Ngày 21 tháng 12 năm 1990, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Văn bản này được ban hành nhằm điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống cấp bậc quân hàm, thời hạn thăng cấp, hạn tuổi phục vụ cũng như các chế độ chính sách về tiền lương, phụ cấp đối với đội ngũ sĩ quan, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng quân đội chính quy và tinh nhuệ trong tình hình mới.
Đối tượng áp dụng của văn bản bao gồm toàn bộ sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đang phục vụ tại ngũ và sĩ quan thuộc lực lượng dự bị. Phạm vi điều chỉnh tập trung vào các quy định cốt lõi về tổ chức nhân sự, tiêu chuẩn thăng quân hàm, độ tuổi phục vụ tối đa và các quyền lợi vật chất của sĩ quan.
Sửa đổi hệ thống quân hàm cấp tá
Luật thực hiện sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 7 nhằm chuẩn hóa hệ thống quân hàm của sĩ quan cấp tá. Theo quy định mới, cấp tá trong Quân đội nhân dân Việt Nam được cơ cấu thống nhất thành 4 bậc cụ thể bao gồm:
- Đại tá;
- Thượng tá;
- Trung tá;
- Thiếu tá.
Quy định chi tiết về thời hạn xét thăng quân hàm
Điều 9 của Luật được sửa đổi nhằm thiết lập lộ trình thăng tiến rõ ràng, chặt chẽ cho sĩ quan thông qua việc quy định cụ thể thời hạn tối thiểu để xét thăng quân hàm giữa các cấp bậc:
- Từ Thiếu uý lên Trung uý: Thời hạn xét là 2 năm.
- Từ Trung uý lên Thượng uý: Thời hạn xét là 3 năm.
- Từ Thượng uý lên Đại uý: Thời hạn xét là 3 năm.
- Từ Đại uý lên Thiếu tá: Thời hạn xét là 4 năm.
- Từ Thiếu tá lên Trung tá: Thời hạn xét là 4 năm.
- Từ Trung tá lên Thượng tá: Thời hạn xét là 4 năm.
- Từ Thượng tá lên Đại tá: Thời hạn xét là 4 năm.
Bên cạnh đó, Luật cũng bổ sung các quy tắc đặc thù trong việc tính thời hạn thăng quân hàm:
- Đối với việc xét thăng quân hàm cấp tướng: Không quy định thời hạn cụ thể mà căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và quyết định của cấp có thẩm quyền.
- Thời gian sĩ quan học tập tại các trường quân đội hoặc cơ sở đào tạo được tính trực tiếp vào thời hạn để xét thăng quân hàm.
- Trong điều kiện thời chiến, thời hạn xét thăng quân hàm có thể được rút ngắn hơn so với thời bình theo các quy định hướng dẫn cụ thể của Hội đồng bộ trưởng.
Nguyên tắc bố trí quân hàm theo chức vụ và chế độ nâng lương thay thế
Sửa đổi đoạn 2 Điều 12 quy định về mối tương quan giữa chức vụ và cấp bậc quân hàm nhằm đảm bảo tính linh hoạt trong công tác cán bộ:
- Mỗi chức vụ trong quân đội được bố trí tối đa không quá ba bậc quân hàm kế tiếp nhau.
- Trong trường hợp sĩ quan đã đạt đến bậc quân hàm cao nhất quy định cho chức vụ đang đảm nhiệm, đồng thời có đủ tiêu chuẩn và đã đến thời hạn xét thăng quân hàm nhưng do nhu cầu tổ chức không thể bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn, thì sĩ quan đó sẽ không thăng quân hàm. Thay vào đó, họ sẽ được xem xét nâng mức lương theo quy định của chế độ tiền lương sĩ quan hiện hành nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng.
Hạn tuổi phục vụ của sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị
Điều 32 được sửa đổi toàn diện nhằm phân định rõ ràng độ tuổi phục vụ tối đa của sĩ quan theo từng cấp bậc quân hàm, áp dụng cho cả lực lượng tại ngũ và hai hạng sĩ quan dự bị:
- Cấp uý: Hạn tuổi phục vụ tại ngũ là 38 tuổi; tuổi dự bị hạng một là 43 tuổi; tuổi dự bị hạng hai là 48 tuổi.
- Thiếu tá: Hạn tuổi phục vụ tại ngũ là 43 tuổi; tuổi dự bị hạng một là 48 tuổi; tuổi dự bị hạng hai là 52 tuổi.
