Luật chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1958 được ban hành bởi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh, quy định toàn diện về chế độ phục vụ, hệ thống quân hàm, chức vụ, nghĩa vụ và quyền lợi của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam nhằm xây dựng quân đội chính quy và hiện đại.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Luật này áp dụng đối với tất cả quân nhân thuộc các cấp Tướng, cấp Tá, cấp Úy trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Các quy định điều chỉnh trực tiếp đối với sĩ quan tại ngũ (bao gồm sĩ quan tại ngũ ở đơn vị và sĩ quan biệt phái) và sĩ quan dự bị (được phân làm hạng 1 và hạng 2 dựa trên hạn tuổi phục vụ).
Phân loại và nguồn bổ sung sĩ quan
- Phân loại theo nghiệp vụ: Sĩ quan trong Quân đội được chia thành các ngành nghiệp vụ cụ thể bao gồm: sĩ quan chỉ huy, sĩ quan chính trị, sĩ quan hậu cần, sĩ quan kỹ thuật, sĩ quan quân y và thú y, sĩ quan quân pháp, và sĩ quan hành chính.
- Nguồn bổ sung sĩ quan tại ngũ: Trong thời bình, nguồn bổ sung gồm quân nhân tốt nghiệp các trường đào tạo sĩ quan của Bộ Quốc phòng và sĩ quan dự bị được gọi ra phục vụ. Trong thời chiến, bổ sung thêm sĩ quan dự bị được tổng động viên, hạ sĩ quan và binh sĩ lập chiến công xuất sắc, cùng cán bộ ngoài quân đội được Bộ Quốc phòng trưng tập.
- Nguồn bổ sung sĩ quan dự bị: Gồm sĩ quan chuyển sang ngạch dự bị; hạ sĩ quan hết hạn tại ngũ hoặc đang trong thời gian dự bị trúng tuyển kỳ thi sĩ quan dự bị; học sinh tốt nghiệp các trường đại học và kỹ thuật chuyên nghiệp trúng tuyển kỳ thi sĩ quan dự bị hoặc có trình độ chuyên môn phù hợp.
Hệ thống quân hàm và chế độ phong, thăng, giáng cấp bậc
- Hệ thống cấp bậc quân hàm: Gồm 3 cấp và 12 bậc. Cấp Tướng gồm Đại tướng, Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng. Cấp Tá gồm Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá. Cấp Úy gồm Đại úy, Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy. Cấp Chuẩn úy được xác định là cấp chuẩn bị lên sĩ quan, chưa phải là sĩ quan chính thức.
- Tiêu chuẩn phong, thăng cấp: Căn cứ vào phẩm chất chính trị, năng lực nghiệp vụ, cấp bậc và chức vụ hiện tại, thành tích phục vụ trong quân đội và công lao đối với Cách mạng.
- Niên hạn thăng cấp tối thiểu đối với sĩ quan tại ngũ: Từ Thiếu úy lên Trung úy là 3 năm; Trung úy lên Thượng úy là 3 năm; Thượng úy lên Đại úy là 4 năm; Đại úy lên Thiếu tá là 4 năm; Thiếu tá lên Trung tá là 4 năm; Trung tá lên Thượng tá là 4 năm; Thượng tá lên Đại tá là 5 năm. Từ cấp Đại tá trở lên, việc thăng cấp căn cứ vào nhu cầu của quân đội, đức tài và thành tích của sĩ quan. Thời gian học tập tại các trường quân sự được tính vào niên hạn thăng cấp. Sĩ quan lập công xuất sắc có thể được thăng cấp trước niên hạn hoặc vượt bậc. Trường hợp đủ niên hạn nhưng chưa đủ tiêu chuẩn thăng cấp có thể bị kéo dài niên hạn từ 1 đến 3 năm, nếu vẫn không đủ điều kiện sẽ chuyển sang ngạch dự bị.
- Thẩm quyền phong và thăng cấp bậc quân hàm: Chủ tịch nước quyết định đối với cấp Tướng; Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với cấp Thượng tá và Đại tá; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định đối với cấp Thiếu úy đến Trung tá. Ngoài ra, Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm các Tổng cục, Tổng thanh tra Quân đội, Tư lệnh và Chính ủy Quân khu có thẩm quyền quyết định thăng cấp lên Trung úy và Thượng úy cho cấp dưới thuộc quyền theo phân cấp.
