Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 1983 quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục bầu cử, bầu cử bổ sung và bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Văn bản này áp dụng đối với mọi công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các cơ quan Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội trong việc thực hiện và tổ chức quyền bầu cử, ứng cử.
- Nguyên tắc bầu cử và tiêu chuẩn đại biểu
- Nguyên tắc bầu cử: Việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo bốn nguyên tắc cốt lõi bao gồm phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
- Quyền bầu cử và ứng cử: Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có thể được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân. Quy định này áp dụng không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp hay thời hạn cư trú. Những người mất trí hoặc bị pháp luật, Tòa án nhân dân tước quyền bầu cử, ứng cử thì không được thực hiện các quyền này. Công dân đang phục vụ trong Quân đội nhân dân vẫn có đầy đủ quyền bầu cử và ứng cử.
- Tiêu chuẩn đại biểu: Người ứng cử phải trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có thành tích trong sản xuất, công tác hoặc chiến đấu, nhiệt tình phục vụ nhân dân, gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, có trình độ, năng lực thực hiện nhiệm vụ và được nhân dân tín nhiệm.
- Quyền bãi miễn: Cử tri có quyền bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân nếu đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.
- Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
- Cấp xã, phường, thị trấn:
- Xã và thị trấn miền xuôi có từ 2.000 dân trở xuống được bầu 20 đại biểu; trên 2.000 dân thì cứ thêm 250 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 45 đại biểu.
- Xã và thị trấn miền núi, hải đảo có từ 700 dân trở xuống được bầu 20 đại biểu; trên 700 dân thì cứ thêm 200 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 45 đại biểu. Xã dưới 300 dân được bầu 15 đại biểu.
- Phường có từ 2.000 dân trở xuống được bầu 20 đại biểu; trên 2.000 dân thì cứ thêm 400 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 45 đại biểu.
- Cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh:
- Huyện miền xuôi và quận dưới 50.000 dân được bầu 40 đại biểu; trên mức này thì cứ thêm 6.000 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 60 đại biểu.
- Huyện miền núi và hải đảo dưới 20.000 dân được bầu 40 đại biểu; trên mức này thì cứ thêm 2.500 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 60 đại biểu.
- Thị xã dưới 20.000 dân được bầu 40 đại biểu; trên mức này thì cứ thêm 4.000 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 60 đại biểu.
- Thành phố thuộc tỉnh dưới 60.000 dân được bầu 50 đại biểu; trên mức này thì cứ thêm 8.000 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 70 đại biểu.
- Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tương đương:
- Tỉnh miền xuôi dưới 500.000 dân được bầu 70 đại biểu; trên mức này thì cứ thêm 30.000 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 120 đại biểu.
- Tỉnh miền núi dưới 250.000 dân được bầu 70 đại biểu; trên mức này thì cứ thêm 15.000 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 120 đại biểu.
- Thành phố trực thuộc trung ương dưới 500.000 dân được bầu 70 đại biểu; trên mức này thì cứ thêm 20.000 dân được bầu thêm 1 đại biểu, tối đa không quá 120 đại biểu. Riêng Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được bầu không quá 150 đại biểu.
- Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo được bầu 50 đại biểu (Hội đồng Nhà nước có thể quyết định tăng thêm nếu cần).
- Đại diện cơ cấu: Hội đồng bộ trưởng quy định cụ thể để bảo đảm tỷ lệ đại biểu thích đáng cho các dân tộc thiểu số và công nhân tại các khu công nghiệp tập trung.
- Đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu
- Đơn vị bầu cử: Đại biểu được bầu theo đơn vị bầu cử. Mỗi đơn vị bầu cử bầu không quá 3 đại biểu; riêng cấp xã, phường, thị trấn có thể bầu tối đa không quá 5 đại biểu. Số lượng, danh sách đơn vị bầu cử và số đại biểu của mỗi đơn vị do Ủy ban nhân dân cùng cấp ấn định, đề nghị cấp trên trực tiếp phê chuẩn (đối với cấp tỉnh thì do Hội đồng bộ trưởng phê chuẩn) và phải công bố chậm nhất là 40 ngày trước ngày bầu cử.
- Khu vực bỏ phiếu: Mỗi đơn vị bầu cử chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu, quy mô từ 500 đến 4.000 dân. Vùng miền núi, hải đảo hoặc các cơ sở đặc thù (bệnh viện, nhà an dưỡng có từ 50 cử tri trở lên) có thể thành lập khu vực bỏ phiếu riêng. Các đơn vị Quân đội nhân dân cũng tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng. Việc chia khu vực bỏ phiếu do Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định và được Ủy ban nhân dân cấp huyện phê chuẩn.
- Các tổ chức phụ trách bầu cử
- Hội đồng bầu cử: Thành lập chậm nhất 40 ngày trước ngày bầu cử, gồm từ 5 đến 21 thành viên đại diện Mặt trận Tổ quốc, các chính đảng và đoàn thể. Hội đồng bầu cử có nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc việc thi hành luật, giải quyết khiếu nại, nhận đơn ứng cử, lập và công bố danh sách ứng cử viên, nhận và kiểm tra biên bản, tuyên bố kết quả bầu cử.
- Ban bầu cử: Thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử chậm nhất 30 ngày trước ngày bầu cử, gồm từ 5 đến 15 thành viên. Ban bầu cử có nhiệm vụ kiểm tra việc lập danh sách cử tri, phân phối tài liệu, phiếu bầu cho các Tổ bầu cử, kiểm tra phòng bỏ phiếu và lập biên bản xác định kết quả bầu cử tại đơn vị mình.
