Thông tư 15/2011/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện. Văn bản này thiết lập các tiêu chuẩn chặt chẽ nhằm quản lý hoạt động cung ứng thuốc, kiểm soát giá cả và đảm bảo chất lượng dịch vụ dược lâm sàng phục vụ trực tiếp cho người bệnh tại các cơ sở y tế trên cả nước.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với các cá nhân và tổ chức trong nước, nước ngoài thực hiện các hoạt động liên quan đến bán lẻ thuốc trong khuôn viên bệnh viện tại Việt Nam. Phạm vi điều chỉnh bao gồm các quy định về mô hình tổ chức, điều kiện hoạt động, phạm vi chuyên môn, cơ chế quản lý giá thuốc và thặng số bán lẻ tại các cơ sở này.
Quy định về mô hình tổ chức cơ sở bán lẻ thuốc
Mô hình tổ chức của cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện được phân cấp rõ rệt tùy thuộc vào tuyến bệnh viện và tính chất chuyên khoa:
- Đối với bệnh viện trực thuộc Bộ và bệnh viện tuyến tỉnh: Giám đốc bệnh viện bắt buộc phải tự tổ chức cơ sở bán lẻ thuốc (trừ các bệnh viện chuyên khoa tâm thần, điều dưỡng, phục hồi chức năng tuyến tỉnh). Giám đốc bệnh viện chịu trách nhiệm toàn diện về hoạt động và bảo đảm kinh phí cho cơ sở này.
- Đối với các bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện ngành và chuyên khoa đặc thù: Khuyến khích các bệnh viện tự tổ chức cơ sở bán lẻ thuốc. Trong trường hợp không tự tổ chức được, bệnh viện được phép liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp hoặc cá nhân kinh doanh thuốc để đảm bảo cung ứng đủ thuốc cho bệnh nhân. Giám đốc bệnh viện và đối tác liên kết cùng chịu trách nhiệm chung về hoạt động và kinh phí theo quy định về quyền tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
- Đối với bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài: Không được phép tự mở hoặc liên doanh, liên kết thành lập cơ sở bán lẻ thuốc (trừ trường hợp thí điểm được Chính phủ cho phép). Bệnh viện có trách nhiệm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoặc cá nhân Việt Nam tổ chức cơ sở bán lẻ thuốc theo đúng quy định pháp luật.
Điều kiện hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc
Để đi vào hoạt động, các cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp lý và kỹ thuật sau:
- Phải sở hữu Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc theo quy định pháp luật hiện hành. Đối với các cơ sở do bệnh viện tự tổ chức gặp khó khăn về Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Sở Y tế có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để chỉ đạo tháo gỡ, tạo điều kiện cấp phép.
- Các cơ sở bán lẻ thuốc đông y, thuốc từ dược liệu phải đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và nhân sự đáp ứng nguyên tắc, tiêu chuẩn "Thực hành tốt nhà thuốc" (GPP) theo đúng lộ trình quy định của Bộ Y tế.
Phạm vi hoạt động chuyên môn
Cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện được thực hiện các hoạt động chuyên môn cụ thể bao gồm:
- Bán lẻ các loại thuốc thành phẩm được phép lưu hành hợp pháp tại Việt Nam.
- Đối với hình thức nhà thuốc, được phép pha chế thuốc theo đơn (nếu đáp ứng đủ điều kiện bố trí khu vực pha chế) và bán lẻ các loại thuốc do chính bệnh viện pha chế.
- Cơ sở bán lẻ thuốc đông y, thuốc từ dược liệu chỉ được phép bán lẻ các mặt hàng thuốc đông y và thuốc có nguồn gốc từ dược liệu.
- Thực hiện việc mua hoặc ủy thác nhập khẩu thuốc nhằm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu điều trị đặc thù của bệnh viện.
- Danh mục thuốc kinh doanh tại cơ sở bán lẻ phải hoàn toàn phù hợp và đáp ứng danh mục thuốc điều trị do Hội đồng thuốc và điều trị của bệnh viện phê duyệt và công bố.
Quy định về hoạt động chuyên môn và kiểm soát giá thuốc
Đây là nội dung cốt lõi nhằm bảo vệ quyền lợi tài chính của người bệnh, tránh việc đẩy giá thuốc lên cao trong khuôn viên bệnh viện:
- Vai trò của Khoa Dược: Khoa Dược có trách nhiệm tham mưu trực tiếp cho Giám đốc bệnh viện trong việc giám sát và thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại cơ sở bán lẻ.