- Quy định về giáng cấp và tước quân hàm: Cấp có thẩm quyền thăng cấp bậc nào thì có quyền giáng cấp bậc đó. Mỗi lần giáng cấp chỉ được giáng xuống một bậc (trừ trường hợp đặc biệt giáng nhiều bậc do Chủ tịch nước, Thủ tướng hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định theo phân cấp). Kỷ luật giáng cấp không áp dụng đối với Thiếu úy. Sĩ quan phạm pháp bị tòa án xử phạt tù có thể bị tước quân hàm sĩ quan.
Hệ thống chức vụ và thẩm quyền bổ nhiệm, bãi miễn
- Nguyên tắc bố trí chức vụ: Mỗi cấp bậc quân hàm tương đương với một chức vụ trong biên chế. Việc bổ nhiệm căn cứ vào phẩm chất chính trị, năng lực nghiệp vụ và nhu cầu biên chế. Sĩ quan có thể giữ chức vụ thấp hơn quân hàm do nhu cầu công tác hoặc sức khỏe mà không bị coi là giáng chức.
- Thẩm quyền bổ nhiệm, giáng chức và bãi chức: Chủ tịch nước quyết định các chức vụ cao cấp như Tổng Tư lệnh, Tổng Tham mưu trưởng, Tổng Tham mưu phó, Chủ nhiệm và Phó Chủ nhiệm các Tổng cục, Tổng Thanh tra và Phó Tổng Thanh tra Quân đội, Tư lệnh và Chính ủy Quân khu. Thủ tướng Chính phủ quyết định các chức vụ Quân khu phó, Tham mưu trưởng và Chủ nhiệm chính trị quân khu, Sư đoàn trưởng, Chính ủy sư đoàn, Sư đoàn phó. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định từ Trung đoàn trưởng, Chính ủy Trung đoàn trở xuống (có thể ủy quyền cho cấp dưới quyết định từ Tiểu đoàn trưởng trở xuống).
- Quyền đình chỉ chức vụ khẩn cấp: Thủ trưởng đơn vị từ cấp Trung đoàn trưởng trở lên có quyền đình chỉ chức vụ đối với sĩ quan thuộc quyền dưới mình hai cấp trong trường hợp khẩn cấp và chỉ định người thay thế tạm thời, nhưng phải báo cáo ngay lên cấp trên có thẩm quyền.
Chế độ sĩ quan biệt phái, xuất ngũ và ngạch dự bị
- Sĩ quan biệt phái: Là sĩ quan tại ngũ được cử đến công tác tại các ngành ngoài quân đội để phụ trách công tác quân sự hoặc quốc phòng. Họ giữ nguyên nghĩa vụ, quyền lợi như sĩ quan tại ngũ khác, được cơ quan sử dụng đài thọ lương và phụ cấp không thấp hơn mức trước đó trong quân đội. Việc thay đổi công tác của sĩ quan biệt phái phải có sự đồng ý của Bộ Quốc phòng.
- Điều kiện xuất ngũ: Sĩ quan được xuất ngũ khi quá tuổi tại ngũ, không đủ sức khỏe, quân đội giảm biên chế, chuyển ngành, thiếu năng lực chuyên môn hoặc theo nguyện vọng cá nhân được chuẩn y.
- Chế độ sĩ quan dự bị: Sĩ quan xuất ngũ đủ điều kiện được xếp vào ngạch dự bị. Sĩ quan dự bị phải tham gia huấn luyện quân sự, có thể được thăng cấp nếu lập thành tích xuất sắc, chịu sự xét xử của Tòa án binh nếu phạm tội trong thời gian huấn luyện, và được gọi ra phục vụ tại ngũ khi có lệnh. Sĩ quan dự bị được giải ngạch khi hết tuổi dự bị hạng 2 hoặc bị thương tật, bệnh tật không thể phục vụ. Sĩ quan xuất ngũ, dự bị và giải ngạch vẫn được giữ danh hiệu cấp bậc quân hàm cũ.
- Thẩm quyền quyết định xuất ngũ, dự bị, giải ngạch: Tương đương với thẩm quyền phong, thăng cấp bậc quân hàm của từng cấp bậc tương ứng.