- Tổ bầu cử: Thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu chậm nhất 20 ngày trước ngày bầu cử, gồm từ 5 đến 11 thành viên. Tổ bầu cử phụ trách việc bố trí phòng bỏ phiếu, phát phiếu bầu, bảo đảm trật tự, kiểm phiếu và lập biên bản kiểm phiếu gửi Ban bầu cử.
- Nguyên tắc hoạt động: Các tổ chức phụ trách bầu cử không được vận động bầu cử cho bất kỳ ứng cử viên nào.
- Danh sách cử tri và thủ tục khiếu nại
- Lập danh sách cử tri: Do Ủy ban nhân dân cấp xã lập theo khu vực bỏ phiếu (đối với quân đội do Ban chỉ huy đơn vị lập). Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri nơi cư trú. Danh sách phải được niêm yết công khai chậm nhất 30 ngày trước ngày bầu cử.
- Giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri: Trong vòng 20 ngày kể từ ngày niêm yết, công dân có quyền khiếu nại về sai sót. Cơ quan lập danh sách phải giải quyết trong vòng 3 ngày. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết, người khiếu nại có quyền kiện lên Tòa án nhân dân cấp huyện. Tòa án phải giải quyết trong vòng 3 ngày và quyết định của Tòa án là quyết định cuối cùng.
- Thay đổi nơi cư trú: Từ khi công bố danh sách đến ngày bầu cử, cử tri chuyển đi nơi khác được cấp giấy chứng nhận để đăng ký bỏ phiếu tại nơi cư trú mới.
- Giới thiệu người ứng cử và vận động bầu cử
- Quy trình hiệp thương: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiến hành hiệp thương lập danh sách người ứng cử trên cơ sở đề cử của các tập thể lao động, chính đảng, đoàn thể và sau khi tham khảo ý kiến cử tri nơi làm việc, nơi cư trú. Người ứng cử phải cư trú hoặc công tác thường xuyên tại địa phương đó.
- Nguyên tắc danh sách ứng cử: Số lượng ứng cử viên ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu. Người ứng cử chỉ được đăng ký tại một đơn vị bầu cử và không được tham gia vào các tổ chức phụ trách bầu cử tại đơn vị đó.
- Nộp hồ sơ và công bố: Hồ sơ ứng cử phải gửi đến Hội đồng bầu cử chậm nhất 25 ngày trước ngày bầu cử. Danh sách ứng cử viên được công bố chậm nhất 20 ngày trước ngày bầu cử. Khiếu nại về danh sách ứng cử viên do Hội đồng bầu cử giải quyết trong vòng 3 ngày và quyết định này là quyết định cuối cùng.
- Vận động bầu cử: Các tổ chức xã hội và mọi công dân có quyền cổ động, giới thiệu người ứng cử theo quy định của pháp luật. Người ứng cử có quyền tự cổ động trong phạm vi pháp luật cho phép.
- Thể thức bỏ phiếu và kiểm phiếu
- Thời gian bỏ phiếu: Ngày bầu cử phải là ngày Chủ nhật hoặc ngày nghỉ, được công bố trước ít nhất 60 ngày. Thời gian bỏ phiếu từ 7 giờ đến 19 giờ cùng ngày (có thể bắt đầu sớm hơn hoặc kéo dài nhưng không quá 22 giờ).
- Nguyên tắc bỏ phiếu: Cử tri phải tự mình đi bầu, không được bầu hộ, bầu bằng thư. Trường hợp không tự viết được phiếu thì nhờ người viết hộ nhưng phải tự bỏ phiếu; nếu tàn tật không bỏ được phiếu thì nhờ người bỏ hộ. Cử tri đau ốm, già yếu được Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ đến tận nhà. Khi cử tri viết phiếu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử.
- Quy trình kiểm phiếu: Việc kiểm phiếu tiến hành công khai tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi kết thúc bỏ phiếu, có sự chứng kiến của hai cử tri không phải là người ứng cử. Ứng cử viên và các phóng viên báo chí được chứng kiến việc kiểm phiếu.
- Phiếu không hợp lệ: Phiếu không theo mẫu quy định; phiếu không có dấu của Tổ bầu cử; phiếu ghi số lượng ứng cử viên vượt quá số đại biểu được bầu cho đơn vị đó. Phiếu trắng là phiếu không ghi tên ai hoặc xóa hết tên tất cả ứng cử viên.
- Xác định kết quả bầu cử, bầu thêm và bầu lại
- Điều kiện trúng cử: Người ứng cử phải đạt quá nửa (trên 50%) số phiếu bầu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn. Trường hợp ngang phiếu thì người nhiều tuổi hơn được xác định trúng cử.
- Bầu thêm: Nếu số người trúng cử chưa đủ số lượng đại biểu quy định cho đơn vị bầu cử, Ban bầu cử phải báo cáo Hội đồng bầu cử để tổ chức bầu thêm chậm nhất là 15 ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu thêm, cử tri chỉ chọn trong số những người đã ứng cử nhưng không trúng cử ở vòng đầu. Nếu bầu thêm vẫn thiếu thì không tổ chức bầu thêm lần hai.
