Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 18 tháng 12 năm 1987 nhằm thiết lập hệ thống tổ chức Đoàn luật sư, quy định tiêu chuẩn, quyền hạn, nghĩa vụ của luật sư và cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư tại Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh này áp dụng đối với các tổ chức luật sư (Đoàn luật sư), các luật sư, luật sư tập sự, các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng, cùng toàn thể công dân và tổ chức có nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý trên phạm vi cả nước.
Vị trí, vai trò và nguyên tắc hoạt động của tổ chức luật sư
- Tổ chức luật sư tại Việt Nam là các Đoàn luật sư được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương đương nhằm hỗ trợ pháp lý cho công dân và tổ chức.
- Hoạt động của luật sư góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cường quản lý kinh tế - xã hội theo pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo đảm xét xử khách quan và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa.
- Tổ chức luật sư và luật sư phải hoạt động tuân thủ pháp luật, tôn trọng sự thật khách quan, được Nhà nước và xã hội khuyến khích, tạo điều kiện hoạt động.
Quản lý nhà nước và giám sát hoạt động luật sư
- Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra về tổ chức và hoạt động của các Đoàn luật sư theo Quy chế do Hội đồng Bộ trưởng ban hành.
- Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp thực hiện giám sát hoạt động của Đoàn luật sư tại địa phương, đồng thời hỗ trợ tạo điều kiện cho luật sư thực hiện nhiệm vụ.
Thành lập và cơ cấu tổ chức của Đoàn luật sư
- Đoàn luật sư là tổ chức nghề nghiệp có tư cách pháp nhân, hoạt động kể từ ngày đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
- Điều kiện thành lập: Có từ hai người trở lên đủ tiêu chuẩn làm luật sư đề nghị, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh giới thiệu và Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định cho phép thành lập sau khi thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
- Cơ quan cao nhất của Đoàn luật sư là Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư. Hội nghị bầu ra Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra với nhiệm kỳ 3 năm để điều hành và kiểm tra các hoạt động của Đoàn.
Tiêu chuẩn gia nhập và chế độ tập sự luật sư
- Tiêu chuẩn gia nhập: Là công dân Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, tốt nghiệp đại học pháp lý hoặc có trình độ pháp lý tương đương.
- Đối tượng loại trừ: Những người đang công tác tại các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp chế không được gia nhập Đoàn luật sư, ngoại trừ người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy pháp lý tại các viện, trường thuộc các cơ quan đó.
- Thủ tục gia nhập: Phải được Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư thông qua theo đề nghị của Ban chủ nhiệm.
- Chế độ tập sự: Người mới gia nhập phải tập sự từ 6 tháng đến 2 năm và trải qua kỳ kiểm tra để được công nhận là luật sư chính thức. Luật sư tập sự có các quyền và nghĩa vụ như luật sư chính thức (bao gồm quyền bào chữa), trừ quyền bầu cử và ứng cử vào Ban chủ nhiệm, Ban kiểm tra.
Hình thức giúp đỡ pháp lý và quyền hạn của luật sư
- Các hình thức giúp đỡ pháp lý bao gồm: Tham gia tố tụng (bào chữa cho bị can, bị cáo, đại diện cho người bị hại, đương sự trong các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động); tư vấn pháp luật cho các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước; thực hiện các dịch vụ pháp lý khác.
- Quyền của luật sư khi tham gia tố tụng: Bình đẳng với các thành phần khác trước Tòa án; không bị buộc làm chứng về thông tin biết được khi thực hiện nhiệm vụ; nghiên cứu hồ sơ, gặp riêng bị can, bị cáo; đề xuất chứng cứ, trưng cầu giám định; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng; tham gia tranh luận tại phiên tòa; kháng cáo bản án đối với người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm thể chất, tâm thần.
- Quyền đại diện: Luật sư làm tư vấn pháp luật cho tổ chức kinh tế có quyền đại diện cho tổ chức đó trước Trọng tài kinh tế hoặc cơ quan xét xử khác.