Hạn tuổi phục vụ cao nhất của sĩ quan
- Đối với sĩ quan Lục quân: Thiếu úy và Trung úy (Tại ngũ: 33 tuổi, Dự bị 1: 43 tuổi, Dự bị 2: 48 tuổi); Thượng úy và Đại úy (Tại ngũ: 38 tuổi, Dự bị 1: 48 tuổi, Dự bị 2: 52-53 tuổi); Thiếu tá (Tại ngũ: 43 tuổi, Dự bị 1: 53 tuổi, Dự bị 2: 58 tuổi); Trung tá (Tại ngũ: 48 tuổi, Dự bị 1: 58 tuổi, Dự bị 2: 63 tuổi); Thượng tá và Đại tá (Tại ngũ: 50 tuổi, Dự bị 1: 58 tuổi, Dự bị 2: 63 tuổi); Thiếu tướng (Tại ngũ: 55 tuổi, Dự bị 1: 60 tuổi, Dự bị 2: 65 tuổi).
- Đối với sĩ quan Hải quân và Không quân: Thiếu úy và Trung úy (Tại ngũ: 38 tuổi, Dự bị 1: 43 tuổi, Dự bị 2: 48 tuổi); Thượng úy và Đại úy (Tại ngũ: 43 tuổi, Dự bị 1: 48 tuổi, Dự bị 2: 53 tuổi); Thiếu tá (Tại ngũ: 48 tuổi, Dự bị 1: 53 tuổi, Dự bị 2: 58 tuổi); Trung tá và Thượng tá (Tại ngũ: 53 tuổi, Dự bị 1: 58 tuổi, Dự bị 2: 63 tuổi); Đại tá (Tại ngũ: 55 tuổi, Dự bị 1: 58 tuổi, Dự bị 2: 63 tuổi); Thiếu tướng (Tại ngũ: 58 tuổi, Dự bị 1: 60 tuổi, Dự bị 2: 65 tuổi).
- Các trường hợp đặc biệt: Từ cấp Trung tướng trở lên không quy định hạn tuổi phục vụ cao nhất. Hạn tuổi của sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân y, thú y do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định riêng. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền kéo dài thời hạn tại ngũ của sĩ quan từ Thiếu úy đến Đại tá đến hết hạn dự bị hạng 2; đối với Thiếu tướng phải được Thủ tướng Chính phủ chuẩn y.
Quyền lợi, nghĩa vụ và kỷ luật của sĩ quan
- Quyền lợi và nghĩa vụ công dân: Sĩ quan có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sĩ quan lập công trạng được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen hoặc danh hiệu vinh dự. Trong thời bình, sĩ quan được nghỉ phép hàng năm, nhưng phải lập tức trở về đơn vị khi có tuyên bố tình trạng chiến tranh, nếu vi phạm sẽ bị kỷ luật.
- Quan hệ cấp trên - cấp dưới: Sĩ quan cấp bậc cao hơn là cấp trên của sĩ quan cấp bậc thấp hơn. Trường hợp chức vụ phụ thuộc vào người có quân hàm thấp hơn hoặc ngang bằng thì người giữ chức vụ phụ thuộc là cấp dưới. Sĩ quan phải chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh giao công tác của cấp trên, nếu từ chối hoặc trì hoãn không có lý do chính đáng sẽ bị kỷ luật.
- Trang phục và cấp hiệu: Sĩ quan có nghĩa vụ đeo đúng cấp hiệu của cấp bậc mình. Sĩ quan dự bị chỉ được mang cấp hiệu trong thời gian huấn luyện quân sự.
Hiệu lực thi hành và điều khoản bãi bỏ
Luật chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1958 chính thức bãi bỏ Sắc lệnh số 116/SL ngày 25 tháng 1 năm 1948 về hệ thống quân hàm, Sắc lệnh số 131/SL ngày 15 tháng 2 năm 1948 về phân hạng và định hạn thăng cấp cho Đại úy, Thiếu tá, Trung tá, cùng các điều khoản trong các văn bản pháp luật khác ban hành trước đây trái với Luật này. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết thi hành Luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
LUẬT
QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ PHỤC VỤ CỦA SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
(Đã được Quốc hội biểu quyết trong phiên họp ngày 31-5-1958)
Để đẩy mạnh việc xây dựng Quân đội nhân dân tiến lên chính quy và hiện đại, tăng cường lực lượng Quốc phòng, bảo đảm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phục vụ nhân dân;
Để xác định nhiệm vụ, quyền hạn, vinh dự cho cán bộ trong Quân đội, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức và ý thức kỷ luật của cán bộ và chiến sĩ;
Nay quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:
Những quân nhân thuộc các cấp Tướng, cấp Tá, cấp Uý đều gọi là sĩ Quan.