- Bầu lại: Nếu số cử tri đi bầu tại đơn vị bầu cử chưa đạt quá nửa (dưới 50%) tổng số cử tri trong danh sách, Ban bầu cử phải báo cáo để tổ chức bầu lại chậm nhất là 15 ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên.
- Hủy bỏ kết quả: Hội đồng Nhà nước có quyền quyết định hủy bỏ cuộc bầu cử ở những nơi có vi phạm pháp luật nghiêm trọng và Hội đồng bộ trưởng sẽ ấn định ngày bầu cử lại cho địa phương đó.
- Bầu cử bổ sung và bãi miễn đại biểu
- Bầu cử bổ sung: Được tiến hành khi khuyết đại biểu trong nhiệm kỳ. Ngày bầu cử bổ sung phải công bố trước ít nhất 30 ngày. Các tổ chức phụ trách bầu cử bổ sung được thành lập trước ngày bầu cử từ 10 đến 20 ngày. Danh sách cử tri công bố trước 15 ngày và danh sách ứng cử viên công bố trước 7 ngày.
- Bãi miễn đại biểu: Việc đưa đại biểu ra bãi miễn do Hội đồng nhân dân quyết định theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp. Ngày bỏ phiếu bãi miễn phải công bố trước ít nhất 30 ngày. Ban tổ chức bãi miễn và Tổ công tác bãi miễn được thành lập để điều hành việc bỏ phiếu. Việc bãi miễn chỉ có giá trị khi có quá nửa (trên 50%) tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử tham gia bỏ phiếu bãi miễn.
- Xử lý vi phạm và hiệu lực thi hành
- Xử lý vi phạm: Người nào có hành vi lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc cản trở việc bầu cử, ứng cử, bãi miễn; hoặc người có trách nhiệm trong công tác bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu làm sai lệch kết quả thì tùy mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
- Hiệu lực thi hành: Luật này có hiệu lực thi hành và thay thế cho Pháp lệnh quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp ngày 18 tháng 1 năm 1961 cùng Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung ngày 22 tháng 1 năm 1981. Tất cả các quy định trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ. Hội đồng bộ trưởng chịu trách nhiệm quy định chi tiết thi hành Luật này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 13-LCT/HĐNN7 | Hà Nội, ngày 26 tháng 12 năm 1983 |
LUẬT
BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Để nhân dân sử dụng quyền làm chủ tập thể trong việc xây dựng cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương;
Căn cứ vào Điều 7 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này quy định việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có thể được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân, trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tước các quyền đó.
Công dân đang ở trong Quân đội nhân dân có quyền bầu cử và có thể được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân.
Đại biểu Hội đồng nhân dân phải là người trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có thành tích sản xuất, công tác hoặc chiến đấu, có nhiệt tình phục vụ nhân dân, tích cực chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, gương mẫu trong sinh hoạt, có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu và được nhân dân tín nhiệm.
Cử tri có quyền bãi miễn Đại biểu Hội đồng nhân dân, nếu Đại biểu đó không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương có trách nhiệm giới thiệu danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân và cùng với các cơ quan chính quyền tổ chức việc bầu cử.
Hội đồng Nhà nước giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, bảo đảm cho các cuộc bầu cử tiến hành dân chủ, đúng pháp luật.
Kinh phí về tổ chức đại biểu Hội đồng nhân dân do ngân sách Nhà nước đài thọ.
SỐ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ĐƠN VỊ BẦU CỬ VÀ KHU VỰC BỎ PHIẾU
Số đại biểu Hội đồng nhân dân của mỗi cấp như sau:
1- Hội đồng nhân dân xã, thị trấn và phường.
Xã và thị trấn miền xuôi có từ hai nghìn người trở xuống được bầu hai mươi đại biểu; có trên hai nghìn người thì cứ thêm hai trăm năm mươi người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bốn mươi nhăm đại biểu.
Xã và thị trấn miền núi và hải đảo có từ bảy trăm người trở xuống được bầu hai mươi đại biểu; có trên bảy trăm người thì cứ thêm hai trăm người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bốn mươi nhăm đại biểu.
Xã có từ ba trăm người trở xuống được bầu mười lăm đại biểu.
Phường có từ hai nghìn người trở xuống được bầu hai mươi đại biểu; có trên hai nghìn người thì cứ thêm bốn trăm người được bầu thềm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bốn mươi nhăm đại biểu.
2- Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc
tỉnh.
Huyện miền xuôi và quận có từ năm mươi nghìn người trở xuống được bầu bốn mươi đại biểu; có trên năm mươi nghìn người thì cứ thêm sáu nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá sáu mươi đại biểu.
Huyện miền núi và hải đảo có từ hai mươi nghìn người trở xuống được bầu bốn mươi đại biểu; có trên hai mươi nghìn người thì cứ thêm hai nghìn năm trăm người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá sáu mươi đại biểu.
Thị xã có từ hai mươi nghìn người trở xuống được bầu bốn mươi đại biểu; có trên hai mươi nghìn người thì cứ thêm bốn nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá sáu mươi đại biểu.
Thành phố thuộc tỉnh có sáu mươi nghìn người trở xuống được bầu năm mươi đại biểu; có trên sáu mươi nghìn người thì cứ thêm tám nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá bảy mươi đại biểu.
3- Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và
cấp tương đương.
Tỉnh miền xuôi có từ năm trăm nghìn người trở xuống được bầu bảy mươi đại biểu; có trên năm trăm nghìn người thì cứ thêm ba mươi nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá một trăm hai mươi đại biểu.