Nghĩa vụ và các trường hợp không được hành nghề của luật sư
- Nghĩa vụ của luật sư: Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng; không được từ chối bào chữa, đại diện đã đảm nhận hoặc được chỉ định nếu không có lý do chính đáng; giữ bí mật thông tin biết được trong quá trình hành nghề.
- Trường hợp không được bào chữa, đại diện: Đã tham gia tố tụng trong cùng vụ án với tư cách điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, người làm chứng, giám định, phiên dịch; hoặc là người thân thích của những người tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
- Quy tắc đại diện: Một luật sư có thể bào chữa cho nhiều người trong cùng vụ án nếu quyền lợi của họ không đối lập; nhiều luật sư có thể cùng bào chữa cho một người.
Chế độ tài chính, thù lao và bảo hiểm xã hội
- Phạm vi hoạt động: Luật sư được phép thực hiện hoạt động giúp đỡ pháp lý ngoài phạm vi địa phương nơi mình đăng ký hoạt động.
- Thù lao: Khách hàng phải trả thù lao khi nhờ luật sư giúp đỡ. Luật sư nhận thù lao thông qua Đoàn luật sư với tỷ lệ hưởng từ 70% đến 80% tiền thù lao của mỗi vụ việc (tỷ lệ cụ thể do Hội nghị toàn thể quyết định).
- Quỹ của Đoàn luật sư: Được trích từ một phần tiền thù lao thu được và các nguồn thu hợp pháp khác, việc sử dụng quỹ do Hội nghị toàn thể quyết định.
- Chế độ bảo hiểm: Luật sư và nhân viên giúp việc của Đoàn luật sư được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định chung của pháp luật.
Khen thưởng, kỷ luật và điều khoản thi hành
- Việc khen thưởng và xử lý kỷ luật đối với Đoàn luật sư và luật sư được thực hiện theo Quy chế Đoàn luật sư.
- Hội đồng Bộ trưởng có trách nhiệm ban hành Quy chế Đoàn luật sư sau khi lấy ý kiến của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 có hiệu lực kể từ ngày ban hành, ngày 18 tháng 12 năm 1987.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2A-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 1987 |
Để tăng cường hoạt động giúp đỡ pháp lý cho công dân và các tổ chức;
Căn cứ vào Điều 100 và Điều 133 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Pháp lệnh này quy định về tổ chức luật sư.
Tổ chức luật sư và các luật sư hoạt động theo pháp luật, tôn trọng sự thật khách quan.
Đoàn luật sư là tổ chức nghề nghiệp của các luật sư.
Khi có từ hai người trở lên có đủ điều kiện làm luật sư quy định ở
Căn cứ vào quyết định của Uỷ ban nhân dân, những người có đề nghị nói ở đoạn 1 của Điều này tổ chức hội nghị thành lập Đoàn luật sư. Hội nghị thông qua Điều lệ và bầu ra các cơ quan của Đoàn theo Quy chế Đoàn luật sư.
Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư là cơ quan cao nhất của Đoàn luật sư.
Hội nghị toàn thể bầu ra Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra. Nhiệm kỳ của Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra là 3 năm.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội nghị toàn thể, Ban chủ nhiệm và Ban kiểm tra do Quy chế Đoàn luật sư quy định.
Đoàn luật sư thông qua Ban chủ nhiệm tổ chức các hoạt động của luật sư.
Những người có đủ các điều kiện sau đây có thể gia nhập Đoàn luật sư:
1- Là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
2- Có phẩm chất, đạo đức tốt;
3- Tốt nghiệp đại học pháp lý hoặc có trình độ pháp lý tương đương.
Những người đang công tác tại các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp chế không được gia nhập Đoàn luật sư, trừ những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về pháp lý tại các viện nghiên cứu và các trường thuộc các cơ quan đó.