- Thời gian phục vụ: Cơ sở bán lẻ thuốc phải chủ động bố trí nhân sự bán thuốc theo ca, đảm bảo cung ứng thuốc liên tục cho người bệnh, kể cả ngoài giờ hành chính, ngày lễ và ngày nghỉ.
- Niêm yết và kiểm soát giá: Phải thực hiện niêm yết giá thuốc công khai và tuyệt đối không được bán cao hơn giá niêm yết. Giá bán lẻ được cấu thành từ giá mua vào ghi trên hóa đơn cộng với thặng số bán lẻ quy định, đồng thời không được cao hơn giá của thuốc cùng loại (cùng tên, hàm lượng, dạng bào chế, nhà sản xuất, nước sản xuất) trên thị trường tự do.
- Kiểm soát giá mua vào: Đối với thuốc có trong danh mục đấu thầu của bệnh viện, giá mua vào của cơ sở bán lẻ không được cao hơn giá trúng thầu cùng thời điểm. Đối với thuốc ngoài danh mục đấu thầu hoặc trường hợp nhà cung ứng từ chối bán giá trúng thầu do biến động thị trường, Giám đốc bệnh viện quyết định giá mua vào và phải yêu cầu doanh nghiệp cung cấp tài liệu chứng minh giá bán buôn đã kê khai hoặc kê khai lại với cơ quan quản lý nhà nước.
Quy định về thặng số bán lẻ tối đa của thuốc thành phẩm
Bộ Y tế áp dụng mức trần thặng số bán lẻ tối đa tính trên đơn vị đóng gói nhỏ nhất của thuốc để kiểm soát mức chênh lệch giá, cụ thể chia làm hai nhóm cơ sở:
Nhóm 1: Áp dụng đối với cơ sở bán lẻ tại bệnh viện trực thuộc Bộ, bệnh viện tuyến tỉnh (trừ chuyên khoa tâm thần, điều dưỡng, phục hồi chức năng) và bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài thí điểm:
- Thuốc có giá mua từ 1.000 đồng trở xuống: Thặng số bán lẻ tối đa là 15%.
- Thuốc có giá mua từ trên 1.000 đồng đến 5.000 đồng: Thặng số bán lẻ tối đa là 10%.
- Thuốc có giá mua từ trên 5.000 đồng đến 100.000 đồng: Thặng số bán lẻ tối đa là 7%.
- Thuốc có giá mua từ trên 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng: Thặng số bán lẻ tối đa là 5%.
- Thuốc có giá mua trên 1.000.000 đồng: Thặng số bán lẻ tối đa là 2%.
Nhóm 2: Áp dụng đối với cơ sở bán lẻ tại bệnh viện chuyên khoa tâm thần, điều dưỡng, phục hồi chức năng tuyến tỉnh; bệnh viện ngành; bệnh viện tuyến huyện (gồm cả Trung tâm Y tế huyện không có bệnh viện đa khoa riêng); bệnh viện đa khoa và chuyên khoa khu vực:
- Thuốc có giá mua từ 1.000 đồng trở xuống: Thặng số bán lẻ tối đa là 20%.
- Thuốc có giá mua từ trên 1.000 đồng đến 5.000 đồng: Thặng số bán lẻ tối đa là 15%.
- Thuốc có giá mua từ trên 5.000 đồng đến 100.000 đồng: Thặng số bán lẻ tối đa là 10%.
- Thuốc có giá mua từ trên 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng: Thặng số bán lẻ tối đa là 7%.
- Thuốc có giá mua trên 1.000.000 đồng: Thặng số bán lẻ tối đa là 5%.
Quy định cũng nêu rõ đơn vị đóng gói nhỏ nhất đối với từng dạng bào chế cụ thể như viên (đối với dạng viên), ống/chai/lọ (đối với dạng lỏng hoặc bột pha tiêm), gói (đối với bột/cốm pha uống), tuýp (đối với kem/mỡ/gel), miếng dán (đối với thuốc dán), lọ xịt (đối với thuốc xịt/khí dung) và bộ kít (đối với bộ kít phối hợp).
Quy chế kê đơn và điều khoản chuyển tiếp
Cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định pháp lý về chuyên môn và lộ trình chuyển đổi mô hình hoạt động:
- Phải thực hiện nghiêm túc các quy định về Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú và Danh mục thuốc không kê đơn do Bộ Y tế ban hành.