Tỉnh miền núi có từ hai trăm năm mươi nghìn người trở xuống được bầu bảy mươi đại biểu; có trên hai trăm năm mươi nghìn người thì cứ thêm mười lăm nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá một trăm hai mươi đại biểu.
Thành phố trực thuộc trung ương có từ năm trăm nghìn người trở xuống được bầu bảy mươi đại biểu; có trên năm trăm nghìn người thì cứ thêm hai mươi nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá một trăm hai mươi đại biểu.
Thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được bầu không quá một trăm năm mươi đại biểu.
Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo được bầu năm mươi đại biểu. Hội đồng Nhà nước có thể quyết định tăng thêm số đại biểu Hội đồng nhân dân đặc khu khi xét thấy cần thiết.
Đối với các địa phương có nhiều dân tộc sống xen kẽ và các khu công nghiệp tập trung, Hội đồng bộ trưởng quy định cụ thể để các dân tộc và công nhân có số đại biểu thích đáng trong Hội đồng nhân dân.
Đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu theo đơn vị bầu cử. Mỗi đơn vị bầu không quá ba đại biểu; các đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân xã, phường, thị trấn có thể được bầu số đại biểu nhiều hơn, nhưng không quá năm đại biểu.
Số đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, danh sách các đơn vị và số đại biểu của mỗi đơn vị do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương ấn định và đề nghị Hội đồng bộ trưởng phê chuẩn.
Số đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp khác, danh sách các đơn vị và số đại biểu của mỗi đơn vị do Uỷ ban nhân dân cùng cấp ấn định và đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn.
Danh sách các đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào phải được Uỷ ban nhân dân cấp ấy công bố chậm nhất là bốn mươi ngày trước ngày bầu cử.
Mỗi đơn vị bầu cử có thể chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu, mỗi khu vực bỏ phiếu gồm từ năm trăm đến bốn nghìn người.
ở miền núi, hải đảo, có những bản, buôn, thôn, xóm cách nhau quá xa, thì dù chưa tới năm trăm người cũng có thể thành lập một khu vực bỏ phiếu.
Các bệnh viện, nhà an dưỡng, nhà hộ sinh, nhà nuôi người tàn tật có từ năm mươi cử trở lên có thể tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng.
Việc chia khu vực bỏ phiếu do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn ấn định và phải được Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn.
Các đơn vị QUân đội nhân dân tổ chức khu vực bỏ riêng.
HỘI ĐỒNG BẦU CỬ, BAN BẦU CỬ, TỔ BẦU CỬ
Những tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân gồm có: Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử.
Chậm nhất là bốn mươi ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân cấp ấy bàn với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập Hội đồng bầu cử từ năm đến hai mươi mốt người gồm đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các chính đảng, các đoàn thể nhân dân trong địa phương.
Hội đồng bầu cử bầu Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó Chủ tịch và một hoặc nhiều Thư ký.
Danh sách Hội đồng bầu cử tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương phải được Hội đồng bộ trưởng phê chuẩn. Danh sách Hội đồng bầu cử các cấp khác phải được Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn.
Hội đồng bầu cử có những nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
1- Kiểm tra, đôn đốc việc thi hành Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong địa phương;
2- Xét và giải quyết những khiếu nại về công tác của các Ban bầu cử và Tổ bầu cử;
3- Nhận đơn ứng cử, lập và niêm yết danh sách những người được giới thiệu ra ứng cử; xét và giải quyết những khiếu nại về việc lập danh sách đó;
4- Nhận tài liệu và phiếu bầu cử của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và phân phối cho các Ban bầu cử, chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử;
5- Nhận và kiểm tra biên bản bầu cử do các Ban bầu cử gửi đến, làm biên bản ghi kết quả cuộc bầu cử trong địa phương;
6- Tuyên bố kết quả cuộc bầu cử;
7- Chuyển giao cho Uỷ ban nhân dân cùng cấp biên bản tổng kết bầu cử và những hồ sơ tài liệu về cuộc bầu cử.
Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân cấp ấy bàn với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập ở mỗi đơn vị bầu cử một Ban bầu cử từ năm đến mười lăm người gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các chính đảng, các đoàn thể nhân dân trong địa phương.
Ban bầu cử bầu Trưởng ban, một hoặc nhiều Phó trưởng ban và một hoặc nhiều Thư ký.
Ban bầu cử có những nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
1- Kiểm tra, đôn đốc các Tổ bầu cử chấp hành đúng Luật bầu cử;
2- Kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri;
3- Nhận tài liệu và phiếu bầu cử của Hội đồng bầu cử. Phân phối tài liệu và phiếu bầu cử cho các Tổ bầu cử, chậm nhất là bảy ngày trước ngày bầu cử;
4- Kiểm tra, đôn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu và công việc bầu cử tại các phòng bỏ phiếu;
5- Xét và giải quyết những khiếu nại về công tác của các Tổ bầu cử;
6- Nhận và kiểm tra biên bản kiểm phiếu do các tổ bầu cử gửi đến, làm biên bản ghi kết quả bầu cử trong đơn vị để gửi lên Hội đồng bầu cử.
Chậm nHất là hai mươi ngày trước ngày bầu cử, các Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn bàn với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử từ năm đến mười một người gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong địa phương. Trong trường hợp đơn vị bầu cử chỉ có một khu vực bỏ phiếu thì Ban bầu cử kiêm nhiệm vụ Tổ bầu cử.
