Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp tư nhân trước đó, tập trung vào việc cải cách thủ tục hành chính, phân cấp thẩm quyền và làm rõ các quy định về đăng ký kinh doanh, thay đổi thông tin hoạt động, giải thể, phá sản cũng như quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp tư nhân.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các cá nhân là chủ doanh nghiệp tư nhân, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp phép và đăng ký kinh doanh (Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan kế hoạch), các cơ quan quản lý chuyên ngành (thuế, tài chính, thống kê) và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam.
Nội dung cốt lõi của Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994
1. Thủ tục cấp phép thành lập và đăng ký kinh doanh
- Thời hạn cấp phép thành lập: Ủy ban nhân dân nhận hồ sơ phải quyết định cấp hoặc từ chối cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày nhận đơn. Trường hợp từ chối cấp phép, cơ quan nhận đơn phải nêu rõ lý do bằng văn bản. Người xin phép có quyền khiếu nại lên cơ quan Nhà nước cấp trên trực tiếp của Ủy ban nhân dân có thẩm quyền nếu thấy việc từ chối không thỏa đáng.
- Thời hạn đăng ký kinh doanh: Trong vòng sáu mươi ngày kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập, chủ doanh nghiệp tư nhân bắt buộc phải tiến hành đăng ký kinh doanh tại cơ quan kế hoạch cùng cấp với Ủy ban nhân dân đã cấp giấy phép.
- Liên thông thông tin giữa các cơ quan quản lý: Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cơ quan kế hoạch có trách nhiệm gửi bản sao giấy chứng nhận kèm theo hồ sơ doanh nghiệp cho cơ quan thuế, tài chính, thống kê và các cơ quan quản lý ngành kinh tế, kỹ thuật cùng cấp để phối hợp quản lý.
2. Quy định về thành lập chi nhánh và văn phòng đại diện
- Khi muốn mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện, chủ doanh nghiệp tư nhân phải xin phép Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi dự kiến đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện.
- Sau khi được cấp phép, doanh nghiệp phải tiến hành đăng ký kinh doanh tại cơ quan kế hoạch cùng cấp với Ủy ban nhân dân đã cho phép theo đúng trình tự, thủ tục quy định.
3. Thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh
- Khi có sự thay đổi về mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh, vốn đầu tư ban đầu hoặc bất kỳ nội dung nào khác trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân phải thực hiện khai báo lại với cơ quan kế hoạch đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Đối với các doanh nghiệp tư nhân do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp giấy phép thành lập, chủ doanh nghiệp còn có nghĩa vụ phải đăng báo công khai về các nội dung thay đổi này.
4. Xác định tình trạng phá sản của doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp tư nhân lâm vào tình trạng phá sản được định nghĩa là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, dẫn đến mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn mặc dù đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục.
- Quy trình, thủ tục giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp tư nhân được thực hiện thống nhất theo các quy định của Luật phá sản doanh nghiệp.
5. Quyền cho thuê, bán và sáp nhập doanh nghiệp tư nhân
- Quyền cho thuê doanh nghiệp: Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình. Trước khi tiến hành cho thuê, chủ doanh nghiệp phải báo cáo bằng văn bản cho cơ quan kế hoạch đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trong suốt thời gian cho thuê, chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp.
- Quyền bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp: Sau khi hoàn thành các thủ tục bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp tư nhân vào một doanh nghiệp khác, chủ doanh nghiệp phải khai báo với cơ quan kế hoạch đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để xóa tên trong sổ đăng ký kinh doanh, đồng thời phải thực hiện thông báo công khai thông tin này.
6. Chuẩn hóa thuật ngữ trong hệ thống văn bản pháp luật
- Thực hiện chuyển đổi đồng bộ các thuật ngữ hành chính cũ để phù hợp với Hiến pháp mới: Thay thế cụm từ "Hội đồng bộ trưởng" bằng cụm từ "Chính phủ"; thay thế cụm từ "Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng" bằng cụm từ "Thủ tướng Chính phủ" trong toàn bộ văn bản.