- Trung tá: Hạn tuổi phục vụ tại ngũ là 48 tuổi; tuổi dự bị hạng một là 52 tuổi; tuổi dự bị hạng hai là 55 tuổi.
- Thượng tá: Hạn tuổi phục vụ tại ngũ là 52 tuổi; tuổi dự bị hạng một là 55 tuổi; tuổi dự bị hạng hai là 58 tuổi.
- Đại tá: Hạn tuổi phục vụ tại ngũ là 55 tuổi; tuổi dự bị hạng một là 58 tuổi; tuổi dự bị hạng hai là 60 tuổi.
- Thiếu tướng và Chuẩn đô đốc hải quân: Hạn tuổi phục vụ tại ngũ là 60 tuổi; tuổi dự bị hạng một là 63 tuổi; tuổi dự bị hạng hai là 65 tuổi.
- Đối với sĩ quan từ Trung tướng, Phó đô đốc hải quân trở lên: Không quy định giới hạn độ tuổi phục vụ cụ thể. Tuy nhiên, trong trường hợp vì lý do sức khỏe không đảm bảo hoặc do năng lực không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ thực tế thì sẽ thực hiện chế độ nghỉ hưu theo quy định.
Quy định về việc kéo dài tuổi phục vụ tại ngũ
Điều 33 quy định cơ chế kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ đối với các trường hợp đặc biệt nhằm tận dụng nguồn nhân lực chất lượng cao:
- Căn cứ vào nhu cầu thực tế của Quân đội cùng với phẩm chất, năng lực và tình trạng sức khỏe của từng cá nhân, hạn tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan có thể được kéo dài tối đa đến hết hạn tuổi dự bị hạng một.
- Đối với các sĩ quan trực tiếp làm công tác nghiên cứu khoa học hoặc giảng dạy tại các học viện, nhà trường trong quân đội, thời gian phục vụ tại ngũ có thể kéo dài đến hết hạn tuổi dự bị hạng hai. Trong các trường hợp đặc biệt xuất phát từ nhu cầu cấp thiết, thời hạn này có thể kéo dài vượt quá hạn tuổi dự bị hạng hai.
- Về thẩm quyền quyết định: Người có thẩm quyền quyết định thăng quân hàm đối với sĩ quan ở cấp bậc nào thì đồng thời có thẩm quyền quyết định kéo dài hạn tuổi phục vụ tại ngũ đối với sĩ quan ở cấp bậc đó.
Chế độ tiền lương và phụ cấp đối với sĩ quan
Điều 39 được sửa đổi nhằm bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho sĩ quan, tạo động lực cống hiến lâu dài:
- Sĩ quan tại ngũ được hưởng chế độ tiền lương và các khoản phụ cấp do Hội đồng bộ trưởng quy định thống nhất.
- Bảng lương của sĩ quan được xây dựng khoa học dựa trên hai yếu tố chủ đạo là cấp bậc quân hàm và chức vụ đảm nhiệm, bảo đảm phù hợp với tính chất lao động đặc thù và nhiệm vụ quốc phòng.
- Chế độ phụ cấp thâm niên được tính toán dựa trên tổng thời gian sĩ quan phục vụ thực tế tại ngũ. Ngoài ra, những sĩ quan thực hiện các nhiệm vụ có tính chất đặc thù, nguy hiểm hoặc gian khổ sẽ được hưởng thêm các khoản phụ cấp đặc thù tương ứng.
Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 1990 đã được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công ký sắc lệnh công bố ban hành, chính thức có hiệu lực thi hành và áp dụng thống nhất trong toàn quốc kể từ ngày thông qua.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 45-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 1990 |
LUẬT
CỦA QUỐC HỘI SỐ 45-LCT/HĐNN8 NGÀY21/12/1990 VỀ VIỆCSỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT VỀ SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:
1-
"2. Cấp tá có 4 bậc:
Đại tá;
Thượng tá;
Trung tá;
Thiếu tá."
2-
"Điều 9.
Thời hạn xét thăng quân hàm được quy định như sau:
Thiếu uý lên trung uý: 2 năm;
Trung uý lên thượng uý: 3 năm;
Thượng uý lên đại uý: 3 năm;
Đại uý lên thiếu tá: 4 năm;
Thiếu tá lên trung tá: 4 năm;
Trung tá lên thượng tá: 4 năm;
Thượng tá lên đại tá: 4 năm.