Các đơn vị Quân đội nhân dân thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu của mình một Tổ bầu cử gồm các đại biểu của quân nhân trong đơn vị.
Tổ bầu cử bầu Tổ trưởng, một Tổ phó và một hoặc nhiều Thư ký.
Tổ bầu cử có những nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
1- Phụ trách công tác bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;
2- Bố trí phòng bỏ phiếu và chuẩn bị hòm phiếu;
3- Phát phiếu bầu cử có đóng dấu của Tổ bầu cử cho các cử tri;
4- Bảo đảm trật tự trong phòng bỏ phiếu;
5- Kiểm phiếu, giải quyết những khiếu nại về việc kiểm phiếu và biên bản kiểm phiếu gửi Ban bầu cử;
6- Chuyển giao biên bản kiểm phiếu và tất cử những phiếu bầu cử cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
Các cơ quan và nhân viên Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn quy định trong Luật này.
Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử không được vận động bầu cho những người được giới thiệu ra ứng cử.
Khi lập danh sách cử tri, những công dân có quyền bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đều được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi mình cư trú.
Mỗi cử tri được ghi tên vào một danh sách cử tri.
Danh sách cử tri do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập theo khu vực bỏ phiếu.
Danh sách cử tri trong các đơn vị Quân đội nhân dân do Ban chỉ huy đơn vị lập theo mỗi khu vực bỏ phiếu.
Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử, cơ quan lập danh sách cử tri phải niêm yết danh dách đó ở trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và ở những nơi công cộng của khu vực bỏ phiếu; đồng thời phải thông báo rộng rãi danh sách đó và việc niêm yết để nhân dân kiểm tra danh sách cử tri.
Khi kiểm tra danh sách cử tri, nếu thấy có sai lầm hoặc thiếu sót, thì trong thời hạn hai mươi ngày kể từ ngày niêm yết, mọi người có quyền khiếu nại, báo cáo bằng miệng hoặc bằng giấy với cơ quan lập danh sách cử tri. Cơ quan lập danh sách cử tri phải ghi vào sổ những khiếu nại hoặc báo cáo đó. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại hoặc báo cáo, cơ quan lập danh sách cử tri phải giải quyết xong và thông báo cho người khiếu nại hoặc người báo cáo biết kết quả giải quyết.
Nếu người khiếu nại hoặc người báo cáo không đồng ý về cách giải quyết đó, thì có quyền khiếu nại lên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Toà án nhân dân phải giải quyết xong. Quyết định của Toà án nhân dân là quyết định cuối cùng.
Từ khi công bố danh sách cử tri cho đến ngày bầu cử, nếu cử tri nào thay đổi nơi cư trú, thì có quyền xin giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân nơi đang cư trú để được ghi tên vào danh sách cử tri và tham gia bỏ phiếu ở nơi cư trú mới. Khi cấp giấy chứng nhận, Uỷ ban nhân dân phải ghi ngay vào danh sách cử tri, bên cạnh tên người đó: "đi bỏ phiếu nơi khác".
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC GIỚI THIỆU RA ỨNG CỬ
Căn cứ vào đề cử của các tập thể nhân dân lao động ở cơ sở, của các chính đảng, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội khác ở địa phương, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiến hành hiệp thương để lập danh sách những người được giới thiệu ra ứng cử, sau khi đã tham khảo ý kiến rộng rãi của tập thể nhân dân lao động nơi làm việc và nơi cư trú của những người được giới thiệu ra ứng cử.
Người được giới thiệu ra ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân địa phương nào phải là người cư trú hoặc công tác thường xuyên ở địa phương đó.
Số người được giới thiệu ra ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó, để cử tri chọn bầu khi bỏ phiếu.
Người được giới thiệu ra ứng cử chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử và không được tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử quy định ở
Chậm nhất là hai mươi nhăm ngày trước ngày bầu cử, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương phải gửi đến Hội đồng bầu cử:
1- Giấy giới thiệu người ra ứng cử;
2- Đơn ứng cử của những người được giới thiệu có ghi tên, tuổi, nghề nghiệp, nguyên quán, nơi cư trú, nơi công tác thường xuyên và nơi ra ứng cử;
3- Giấy của Uỷ ban nhân dân địa phương chứng nhận người được giới thiệu ra ứng cử có đủ điều kiện ứng cử quy định ở
Khi nhận các giấy tờ nói trên, Hội đồng bầu cử phải cấp giấy biên nhận.
Hội đồng bầu cử lập danh sách những người được giới thiệu ra ứng cử theo từng đơn vị bầu cử và công bố danh sách đó ít nhất là hai mươi ngày trước ngày bầu cử.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày công bố danh sách những người được giới thiệu ra ứng cử, ai thấy trong danh sách có sai lầm hoặc thiếu sót thì có quyền khiếu nại, báo cáo bằng giấy hoặc bằng miệng với Hội đồng bầu cử. Hội đồng bầu cử phải ghi vào sổ những khiếu nại hoặc báo cáo đó. Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại hoặc báo cáo, Hội đồng bầu cử phải giải quyết; quyết định của Hội đồng bầu cử là quyết định cuối cùng.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các chính đảng, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội và mọi công dân, theo quy định của pháp luật, có quyền cổ động để giới thiệu người ứng cử.