- Khuyến khích các bệnh viện trực thuộc Bộ và bệnh viện tuyến tỉnh đang vận hành cơ sở bán lẻ theo hình thức liên doanh, liên kết chủ động chuyển đổi sang hình thức tự tổ chức.
- Các cơ sở liên doanh, liên kết đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc trước ngày Thông tư này có hiệu lực thì được phép tiếp tục hoạt động cho đến khi hết thời hạn ghi trên Giấy chứng nhận.
Công tác thanh tra, kiểm tra
Hoạt động thanh tra, kiểm tra được phân cấp rõ ràng nhằm đảm bảo tính thượng tôn pháp luật:
- Cục Quản lý dược và Thanh tra Bộ Y tế thực hiện thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất theo thẩm quyền đối với các cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện trên phạm vi cả nước.
- Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm toàn diện trong việc thanh tra, kiểm tra các cơ sở bán lẻ thuốc bệnh viện thuộc phạm vi quản lý địa phương.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 15/2011/TT-BYT chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/06/2011. Văn bản này bãi bỏ hoàn toàn Quyết định số 24/2008/QĐ-BYT ngày 11/07/2008 của Bộ Y tế ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của nhà thuốc bệnh viện. Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu phát sinh khó khăn, vướng mắc, các cơ sở và cá nhân có liên quan cần phản ánh bằng văn bản về Bộ Y tế (Cục Quản lý dược) để kịp thời xem xét, giải quyết.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ Y TẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 15/2011/TT-BYT | Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2011 |
QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ SỞ BÁN LẺ THUỐC TRONG BỆNH VIỆN
Căn cứ Luật Dược số 34/2005-QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 188/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Căn cứ Nghị quyết số 71/2006/QH11 của Quốc hội ngày 29 tháng 11 năm 2006 phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO);
Căn cứ Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 04 năm 2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập;
Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện như sau:
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Thông tư này quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện.
Thông tư này áp dụng đối với các cá nhân và tổ chức trong nước và nước ngoài thực hiện các hoạt động liên quan đến bán lẻ thuốc trong bệnh viện.
Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện (sau đây gọi tắt là cơ sở bán lẻ thuốc) là cơ sở bán lẻ thuốc trong khuôn viên bệnh viện được tổ chức theo các hình thức: nhà thuốc, quầy thuốc hoặc cơ sở bán lẻ thuốc chuyên bán thuốc đông y, thuốc từ dược liệu.
2. Thuốc thành phẩm là dạng thuốc đã qua tất cả các giai đoạn sản xuất, kể cả đóng gói trong bao bì cuối cùng và dán nhãn.
QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU KIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ SỞ BÁN LẺ THUỐC
Điều 3. Quy định về tổ chức của cơ sở bán lẻ thuốc
1. Đối với bệnh viện trực thuộc Bộ, bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là tỉnh) trừ các bệnh viện chuyên khoa tâm thần, điều dưỡng, phục hồi chức năng tuyến tỉnh: Giám đốc bệnh viện phải tự tổ chức cơ sở bán lẻ thuốc. Giám đốc bệnh viện chịu trách nhiệm về hoạt động (bao gồm cả đảm bảo kinh phí) của cơ sở bán lẻ thuốc.
2. Đối với bệnh viện chuyên khoa tâm thần, điều dưỡng, phục hồi chức năng tuyến tỉnh; bệnh viện trực thuộc Y tế Ngành; bệnh viện tuyến huyện, quận, thị xã (sau đây gọi tắt là huyện) bao gồm cả các Trung tâm Y tế huyện ở nơi không có Bệnh viện đa khoa huyện riêng; bệnh viện đa khoa khu vực; bệnh viện chuyên khoa khu vực: khuyến khích bệnh viện tự tổ chức cơ sở bán lẻ thuốc. Giám đốc bệnh viện, Giám đốc Trung tâm Y tế huyện chịu trách nhiệm về hoạt động (bao gồm cả đảm bảo kinh phí) của cơ sở bán lẻ thuốc.
Trường hợp không tự tổ chức được cơ sở bán lẻ thuốc, bệnh viện có thể liên doanh, liên kết với doanh nghiệp kinh doanh thuốc hoặc cá nhân tổ chức cơ sở bán lẻ thuốc để đảm bảo cung ứng đủ thuốc cho bệnh nhân. Giám đốc doanh nghiệp kinh doanh hoặc cá nhân liên doanh, liên kết cùng chịu trách nhiệm với Giám đốc bệnh viện hoặc Giám đốc Trung tâm Y tế huyện về hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc. Giám đốc bệnh viện, Giám đốc Trung tâm Y tế huyện, Giám đốc doanh nghiệp kinh doanh hoặc cá nhân liên doanh, liên kết chịu trách nhiệm đảm bảo kinh phí hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc theo đúng quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và các quy định có liên quan.
3. Bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài không được mở cơ sở bán lẻ thuốc của chính bệnh viện, không được liên doanh, liên kết để thành lập cơ sở bán lẻ thuốc, trừ trường hợp được Chính phủ cho phép triển khai thí điểm. Để đảm bảo nguồn cung ứng thuốc cho bệnh nhân, bệnh viện tạo điều kiện để doanh nghiệp kinh doanh thuốc hoặc cá nhân tổ chức cơ sở bán lẻ thuốc theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam.
Điều 4. Quy định về điều kiện hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc
1. Cơ sở bán lẻ thuốc phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc theo quy định tại Thông tư 02/2007/TT-BYT ngày 24/01/2007 của Bộ Y tế hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều về điều kiện kinh doanh thuốc theo quy định của Luật Dược và Nghị định 79/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Dược.
Trường hợp cơ sở bán lẻ thuốc do bệnh viện tự tổ chức không thể có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Sở Y tế báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền xem xét, tạo điều kiện cho cơ sở bán lẻ thuốc có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để thực hiện các thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc.
2. Cơ sở bán lẻ thuốc đông y, thuốc từ dược liệu phải có cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhân sự áp dụng nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc” theo lộ trình quy định tại Khoản 3 Mục I Chương III nguyên tắc, tiêu chuẩn "Thực hành tốt nhà thuốc" ban hành kèm theo Quyết định 11/2007/QĐ-BYT ngày 24/01/2007.
QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ SỞ BÁN LẺ THUỐC
Điều 5. Phạm vi hoạt động chuyên môn của cơ sở bán lẻ thuốc
1. Nhà thuốc và quầy thuốc: bán lẻ thuốc thành phẩm được phép lưu hành tại Việt Nam.
2. Nhà thuốc được pha chế thuốc theo đơn tại nhà thuốc (nếu có bố trí hoạt động pha chế theo đơn) và bán lẻ thuốc pha chế của bệnh viện.
3. Cơ sở bán lẻ thuốc đông y, thuốc từ dược liệu: bán lẻ thuốc đông y, thuốc từ dược liệu.
4. Mua hoặc ủy thác nhập khẩu thuốc phục vụ cho nhu cầu điều trị của bệnh viện.
5. Danh mục thuốc tại cơ sở bán lẻ thuốc phải đáp ứng danh mục thuốc điều trị cho người bệnh do Hội đồng thuốc và điều trị của bệnh viện công bố.
Điều 6. Quy định về hoạt động chuyên môn của cơ sở bán lẻ thuốc
1. Khoa dược bệnh viện tham mưu cho Giám đốc bệnh viện thực hiện các quy định chuyên môn về dược của cơ sở bán lẻ thuốc tại chính bệnh viện.
2. Căn cứ điều kiện thực tế của bệnh viện, cơ sở bán lẻ thuốc sắp xếp bán thuốc theo ca để đảm bảo cung ứng thuốc cho người bệnh kể cả ngoài giờ hành chính, ngày lễ, ngày nghỉ.
a) Đối với các mặt hàng thuốc có trong danh mục đấu thầu của chính bệnh viện: Giá thuốc mua vào của cơ sở bán lẻ thuốc không được cao hơn giá thuốc trúng thầu cùng thời điểm.
b) Đối với các mặt hàng thuốc không có trong danh mục đấu thầu của bệnh viện hoặc các mặt hàng thuốc mà nhà cung ứng từ chối bán với giá trúng thầu do giá thị trường biến động cao hơn giá trúng thầu: Giám đốc bệnh viện quyết định và chịu trách nhiệm đối với danh mục thuốc và giá thuốc mua vào.
Khi mua các mặt hàng nêu trên, bệnh viện yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp giá bán buôn đã kê khai hoặc kê khai lại với cơ quan quản lý nhà nước về giá của thuốc (Cục Quản lý dược hoặc Sở Y tế) để kiểm tra, không được mua các thuốc có giá bán buôn cao hơn giá đã kê khai, kê khai lại hoặc chưa tiến hành việc kê khai giá thuốc theo quy định.