Việc gia nhập Đoàn luật sư phải được Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư thông qua, theo đề nghị của Ban chủ nhiệm.
Chế độ tập sự, thể thức kiểm tra và những trường hợp được miễn, giảm thời hạn tập sự do Quy chế Đoàn luật sư quy định.
Luật sư tập sự được bào chữa và làm các việc giúp đỡ pháp lý khác, có các quyền và nghĩa vụ như luật sư, trừ quyền bầu và được bầu vào Ban chủ nhiệm và ban kiểm tra của Đoàn.
Các hình thức giúp đỡ pháp lý của luật sư bao gồm:
1- Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đại diện cho người bị hại và các đương sự khác trong các vụ án hình sự, kể cả các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự; đại diện cho các bên đương sự trong các vụ án dân sự, hôn nhân, gia đình và lao động.
2- Làm tư vấn pháp luật cho các tổ chức kinh tế Nhà nước, tập thể và tư nhân, kể cả các tổ chức kinh tế nước ngoài.
3- Làm các dịch vụ pháp lý khác cho công dân và tổ chức.
Khi tham gia tố tụng, luật sư có quyền:
1- Bình đẳng với các thành phần khác trước Toà án; không buộc phải làm chứng về những vấn đề biết được khi làm nhiệm vụ bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đại diện cho các đương sự khác;
2- Nghiên cứu hồ sơ vụ án, đề xuất chứng cứ, gặp riêng bị can, bị cáo, đương sự; đề nghị bổ sung hồ sơ, trưng cầu giám định và đưa ra những đề nghị cần thiết khác;
3- Đề nghị thay đổi người tiến hành, người tham gia tố tụng;
4- Tham gia thẩm vấn và tranh luận tại phiên toà, đề nghị biện pháp xử lý bị cáo, bồi thường thiệt hại và các biện pháp giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân, gia đình và lao động;
5- Đọc, yêu cầu bổ sung, đính chính biên bản phiên toà;
6- Kháng cáo bản án và quyết định của toà án trong trường hợp làm bào chữa hoặc đại diện cho bị cáo, đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.
Khi tham gia tố tụng, luật sư có thể có những quyền khác theo quy định của pháp luật.
Luật sư không được bào chữa hoặc đại diện trong vụ án, nếu:
1- Đã tiến hành hoặc tham gia tố tụng đối với vụ án với tư cách là điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch;
2- Là người thân thích của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân đã hoặc đang tiến hành tố tụng đối với vụ án đó.
Nhiều luật sư có thể bào chữa cho một bị can, bị cáo hoặc đại diện cho một đương sự.
1- Sử dụng các biện pháp được pháp luật quy định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác;
2- Không được từ chối bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đại diện cho đương sự mà mình đã đảm nhận hoặc đã được chỉ định, nếu không có lý do chính đáng;
3- Không được tiết lộ những bí mật mà mình biết được trong khi làm nhiệm vụ giúp đỡ pháp lý.
Luật sư có thể giúp đỡ pháp lý ngoài phạm vi địa phương mình.
THÙ LAO CỦA LUẬT SƯ, QUỸ ĐOÀN LUẬT SƯ
Công dân và tổ chức nhờ luật sư giúp đỡ pháp lý phải trả tiền thù lao.
Chế độ trả tiền thù lao và những trường hợp được miễn, giảm do Quy chế Đoàn luật sư quy định.
Việc sử dụng quỹ của Đoàn luật sư do Hội nghị toàn thể Đoàn luật sư quyết định theo Quy chế Đoàn luật sư.
Việc khen thưởng và kỷ luật đối với Đoàn luật sư và luật sư do Quy chế Đoàn luật sư quy định.
Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 1987
|
| Võ Chí Công (Đã ký) |
Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- Số hiệu: 2A-LCT/HĐNN8
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 18/12/1987
- Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 6
- Ngày hiệu lực: 30/12/1987
- Ngày hết hiệu lực: 01/10/2001
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