Người được giới thiệu ra ứng cử có quyền cổ động cho mình trong phạm vi pháp luật quy định.
Ngày bầu cử phải được ấn định vào ngày chủ nhật hoặc ngày nghỉ khác và công bố chậm nhất là sáu mươi ngày trước ngày bầu cử.
Hội đồng bộ trưởng ấn định ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương và ấn định thời gian tiến hành các cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp khác theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân các cấp. Căn cứ vào đó, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương ấn định ngày bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn.
Trong trường hợp đặc biệt không thể tiến hành bầu cử theo đúng nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân thì Hội đồng bộ trưởng phải báo cáo và đề nghị Hội đồng Nhà nước xét định.
Trong thời hạn mười ngày trước ngày bầu cử, Tổ bầu cử phải thường xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu và thời gian bỏ phiếu bằng mọi phương tiện thông tin của địa phương.
Cuộc bỏ phiếu tiến hành từ 7 giờ đến 19 giờ cùng ngày. Tuỳ tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn giờ quy định, nhưng không được kéo dài quá 22 giờ.
ở nơi nào đã có 100% số cử tri đi bầu thì Tổ bầu cử có thể kết thúc cuộc bỏ phiếu sớm hơn.
Cử tri chỉ có quyền bỏ một phiếu bầu và phải tự mình đi bầu, không được nhờ người bầu thay, không được bầu bằng cách gửi thư, trừ những trường hợp nói ở Điều 37.
Cử tri không tự viết phiếu được, thì có thể nhờ người viết hộ. Người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri đó và cử tri phải tự bỏ phiếu. Nếu vì tàn tật không tự bỏ phiếu được, thì cử tri có thể nhờ người bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không đến phòng bỏ phiếu được thì có thể đề nghị Tổ bầu cử mang hòm phiếu và phiếu bầu đến chỗ ở để bỏ phiếu. Trong trường hợp này, Tổ bầu cử có thể mang hòm phiếu phụ đến chỗ ở của cử tri để nhận phiếu bầu.
Khi cử tri viết phiếu, không ai được đến xem, kể cả nhân viên Tổ bầu cử.
Nếu viết hỏng, cử tri có quyền đề nghị Tổ bầu cử đổi phiếu khác.
Mọi người đều phải tuân theo nội quy của phòng bỏ phiếu. Không ai được tuyên truyền cổ động cho người được giới thiệu ra ứng cử tại phòng bỏ phiếu.
Khi đã hết giờ bỏ phiếu, nếu còn một số cử tri có mặt ở phòng bỏ phiếu chưa kịp bỏ phiếu, thì sau khi số cử tri đó bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử mới tuyên bố kết thúc cuộc bỏ phiếu.
Trong ngày bầu cử, cuộc bỏ phiếu phải tiến hành liên tục. Nếu có trường hợp bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu, thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong các giấy tờ và hòm phiếu rồi báo cáo cho Ban bầu cử biết; đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để cuộc bỏ phiếu được tiếp tục.
Nếu vì lý do đặc biệt cần hoãn ngày bỏ phiếu, thì Tổ bầu cử phải kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử biết để đề nghị Hội đồng bầu cử xét định.
Việc kiểm phiếu phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc, Tổ bầu cử phải mời hai cử tri không phải là người được giới thiệu ra ứng cử có mặt tại đó chứng kiến việc kiểm phiếu.
Người được giới thiệu ra ứng cử và các phóng viên báo chí, điện ảnh, nhiếp ảnh, đài truyền hình, đài phát thành được xem kiểm phiếu.
Những phiếu sau đây là không hợp lệ:
1- Không phải là phiếu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát;
2- Không có dấu của Tổ bầu cử;
3- Ghi tên người được giới thiệu ra ứng cử quá số đại biểu được bầu.
Phiếu trắng là phiếu không ghi tên một người nào trong danh sách những người được giới thiệu ra ứng cử hoặc xoá hết tên những người được giới thiệu ra ứng cử đã ghi trên phiếu bầu.
Khi nghi ngờ phiếu nào là phiếu không hợp lệ hoặc là phiếu trắng thì Tổ trưởng Tổ bầu cử phải đưa ra toàn tổ giải quyết.
Những phiếu có ghi tên những người được giới thiệu ra ứng cử cùng với tên những người không được giới thiệu ra ứng cử vẫn được coi là phiếu hợp lệ, song không kể tên những người không được giới thiệu ra ứng cử.
Tổ bầu cử không được xoá hoặc chữa các tên ghi trên phiếu bầu.
Những khiếu nại tại chỗ về việc kiểm phiếu do Tổ bầu cử tiếp nhận, giải quyết và ghi cách giải quyết vào biên bản. Nếu Tổ bầu cử không giải quyết được, thì phải đưa lên Ban bầu cử để giải quyết.
Kiểm phiếu xong, Tổ bầu cử phải lập biên bản ghi rõ:
- Tổng số cử tri của khu vực bỏ phiếu;
- Số cử tri đã đi bầu;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu trắng;
- Số phiếu bầu cho mỗi người được giới thiệu ra ứng cử;
- Những khiếu nại đã nhận được và cách giải quyết, những khiếu
nại chưa giải quyết được.
Biên bản làm thành hai bản có chữ ký của Tổ trưởng, Thư ký và hai cử tri được mời chứng kiến việc kiểm phiếu. Một bản gửi Ban bầu cử, một bản gửi Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
Sau khi nhận được biên bản của các Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình.