Về phương diện nghiệp vụ trong Quân đội, sĩ quan chia ra các loại như sau:
- Sĩ quan chỉ huy
- Sĩ quan chính trị
- Sĩ quan hậu cần
- Sĩ quan kỹ thuật
- Sĩ quan quân y và thú y
- Sĩ quan quân pháp
- Sĩ quan hành chính.
Về phương diện điều kiện phục vụ, sĩ quan gồm có sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị.
- Sĩ quan tại ngũ có sĩ quan tại ngũ ở đơn vị và sĩ quan tại ngũ biệt phái.
- Sĩ quan dự bị chia ra hai hạng: sĩ quan dự bị hạng 1 và sĩ quan dự bị hạng 2, theo hạn tuổi phục vụ cao nhất quy định ở điều 39 dưới đây.
Những người sau đây được lấy để bổ sung cho sĩ quan tại ngũ:
1) Trong thời bình:
a) Quân nhân tốt nghiệp ở các trường đào tạo sĩ quan của Bộ Quốc phòng.
b) Sĩ quan dự bị được gọi ra từng người.
2) Trong thời chiến:
a) Sĩ quan dự bị được tổng động viên.
b) Quân nhân tốt nghiệp ở các trường đào tạo sĩ quan của Bộ Quốc phòng.
c) Hạ sĩ quan và binh sĩ trong khi chiến đấu đã tỏ ra anh dũng, linh hoạt, lập được chiến công, hoặc trong công tác có thành tích xuất sắc.
d) Cán bộ công tác ở các ngành ngoài Quân đội được Bộ Quốc phòng trưng tập.
Sĩ quan dự bị gồm có:
a) Những sĩ quan được xếp vào ngạch dự bị theo điều 30.
b) Những hạ sĩ quan đã hết hạn tại ngũ trước khi chuyển sang dự bị, hoặc trong thời gian dự bị mà trúng tuyển kỳ thi sĩ quan dự bị và được phong cấp Thiếu uý dự bị.
c) Những học sinh tốt nghiệp các trường Đại học và kỹ thuật chuyên nghiệp trúng tuyển kỳ thi sĩ quan dự bị, hoặc có trí thức chuyên môn có thể đảm nhiệm được chức vụ trong Quân đội và được phong cấp bậc sĩ quan dự bị.
QUÂN HÀM VÀ CHỨC VỤ CỦA SĨ QUAN
Hệ thống quân hàm sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam gồm các cấp bậc sau đây:
1) Tướng: Đại tướng
Thượng tướng
Trung tướng
Thiếu tướng.
2) Tá: Đại tá
Thượng tá
Trung tá
Thiếu tá.
3) Uý: Đại uý
Thượng uý
Trung uý
Thiếu uý.
Chuẩn uý chưa phải là sĩ quan, mới là một cấp chuẩn bị lên sĩ quan.
Việc xét phong cấp bậc quân hàm cho cán bộ căn cứ vào phẩm chất chính trị, năng lực nghiệp vụ, cấp bậc và chức vụ hiện tại, thành tích phục vụ trong Quân đội và công lao đối với Cách mạng của cán bộ.
Có thể được phong Thiếu uý:
1) Những quân nhân tốt nghiệp ở các Trường đào tạo sĩ quan của Bộ Quốc phòng.
2) Những hạ sĩ quan và binh sĩ khi chiến đấu đã tỏ ra anh dũng, linh hoạt, lập được chiến công hoặc trong công tác có thành tích xuất sắc.
Những cán bộ công tác ở các ngành ngoài Quân đội được Bộ Quốc phòng trưng tập thì có thể được phong cấp bậc Thiếu uý hoặc phong một cấp bậc cao hơn.
Quyền phong cấp bậc cho sĩ quan quy định như sau:
- Chủ tịch nước phong các cấp bậc Thiếu tướng, Trung tướng, Thượng tướng và Đại tướng.
- Thủ tướng Chính phủ phong các cấp bậc Thượng tá và Đại tá.
- Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng phong các cấp bậc Thiếu uý, Trung uý, Thượng uý, Đại uý, Thiếu tá và Trung tá.
Việc xét thăng cấp bậc cho sĩ quan căn cứ vào niên hạn ở cấp bậc quân hàm hiện tại, phẩm chất chính trị, năng lực nghiệp vụ, thành tích chiến đấu và công tác.