5. Bộ Y tế quy định thặng số bán lẻ tối đa của thuốc thành phẩm tại cơ sở bán lẻ thuốc như sau:
a) Đối với cơ sở bán lẻ thuốc tại các bệnh viện trực thuộc Bộ, bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài được áp dụng thí điểm, bệnh viện tuyến tỉnh trừ các bệnh viện chuyên khoa tâm thần, điều dưỡng, phục hồi chức năng tuyến tỉnh:
- Đối với thuốc có giá mua tính trên đơn vị đóng gói nhỏ nhất nhỏ hơn hoặc bằng 1.000 đồng, thặng số bán lẻ tối đa là 15%.
- Đối với thuốc có giá mua tính trên đơn vị đóng gói nhỏ nhất từ trên 1.000 đồng đến 5.000 đồng, thặng số bán lẻ tối đa là 10%.
- Đối với thuốc có giá mua tính trên đơn vị đóng gói nhỏ nhất từ trên 5.000 đồng đến 100.000 đồng, thặng số bán lẻ tối đa là 7%.
- Đối với thuốc có giá mua tính trên đơn vị đóng gói nhỏ nhất từ trên 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng, thặng số bán lẻ tối đa là 5%.
- Đối với thuốc có giá mua tính trên đơn vị đóng gói nhỏ nhất trên 1.000.000đ, thặng số bán lẻ tối đa là 2%.
b) Đối với bệnh viện chuyên khoa tâm thần, điều dưỡng, phục hồi chức năng tuyến tỉnh; bệnh viện trực thuộc Y tế Ngành; bệnh viện tuyến huyện bao gồm Trung tâm Y tế huyện ở nơi không có bệnh viện đa khoa huyện riêng; bệnh viện đa khoa khu vực; bệnh viện chuyên khoa khu vực:
- Đối với thuốc có giá mua tính trên đơn vị đóng gói nhỏ nhất nhỏ hơn hoặc bằng 1.000 đồng, thặng số bán lẻ tối đa là 20%.
- Đối với thuốc có giá mua tính trên đơn vị đóng gói nhỏ nhất từ trên 1.000 đồng đến 5.000 đồng, thặng số bán lẻ tối đa là 15%.
- Đối với thuốc có giá mua tính trên đơn vị đóng gói nhỏ nhất từ trên 5.000 đồng đến 100.000 đồng, thặng số bán lẻ tối đa là 10%.
- Đối với thuốc có giá mua tính trên đơn vị đóng gói nhỏ nhất từ trên 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng, thặng số bán lẻ tối đa là 7%.
- Đối với thuốc có giá mua tính trên đơn vị đóng gói nhỏ nhất trên 1.000.000 đồng, thặng số bán lẻ tối đa là 5%.
c) Đơn vị đóng gói nhỏ nhất được quy định như sau:
- Đối với dạng bào chế là viên, đơn vị đóng gói nhỏ nhất là viên.
- Đối với dạng bào chế là dạng lỏng, đơn vị đóng gói nhỏ nhất là ống, chai, lọ, túi, ống tiêm, xy lanh đóng sẵn thuốc.
- Đối với dạng bào chế là dạng bột pha tiêm, đơn vị đóng gói nhỏ nhất là ống, chai, lọ, ống tiêm đóng sẵn thuốc.
- Đối với dạng bào chế là dạng bột, cốm pha uống, đơn vị đóng gói nhỏ nhất là gói, chai, lọ.
- Đối với dạng bào chế là kem, mỡ, gel dùng ngoài, đơn vị đóng gói nhỏ nhất là tuýp, lọ.
- Đối với dạng bào chế là thuốc dán, đơn vị đóng gói nhỏ nhất là miếng dán.
- Đối với dạng bào chế là thuốc xịt hay thuốc khí dung, đơn vị đóng gói nhỏ nhất là lọ xịt hoặc lọ đựng thuốc dùng cho máy khí dung.
- Đối với dạng bào chế là bộ kít phối hợp, đơn vị đóng gói nhỏ nhất là bộ kít.
6. Cơ sở bán lẻ thuốc phải thực hiện nghiêm chỉnh Quyết định 04/2008/QĐ-BYT ngày 01/02/2008 về Qui chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú và Thông tư số 08/2009/TT-BYT ngày 01/07/2009 Ban hành Danh mục thuốc không kê đơn.