Việc xét thăng quân hàm cấp tướng không quy định thời hạn.
Thời gian học tập tại trường được tính vào thời hạn để xét thăng quân hàm.
Trong thời chiến, thời hạn xét thăng quân hàm có thể được rút ngắn theo quy định của Hội đồng bộ trưởng."
3- Đoạn 2
4-
"Điều 32.
Hạn tuổi phục vụ của sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị được quy định như sau:
| Cấp bậc tại ngũ | Tuổi | Tuổi dự bị | Tuổi |
| Cấp uý Thiếu tá Trung tá Thượng tá Đại tá Thiếu tướng và chuẩn đô đốc hải quân | 38 43 48 52 55 60 | 43 48 52 55 58 63 | 48 52 55 58 60 65 |
Đối với sĩ quan có bậc quân hàm từ trung tướng và phó đô đốc hải quân trở lên thì không quy định hạn tuổi phục vụ; trong trường hợp vì điều kiện sức khoẻ hoặc do năng lực mà không đảm đương được nhiệm vụ, thì thực hiện chế độ nghỉ hưu."
5-
"Điều 33.
Căn cứ vào nhu cầu của Quân đội và phẩm chất, năng lực, sức khoẻ của từng sĩ quan, hạn tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan có thể kéo dài đến hết hạn tuổi dự bị hạng một; đối với sĩ quan làm công tác nghiên cứu khoa học và giáo viên các trường trong quân đội, thì có thể kéo dài đến hết hạn tuổi dự bị hạng hai; trong trường hợp đặc biệt thì có thể kéo dài trên hạn tuổi dự bị hạng hai.
Người có thẩm quyền thăng quân hàm đối với sĩ quan ở cấp bậc nào, thì có quyền kéo dài hạn tuổi phục vụ tại ngũ đối với sĩ quan ở cấp bậc đó."
6-
"Điều 39.
Sĩ quan tại ngũ được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Bảng lương của sĩ quan căn cứ vào cấp bậc quân hàm và chức vụ được quy định phù hợp với tính chất nhiệm vụ của quân đội.
Phụ cấp thâm niên được tính theo thời gian sĩ quan phục vụ tại ngũ; sĩ quan làm nhiệm vụ có tính chất đặc thù còn được hưởng các khoản phụ cấp khác."
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990.
| Võ Chí Công (Đã ký) |
- 1Luật chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân 1958
- 2Nghị định 78-CP năm 1997 quy định quân hiệu, cấp hiệu, lễ phục, quân kỳ, phù hiệu kiểm soát, biển công tác, cờ hiệu, giấy chứng minh của Bộ đội biên phòng
- 3Công văn về việc tiếp nhận hồ sơ BHXH đối với lực lượng vũ trang
- 4Quyết định 595/TTg năm 1993 về chế độ đối với quân nhân, công an nhân dân khi xuất ngũ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 5Nghị quyết về việc thi hành các Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật nghĩa vụ quân sự và Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1990 do Quốc hội ban hành
- 6Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam 1999
- 7Quyết định 814/QĐ-TTg năm 2007 về việc Trung tướng Đặng Quân Thụy, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam nghỉ hưu do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1Luật chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân 1958
- 2Hiến pháp năm 1980
- 3Nghị quyết về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Quốc hội ban hành
- 4Nghị định 77-HĐBT năm 1991 quy định các cấp bậc quân hàm để bố trí vào các chức vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 5Nghị định 78-CP năm 1997 quy định quân hiệu, cấp hiệu, lễ phục, quân kỳ, phù hiệu kiểm soát, biển công tác, cờ hiệu, giấy chứng minh của Bộ đội biên phòng
- 6Công văn về việc tiếp nhận hồ sơ BHXH đối với lực lượng vũ trang
- 7Quyết định 595/TTg năm 1993 về chế độ đối với quân nhân, công an nhân dân khi xuất ngũ do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 8Nghị quyết về việc thi hành các Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật nghĩa vụ quân sự và Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1990 do Quốc hội ban hành
- 9Quyết định 814/QĐ-TTg năm 2007 về việc Trung tướng Đặng Quân Thụy, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam nghỉ hưu do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 1990
- Số hiệu: 45-LCT/HĐNN8
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 21/12/1990
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 3
- Ngày hiệu lực: 02/01/1991
- Ngày hết hiệu lực: 01/04/2000
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