Niên hạn tối thiểu của sĩ quan tại ngũ để xét việc thăng cấp bậc ấn định như sau:
- Từ Thiếu uý lên Trung uý 3 năm
- Từ Trung uý lên Thượng uý 3 năm
- Từ Thượng uý lên Đại uý 4 năm
- Từ Đại uý lên Thiếu tá 4 năm
- Từ Thiếu tá lên Trung tá 4 năm
- Từ Trung tá lên Thượng tá 4 năm
- Từ Thượng tá lên Đại tá 5 năm
Từ cấp Đại tá trở lên thì việc thăng cấp bậc căn cứ vào nhu cầu của Quân đội, đức tài và thành tích của sĩ quan mà quyết định.
Thời gian sĩ quan học tập tại các trường quân sự được tính vào niên hạn thăng cấp bậc.
Những sĩ quan có công trạng, thành tích đặc biệt về chiến đấu hoặc công tác có thể được xét thăng cấp trước khi đủ niên hạn.
Những sĩ quan đã đủ niên hạn để xét thăng cấp bậc nhưng chưa đủ tiêu chuẩn để được thăng cấp bậc như đã nói ở điều 10 thì có thể được kéo dài niên hạn từ một năm đến ba năm. Sau thời hạn này nếu vẫn không đủ điều kiện để được thăng cấp bậc thì sĩ quan sẽ chuyển sang ngạch dự bị.
Quyền thăng cấp bậc cho sĩ quan quy định như sau:
- Chủ tịch nước quyết định cho thăng lên các cấp bậc Thiếu tướng, Trung tướng, Thượng tướng và Đại tướng.
- Thủ tướng Chính phủ quyết định cho thăng lên các cấp bậc Thượng tá, Đại tá.
- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định cho thăng lên các cấp bậc Thượng uý, Đại uý, Thiếu tá, Trung tá.
- Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm các Tổng Cục, Tổng thanh tra Quân đội và các cấp tương đương quyết định cho thăng lên Trung uý đối với những Thiếu uý thuộc quyền và thăng lên Thượng uý đối với những Trung uý thuộc quyền.
- Tư lệnh và Chính uỷ Quân Khu quyết định cho thăng lên Trung uý đối với những Thiếu uý thuộc quyền; Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng có thể uỷ quyền cho Tư lệnh và Chính uỷ Quân khu quyết định cho thăng lên Thượng uý đối với những Trung uý thuộc quyền.
Mỗi lần thăng cấp bậc, sĩ quan chỉ được thăng lên một bậc. Trường hợp đặc biệt cần thăng vượt bậc thì từ Thiếu uý đến Trung tá do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định; từ Trung tá đến Đại tá do Thủ tướng Chính phủ quyết định, từ Thiếu tướng trở lên do Chủ tịch nước quyết định.
Cấp có thẩm quyền cho thăng lên cấp bậc nào thì có thẩm quyền giáng đối với cấp bậc ấy. Mỗi khi quyết định giáng cấp bậc chỉ được giáng xuống một bậc. Trường hợp phải giáng xuống nhiều bậc thì đối với các sĩ quan từ Thiếu tướng đến Đại tướng do Chủ tịch nước quyết định; từ Thượng tá đến Đại tá do Thủ tướng Chính phủ quyết định; từ Trung tá trở xuống do Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng quyết định. Kỷ luật giáng cấp bậc không áp dụng đối với Thiếu uý.
Đối với sĩ quan bị giáng cấp bậc, niên hạn thăng ở cấp bậc mới tính từ ngày bị giáng cấp bậc.
Những sĩ quan bị giáng cấp bậc sau đã sửa chữa sai lầm, hoặc đã có thành tích xuất sắc trong chiến đấu hoặc trong công tác, thì có thể được rút ngắn niên hạn thăng cấp bậc.
Những sĩ quan tại ngũ hoặc sĩ quan dự bị phạm pháp bị toà án xử phạt tù thì có thể bị tước quân hàm sĩ quan. Việc tước quân hàm sĩ quan ở cấp nào do cấp có thẩm quyền phong hay thăng cấp ấy quyết định.
Những người bị tước quân hàm sĩ quan theo điều 19, sau khi đã hết hạn tù, thì tuỳ theo nhu cầu của Quân đội có thể được gọi ra tiếp tục phục vụ trong Quân đội, và có thể tuỳ theo tính chất sai lầm trong khi phạm pháp, mức độ cải tạo và năng lực công tác của sĩ quan mà được phong một cấp bậc thích đáng.