Hiệu lực thi hành
Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1994. Tất cả các quy định trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ. Chính phủ chịu trách nhiệm sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Doanh nghiệp tư nhân để bảo đảm tính đồng bộ và phù hợp với nội dung sửa đổi mới.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 35-L/CTN | Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 1994 |
LUẬT
SỐ 35-L/CTN NGÀY 22/06/1994 CỦA QUỐC HỘI VỀ SỬA ĐỔI MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư kinh doanh và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh;
Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Luật này sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990.
Điều 1: Sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân như sau :
1-
"Điều 10
Uỷ ban nhân dân nhận đơn phải cấp hoặc từ chối cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đơn; nếu từ chối cấp giấy phép thì phải nói rõ lý do. Trong trường hợp người xin phép thành lập doanh nghiệp tư nhân thấy việc từ chối cấp giấy phép là không thoả đáng thì có quyền khiếu nại lên cơ quan Nhà nước cấp trên trực tiếp của Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp".
2- Đoạn đầu
"Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập, chủ doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký kinh doanh tại cơ quan kế hoạch cùng cấp uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập".
3- Đoạn cuối
"Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cơ quan kế hoạch phải gửi bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh kèm theo hồ sơ của doanh nghiệp cho cơ quan thuế, tài chính, thống kê và các cơ quan quản lý ngành kinh tế, kỹ thuật cùng cấp".
4- Điểm 1
"1- Xin phép Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện và đăng ký kinh doanh tại cơ quan kế hoạch cùng cấp Uỷ ban nhân dân đã cho phép dặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện theo quy định tại Điều 8 và Điều 11 của Luật này;".
5-
"Điều 15
Khi thay đổi mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh, vốn đầu tư ban đầu và các nội dung khác trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân phải khai báo lại với cơ quan kế hoạch đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đối với doanh nghiệp tư nhân được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp giấy phép thành lập, thì chủ doanh nghiệp còn phải đăng báo về những nội dung thay đổi".
6-
"Điều 17
Doanh nghiệp tư nhân lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thùa lỗ trong hoạt động kinh doanh, sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Việc giải quyết phá sản doanh nghiệp tư nhân được thực hiện theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp".
7- Điều 23 được sửa dổi như sau:
"Điều 23
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình. Trước khi cho thuê, chủ doanh nghiệp phải báo cáo bằng văn bản với cơ quan kế hoạch đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trong thời hạn chho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp".
8- Đoạn cuối Điều 24 đựơc sửa đổi như sau:
"Sau khi hoàn tất thủ tục bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp vào một doanh nghiệp khác, chủ doanh nghiệp tư nhân phải khai báo với cơ quan kế hoạch đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để xoá tên trong sổ đăng ký kinh doanh và phải thông báo công khai".
Điều 2: Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1994.
Những quy định trước đây trái với Lụât này đều bãi bỏ.
Chính phủ sửa đổi các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật doanh nghiệp tư nhân cho phù hợp với Luật này.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 22 tháng 6 năm 1994.
| Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (Đã ký) |
- 1Luật Doanh nghiệp 2005
- 2Nghị định 192-CP năm 1994 ban hành Quy chế khu công nghiệp
- 3Nghị định 40/1998/NĐ-CP về kinh doanh vận tải biển của công ty, doanh nghiệp tư nhân
- 4Luật Doanh nghiệp 1999
- 5Công văn số 694TCT/DNNN về việc xoá nợ thuế sau khi đã chuyển thành công ty cổ phần do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Luật Doanh nghiệp 2005
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Luật Phá sản doanh nghiệp 1993
- 4Nghị định 192-CP năm 1994 ban hành Quy chế khu công nghiệp
- 5Nghị định 40/1998/NĐ-CP về kinh doanh vận tải biển của công ty, doanh nghiệp tư nhân
- 6Công văn số 694TCT/DNNN về việc xoá nợ thuế sau khi đã chuyển thành công ty cổ phần do Tổng cục Thuế ban hành
Luật Doanh nghiệp tư nhân sửa đổi 1994
- Số hiệu: 35-L/CTN
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 22/06/1994
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nông Đức Mạnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 16
- Ngày hiệu lực: 01/07/1994
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2000
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