Biên bản phải ghi rõ:
- Số đại biểu Hội đồng nhân dân ấn định cho đơn vị bầu cử;
- Số người được giới thiệu ra ứng cử;
- Tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử;
- Số cử tri đã đi bầu, số cử tri không đi bầu, tỷ lệ số cử tri
đã đi bầu so với tổng số cử tri;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu trắng;
- Số phiếu bầu cho mỗi người được giới thiệu ra ứng cử;
- Danh sách những người trúng cử;
- Những khiếu nại do Tổ bầu cử đã giải quyết;
- Những khiếu nại do Ban bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại
chuyển lên Hội đồng bầu cử giải quyết.
Biên bản làm thành hai bản, có chữ ký của Trưởng ban, Phó trưởng ban và thư ký, một bản gửi Hội đồng bầu cử, một bản gửi Uỷ ban nhân dân cùng cấp với Ban bầu cử.
Những người được giới thiệu ra ứng cử được quá nửa số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn thì trúng cử. Nếu có nhiều người được số phiếu ngang nhau thì người nhiều tuổi hơn được trúng cử.
Mục 3: VIỆC BẦU THÊM HOẶC BẦU LẠI
Trong cuộc bầu cử đầu tiên, nếu số người trúng cử chưa đủ số đại biểu đã quy định cho đơn vị bầu cử, thì Ban bầu cử phải ghi rõ điểm đó vào biên bản và báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để quyết định ngày bầu thêm số đại biểu còn thiếu, chậm nhất là mười lăm ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu thêm, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người được giới thiệu ra ứng cử nhưng không trúng cử kỳ đầu. Nếu bầu thêm mà vẫn chưa đủ số đại biểu, thì không tổ chức bầu thêm lần thứ hai.
ở đơn vị bầu cử nào, nếu số cử tri đi bầu chưa được quá nửa số cử tri ghi trong danh sách, thì Ban bầu cử phải ghi rõ điểm đó vào biên bản và báo cáo ngay cho Hội đồng bầu cử để quyết định ngày bầu lại, chậm nhất là mười lăm ngày sau cuộc bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người đã được giới thiệu ra ứng cử kỳ đầu.
Việc bầu thêm hoặc bầu lại vẫn căn cứ vào danh sách cử tri đã lập trong cuộc bầu cử đầu tiên và theo những điều đã quy định trong Luật này.
Sau khi nhận được biên bản của các Ban bầu cử và giải quyết những khiếu nại nếu có, Hội đồng bầu cử làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử.
Hội đồng bầu cử tuyên bố kết quả cuộc bầu cử chậm nhất là:
- Ba ngày sau ngày bầu cử đối với Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn, thị xã;
- Năm ngày sau ngày bầu cử đối với Hội đồng nhân dân huyện miền xuôi, quận và thành phố thuộc tỉnh;
- Bảy ngày sau ngày bầu cử đối với Hội đồng nhân dân huyện miền núi, hải đảo, thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh miền xuôi và đặc khu Vũng tàu - Côn đảo;
- Chín ngày sau ngày bầu cử đối với Hội đồng nhân dân tỉnh miền núi.
Biên bản tổng kết phải ghi rõ:
- Tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân;
- Tổng số người được giới thiệu ra ứng cử;
- Tổng số cử tri;
- Số cử tri đã đi bầu, số cử tri không đi bầu, tỷ lệ số cử tri
đã đi bầu so với tổng số cử tri;
- Số phiếu hợp lệ;
- Số phiếu không hợp lệ;
- Số phiếu trắng;
- Danh sách những người trúng cử và số phiếu bầu cho mỗi người;
- Các việc quan trọng đã xẩy ra và cách giải quyết.
Biên bản làm thành hai bản, có chữ ký của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Thư ký Hội đồng bầu cử; một bản gửi Uỷ ban nhân dân cấp bầu Hội đồng nhân dân, một bản gửi Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp. Nếu là cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương thì biên bản làm thành ba bản, một bản gửi Uỷ ban nhân dân, một bản gửi Hội đồng bộ trưởng và một bản gửi Hội đồng Nhà nước.
Hội đồng Nhà nước quyết định huỷ bỏ cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nào có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Hội đồng bộ trưởng ấn định ngày bầu cử lại Hội đồng nhân dân ấy.
VIỆC BẦU CỬ BỔ SUNG ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP
Việc bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân tiến hành theo thể thức bầu cử được quy định trong Luật này.
Ngày bầu cử bổ sung phải được công bố chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử.
Chậm nhất là hai mươi ngày trước ngày bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân cấp ấy bàn với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập Hội đồng bầu cử bổ sung từ ba đến năm người để phụ trách việc bầu cử bổ sung ở địa phương; và chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử, thành lập ở mỗi đơn vị có bầu cử bổ sung một Ban bầu cử từ ba đến năm người gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân.
Hội đồng bầu cử bổ sung bầu Chủ tịch và một Thư ký.
Ban bầu cử bổ sung bầu Trưởng ban và một Thư ký.
Chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử bổ sung, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn bàn với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử bổ sung từ năm đến bảy người gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở.
Tổ bầu cử bổ sung bầu Tổ trưởng, một Tổ phó và một Thư ký.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng bầu cử bổ sung, Ban bầu cử bổ sung và Tổ bầu cử bổ sung theo như những quy định đối với Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử và Tổ bầu cử nói ở Luật này.