Mỗi cấp bậc quân hàm có một chức vụ tương đương trong biên chế.
Hệ thống chức vụ trong biên chế của Quân đội do Chính phủ ấn định căn cứ vào tình hình tổ chức cụ thể của Quân đội trong từng giai đoạn.
Việc bổ nhiệm sĩ quan vào các chức vụ trong biên chế Quân đội căn cứ vào phẩm chất chính trị, năng lực nghiệp vụ của mỗi người. Việc bổ nhiệm sĩ quan vào các chức vụ trong biên chế Quân đội căn cứ vào nhu cầu của biên chế.
Quyền bổ nhiệm chức vụ, giáng chức vụ và bãi chức vụ đối với sĩ quan quy định như sau:
1- Chủ tịch nước quyết định đối với các chức vụ: Tổng Tư lệnh, Tổng Tham mưu trưởng và Tổng Tham mưu phó, Chủ nhiệm và Phó Chủ nhiệm các Tổng cục, Tổng Thanh tra và Phó Tổng Thanh tra Quân đội, Tư lệnh, Chính uỷ quân khu và các cấp tương đương.
2- Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với các chức vụ Quân khu phó, Tham mưu trưởng và Chủ nhiệm chính trị quân khu, Sư đoàn trưởng, Chính uỷ sư đoàn, Sư đoàn phó và các cấp tương đương.
3- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định đối với các chức vụ từ Trung đoàn trưởng, Chính uỷ Trung đoàn trở xuống. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có thể uỷ quyền cho Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm các Tổng cục, Tư lệnh và Chính uỷ quân khu và các cấp tương đương quyết định đối với các chức vụ từ Tiểu đoàn trưởng trở xuống.
Vì nhu cầu công tác hoặc vì lý do sức khoẻ một sĩ quan có thể được giao cho giữ một chức vụ thấp hơn chức vụ tương đương với quân hàm của mình. Nhưng trường hợp này không phải là giáng chức, sĩ quan vẫn giữ nguyên cấp bậc cũ.
Trong trường hợp khẩn cấp, Thủ trưởng đơn vị từ cấp Trung đoàn trưởng trở lên có quyền quyết định đình chỉ chức vụ đối với các sĩ quan thuộc quyền dưới mình hai cấp, và có quyền chỉ định người khác thay thế, nhưng phải báo cáo ngay lên cấp có thẩm quyền xét duyệt.
Những sĩ quan tại ngũ được Bộ Quốc phòng cử đến các ngành ngoài Quân đội để phụ trách những công tác có tính chất quân sự hoặc liên quan đến Quốc phòng gọi là sĩ quan tại ngũ biệt phái.
Các ngành ngoài Quân đội, khi muốn thay đổi công tác của sĩ quan tại ngũ biệt phái đến công tác ở ngành mình thì phải được Bộ Quốc phòng đồng ý.
Bộ Quốc phòng có quyền thay đổi sĩ quan tại ngũ biệt phái hoặc rút về phục vụ trong Quân dội.
Sĩ quan tại ngũ biệt phái có những nghĩa vụ và quyền lợi như các sĩ quan tại ngũ khác.
Sĩ quan tại ngũ biệt phái có nhiệm vụ tham gia những lớp huấn luyện quân sự theo quy định của Bộ Quốc phòng.
Lương và phụ cấp sĩ quan tại ngũ biệt phái do cơ quan sử dụng đài thọ căn cứ vào chức vụ giao cho sĩ quan đảm nhiệm, nhưng không được thấp hơn tiêu chuẩn mà sĩ quan đã được hưởng trước kia trong Quân đội.
SĨ QUAN XUẤT NGŨ, CHUYỂN SANG DỰ BỊ, GIẢI NGẠCH DỰ BỊ
Sĩ quan tại ngũ ở vào một trong những trường hợp dưới đây được cấp có thẩm quyền chuẩn y thì được xuất ngũ:
1) Quá tuổi tại ngũ ấn định ở điều 39.
2) Không còn đủ điều kiện sức khoẻ để tiếp tục công tác tại ngũ.
3) Quân đội thực hiện việc chỉnh biên, giảm bớt quân số.
4) Được chuyển ngành đi nhận công tác khác ngoài Quân đội.