Điều 7. Điều khoản chuyển tiếp
1. Kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, khuyến khích các bệnh viện trực thuộc Bộ, bệnh viện tuyến tỉnh đang tổ chức cơ sở bán lẻ thuốc theo hình thức liên doanh, liên kết chuyển sang hình thức tự tổ chức cơ sở bán lẻ thuốc.
2. Cơ sở bán lẻ thuốc đã tổ chức theo hình thức liên doanh, liên kết tại các bệnh viện nêu tại khoản 1 Điều này trừ các bệnh viện chuyên khoa tâm thần, điều dưỡng, phục hồi chức năng tuyến tỉnh và đã có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc trước ngày Thông tư này có hiệu lực được hoạt động đến hết thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc.
1. Cục Quản lý dược, Thanh tra Bộ Y tế tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Thông tư này theo thẩm quyền đối với các cơ sở bán lẻ thuốc.
2. Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Thông tư này trong phạm vi địa phương mình quản lý.
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/06/2011. Bãi bỏ Quyết định số 24/2008/QĐ-BYT ngày 11/07/2008 của Bộ Y tế ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của nhà thuốc bệnh viện.
2. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị các cơ sở, cá nhân có ý kiến bằng văn bản về Bộ Y tế (Cục Quản lý dược) để xem xét, giải quyết./.
|
Nơi nhận: | KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Quyết định 24/2008/QĐ-BYT về tổ chức và hoạt động của nhà thuốc bệnh viện do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 2Quyết định 3707/QĐ-BYT năm 2012 công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Y tế ban hành, phối hợp ban hành đã hết hiệu lực pháp luật tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2012
- 3Thông tư 02/2018/TT-BYT quy định về Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 4Công văn 9908/QLD-KD năm 2018 triển khai liên thông kết nối cơ sở bán lẻ thuốc do Cục Quản lý Dược ban hành
- 5Quyết định 777/QĐ-QLD năm 2018 về "Chuẩn kết nối dữ liệu phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin kết nối liên thông cơ sở bán lẻ thuốc" Phiên bản 1.0 do Cục trưởng Cục Quản lý Dược ban hành
- 1Quyết định 24/2008/QĐ-BYT về tổ chức và hoạt động của nhà thuốc bệnh viện do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 2Quyết định 3707/QĐ-BYT năm 2012 công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Y tế ban hành, phối hợp ban hành đã hết hiệu lực pháp luật tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2012
- 3Thông tư 25/2018/TT-BYT bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực y tế do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành, liên tịch ban hành
- 1Luật Dược 2005
- 2Nghị định 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
- 3Nghị định 79/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Dược
- 4Nghị quyết số 71/2006/NQ-QH11 về việc phê chuẩn nghị định thư gia nhập hiệp định thành lập tổ chức thương mại thế giới (WTO) của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (bổ sung phụ lục) do Quốc Hội ban hành
- 5Quyết định 11/2007/QĐ-BYT ban hành nguyên tắc, tiêu chuẩn Thực hành tốt nhà thuốc do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 6Thông tư 02/2007/TT-BYT hướng dẫn thi hành về điều kiện kinh doanh thuốc theo quy định Luật Dược và Nghị định 79/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Dược do Bộ Y tế ban hành
- 7Thông tư liên tịch 11/2007/TTLT-BYT-BTC-BCT hướng dẫn quản lý nhà nước về giá thuốc dùng cho người do Bộ y tế - Bộ tài chính và Bộ công thương ban hành
- 8Nghị định 188/2007/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế
- 9Quyết định 04/2008/QĐ-BYT về quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 10Thông tư 08/2009/TT-BYT ban hành Danh mục thuốc không kê đơn do Bộ Y tế về việc ban hành
- 11Thông tư 02/2018/TT-BYT quy định về Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 12Công văn 9908/QLD-KD năm 2018 triển khai liên thông kết nối cơ sở bán lẻ thuốc do Cục Quản lý Dược ban hành
- 13Quyết định 777/QĐ-QLD năm 2018 về "Chuẩn kết nối dữ liệu phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin kết nối liên thông cơ sở bán lẻ thuốc" Phiên bản 1.0 do Cục trưởng Cục Quản lý Dược ban hành
Thông tư 15/2011/TT-BYT về tổ chức và hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc trong bệnh viện do Bộ Y tế ban hành
- Số hiệu: 15/2011/TT-BYT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 19/04/2011
- Nơi ban hành: Bộ Y tế
- Người ký: Cao Minh Quang
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 369 đến số 370
- Ngày hiệu lực: 10/06/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