Danh sách cử tri do uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập ra và công bố chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bầu cử bổ sung.
Danh sách những người do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa phương giới thiệu ra ứng cử phải được lập và công bố chậm nhất là bảy ngày trước ngày bầu cử bổ sung.
VIỆC BÃI MIỄN ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP
Việc đưa một đại biểu Hội đồng nhân dân ra để cử tri bãi miễn do Hội đồng nhân dân quyết định, theo đề nghị của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp ấn định ngày bỏ phiếu bãi miễn. Nếu bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương thì Hội đồng bộ trưởng ấn định ngày bỏ phiếu bãi miễn.
Ngày bỏ phiếu bãi miễn phải được công bố chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bỏ phiếu.
Chậm nhất là mười lăm ngày trước ngày bỏ phiếu bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân cấp nào thì Uỷ ban nhân dân cấp ấy bàn với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập Ban tổ chức bãi miễn từ ba đến năm người gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân ở địa phương để phục trách việc tổ chức bãi miễn.
Ban tổ chức bãi miễn bầu Trưởng ban và một Thư ký.
Chậm nhất là mười ngày trước ngày bỏ phiếu bãi miễn, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn bàn với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp thành lập tại mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ công tác bãi miễn từ ba đến năm người gồm đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở, để tổ chức việc bỏ phiếu bãi miễn và lập biên bản kiểm phiếu.
Tổ công tác bãi miễn bầu Tổ trưởng và một Thư ký.
Danh sách cử tri bỏ phiếu bãi miễn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập và công bố tại trụ sở Uỷ ban và các khu vực bỏ phiếu chậm nhất là mười ngày trước ngày bỏ phiếu.
Biên bản kiểm phiếu của Tổ công tác bãi miễn làm thành hai bản, có chữ ký của Tổ trưởng và Thư ký; một bản gửi Ban tổ chức bãi miễn,
một bản gửi Uỷ ban nhân dân xã, phường hoặc cấp tương đương.
Căn cứ vào biên bản kiểm phiếu của Tổ công tác bãi miễn, Ban tổ chức bãi miễn làm biên bản xác định kết quả bỏ phiếu và tuyên bố kết quả bãi miễn.
Biên bản của Ban tổ chức bãi miễn làm thành hai bản, có chữ ký của Trưởng ban và Thư ký; một bản gửi Uỷ ban nhân dân cùng cấp, một bản gửi Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp. Nếu là cuộc bỏ phiếu bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc cấp tương đương thì biên bản của Ban tổ chức bãi miễn làm thành ba bản, một bản gửi Uỷ ban nhân dân cùng cấp, một bản gửi Hội đồng bộ trưởng và một bản gửi Hội đồng Nhà nước.
Phải có quá nửa tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử bỏ phiếu bãi miễn thì việc bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân mới có giá trị.
VIỆC XỬ LÝ NHỮNG VI PHẠM LUẬT BẦU CỬ
Người nào có hành vi sau đây thì tuỳ mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy tố theo pháp luật:
a) Dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép người khác, hoặc có hành vi khác làm cản trở việc bầu cử, ứng cử và bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân;
b) Có trách nhiệm trong công tác bầu cử hoặc bãi miễn mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác làm sai lạc kết quả bầu cử hoặc bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân.
luật này thay thế Pháp lệnh quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp ngày 18 tháng 1 năm 1961 và Pháp lệnh ngày 22 tháng 1 năm 1981 sửa đổi và bổ sung một số điều khoản của Pháp lệnh năm 1961. Những văn bản pháp luật khác đã ban hành trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.
Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật này.
|
| Trường Chinh (Đã ký) |
- 1Thông tư 03-BT-1979 về việc tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp huyện, xã và tương đương năm 1979 do Phủ thủ tướng ban hành
- 2Nghị định 03-TTg năm 1959 về việc ấn định ngày bầu cử Hội đồng nhân dân các tỉnh do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
- 3Nghị định 119-TTg năm 1959 về ấn định lại ngày bầu cử Hội đồng nhân dân các tỉnh do Thủ Tướng ban hành.
- 4Nghị định 164-NĐ năm 1945 về việc ấn định thể lệ bầu cử các hội đồng nhân dân và ủy ban hành chánh xã, huyện, tỉnh và kỳ do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 5Pháp lệnh bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp năm 1961
- 6Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp năm 1981
- 7Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1989
- 1Thông tư 03-BT-1979 về việc tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp huyện, xã và tương đương năm 1979 do Phủ thủ tướng ban hành
- 2Nghị định 03-TTg năm 1959 về việc ấn định ngày bầu cử Hội đồng nhân dân các tỉnh do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
- 3Nghị định 119-TTg năm 1959 về ấn định lại ngày bầu cử Hội đồng nhân dân các tỉnh do Thủ Tướng ban hành.
- 4Nghị định 164-NĐ năm 1945 về việc ấn định thể lệ bầu cử các hội đồng nhân dân và ủy ban hành chánh xã, huyện, tỉnh và kỳ do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 5Hiến pháp năm 1980
Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân 1983
- Số hiệu: 13-LCT/HĐNN7
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 26/12/1983
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Trường Chinh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 2
- Ngày hiệu lực: 02/01/1984
- Ngày hết hiệu lực: 11/07/1989
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