5) Thiếu khả năng chuyên môn hoặc những điều kiện cần thiết để tiếp tục công tác tại ngũ.
6) Bản thân sĩ quân yêu cầu và được cấp có thẩm quyền chuẩn y.
Sĩ quan xuất ngũ nhưng còn đủ điều kiện về các mặt tuổi, sức khoẻ và khả năng để phục vụ trong ngạch dự bị, và được cấp có thẩm quyền chuẩn y, thì được xếp vào ngạch dự bị.
Sĩ quan dự bị có nhiệm vụ tham gia những lớp huấn luyện quân sự theo quy định của Bộ Quốc phòng.
Sĩ quan dự bị khi tham gia các lớp huấn luyện quân sự, nếu có thành tích xuất sắc, có thể được thăng cấp quân hàm.
Trong thời gian tham gia các lớp huấn luyện quân sự, nếu sĩ quan dự bị phạm tội thì do Toà án binh xét xử.
Trong thời chiến, sĩ quan dự bị được gọi ra từng phần hoặc toàn bộ để phục vụ tại ngũ theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc các cấp được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng uỷ quyền. Trong thời bình, tuỳ theo nhu cầu của Quân đội, sĩ quan dự bị có thể được gọi ra từng người phục vụ tại ngũ.
Sĩ quan dự bị ở vào một trong những trường hợp dưới đây và được cấp có thẩm quyền chuẩn y thì được phép giải ngạch dự bị:
1) Đã phục vụ đến hết hạn tuổi dự bị hạng 2 của cấp bậc mình.
2) Bị bệnh, bị thương, bị tàn phế, không thể phục vụ được nữa.
Sĩ quan xuất ngũ, sĩ quan dự bị và sĩ quan giải ngạch dự bị vẫn được giữ danh hiệu cấp bậc quân hàm cũ của mình.
Các cấp sau đây có quyền chuẩn y cho sĩ quan xuất ngũ, chuyển sang dự bị hoặc giải ngạch dự bị.
1) Chủ tịch nước quyết định đối với các cấp bậc Thiếu tướng, Trung tướng, Thượng tướng và Đại tướng.
2) Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với các cấp bậc Thượng tá và Đại tá.
3) Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định đối với các cấp bậc Thượng uý, Đại uý, Thiếu tá và Trung tá.
4) Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm các Tổng Cục, Tổng Thanh tra Quân đội và các cấp tương đương quyết định đối với những thiếu uý, Trung uý và Thượng uý thuộc quyền.
5) Tư lệnh và Chính uỷ Quân khu, hoặc các cấp tương đương quyết định đối với những thiếu uý và Trung uý thuộc quyền. Tuỳ theo tình hình cụ thể của từng Quân khu, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có thể uỷ quyền cho Tư lệnh và Chính uỷ Quân khu quyết định đối với những Thượng uý thuộc quyền.
NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA SĨ QUAN
Sĩ quan có nghĩa vụ và quyền lợi công dân quy định trong hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Hạn tuổi phục vụ cao nhất của các sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị ấn định như sau:
| Cấp bậc | Tại ngũ | Dự bị hạng 1 | Dự bị hạng 2 |
| a) Sĩ quan lục quân: | |||
| Thiếu uý | 33 tuổi | 43 tuổi | 48 tuổi |
| Trung uý | 33 - | 43 - | 48 - |
| Thượng uý | 38 - | 48 - | 52 - |
| Đại uý ³ | 38 - | 48 - | 53 - |
| Thiếu tá | 43 - | 53 - | 58 - |
| Trung tá | 48 - | 58 - | 63 - |
| Thượng tá | 50 - | 58 - | 63 - |
| Đại tá | 50 - | 58 - | 63 - |
| Thiếu tướng | 55 - | 60 - | 65 - |
| b) Sĩ quan hải quân và không quân | |||
| Thiếu uý | 38 - | 43 - | 48 - |
| Trung uý | 38 - | 43 - | 48 - |
| Thượng uý | 43 - | 48 - | 53 - |
| Đại uý | 43 - | 48 - | 53 - |
| Thiếu tá | 48 - | 53 - | 58 - |
| Trung tá | 53 - | 58 - | 63 - |
| Thượng tá | 53 - | 58 - | 63 - |
| Đại tá | 55 - | 58 - | 63 - |
| Thiếu tướng | 58 - | 60 - | 65 - |
Từ Trung tướng trở lên không ấn định hạn tuổi phục vụ cao nhất.
