
- Ngày hiệu lực: 23/01/1961
- Ngày hết hiệu lực: 02/01/1984
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