Hạn tuổi phục vụ cao nhất của các loại sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân y và thú y do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ấn định.
Tuỳ theo sự cần thiết của Quân đội, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền kéo dài thời hạn tại ngũ của từng sĩ quan từ cấp bậc Thiếu uý đến cấp bậc Đại tá đến hết hạn dự bị hạng 2 của mỗi cấp bậc sĩ quan. Đối với cấp bậc Thiếu tướng, nếu cần kéo dài thời hạn tại ngũ, thì phải được Thủ tướng Chính phủ chuẩn y.
Trong thời bình, sĩ quan tại ngũ được nghỉ phép theo chế độ hàng năm. Khi có tuyên bố tình trạng chiến tranh thì tất cả các sĩ quan đang nghỉ phép phải tức khắc trở về đơn vị của mình. Người nào làm trái với điều này sẽ bị thi hành kỷ luật.
Sĩ quan cấp bậc quân hàm cao là cấp trên của sĩ quan cấp bậc quân hàm thấp hơn. Trường hợp một sĩ quan mà chức vụ phụ thuộc vào một sĩ quan khác ở cấp bậc quân hàm thấp hơn hoặc ngang cấp bậc mình, thì người giữ chức vụ phụ thuộc này là cấp dưới của người giữ chức vụ cao.
Khi cấp trên giao công tác, nếu sĩ quan không nhận nhiệm vụ hoặc trì hoãn thời hạn nhận nhiệm vụ mà không có lý do chính đáng, thì sẽ bị thi hành kỷ luật.
Sĩ quan lập được công trạng sẽ được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen hay danh hiệu vinh dự theo các thể lệ hiện nay.
Sĩ quan phải đeo đúng cấp hiệu của cấp bậc mình. Những sĩ quan dự bị chỉ mang cấp hiệu của mình trong khi tham dự các lớp huấn luyện quân sự. Người nào trái với điều này sẽ bị thi hành kỷ luật. Mẫu quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của sĩ quan do Chính phủ ấn định.
Những điểm về kỷ luật nói ở điều 41, 43 và 45 trên đây sẽ do Chính phủ quy định trong quy chế Quân đội.
Sắc lệnh số 116/SL ngày 25 tháng 1 năm 1948 đặt một hệ thống quân hàm, sắc lệnh số 131/SL ngày 15 tháng 2 năm 1948 phân hạng và định hạn thăng cấp cho các Đại uý, Thiếu tá và Trung tá trong Quân đội quốc gia Việt Nam và các điều khoản trong các luật lệ khác ban hành trước đây trái với luật này đều bãi bỏ.
Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật này.
| Hồ Chí Minh (Đã ký) |
- 1Sắc lệnh số 116/SL về việc đặt một hệ thống "quân hàm" do Chủ tịch Chính phủ Việt nam Dân chủ cộng hoà ban hành
- 2Sắc lệnh số 131/SL về việc phân hạng và định hạn thăng cấp cho các Đại uý, Thiếu tá và Trung tá trong quân đội quốc gia Việt nam do Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành
- 3Pháp lệnh quy định chế độ phục vụ của sỹ quan công an nhân dân vũ trang năm 1961
- 4Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân 1981
- 5Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 1990
- 6Nghị định 307-TTg năm 1958 về điều lệ quy định quân hiệu cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1Sắc lệnh số 116/SL về việc đặt một hệ thống "quân hàm" do Chủ tịch Chính phủ Việt nam Dân chủ cộng hoà ban hành
- 2Sắc lệnh số 131/SL về việc phân hạng và định hạn thăng cấp cho các Đại uý, Thiếu tá và Trung tá trong quân đội quốc gia Việt nam do Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành
- 3Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân 1981
- 1Nghị định 511-TTg năm 1958 quy định chế độ của sĩ quan tại ngũ biệt phái nói trong luật 109-SL/L11 do Thủ Tướng ban hành
- 2Hiến pháp năm 1946
- 3Pháp lệnh quy định chế độ phục vụ của sỹ quan công an nhân dân vũ trang năm 1961
- 4Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 1990
- 5Nghị định 307-TTg năm 1958 về điều lệ quy định quân hiệu cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Luật chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân 1958
- Số hiệu: 109-SL/L011
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 31/05/1958
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Hồ Chí Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 23
- Ngày hiệu lực: 14/05/1958
- Ngày hết hiệu lực: 14/01/1982
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
