Thông tư 01-TT/BNV được Bộ Nội vụ ban hành năm 1976 nhằm hướng dẫn thi hành Quyết định số 167-CP của Hội đồng Chính phủ về việc tăng cường công tác đăng ký và quản lý hộ khẩu. Đây là văn bản pháp lý quan trọng trong giai đoạn đầu sau khi đất nước thống nhất, thiết lập hệ thống quản lý dân cư đồng bộ và chặt chẽ trên phạm vi toàn quốc.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Thông tư này hướng dẫn chi tiết về các biện pháp nghiệp vụ, thủ tục hành chính và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước cũng như công dân trong việc đăng ký, quản lý hộ khẩu. Đối tượng áp dụng bao gồm toàn bộ công dân cư trú trên lãnh thổ Việt Nam, các cơ quan, tổ chức, xí nghiệp và lực lượng Công an nhân dân các cấp trực tiếp thực hiện công tác quản lý hộ khẩu.
Các nội dung cốt lõi của Thông tư 01-TT/BNV-1976
1. Nguyên tắc đăng ký và quản lý hộ khẩu thống nhất
- Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một nơi ở hợp pháp và thực tế cư trú thường xuyên của mình.
- Nghiêm cấm mọi hành vi đăng ký hộ khẩu giả tạo, đăng ký hai nơi hoặc che giấu thông tin về nhân khẩu nhằm trục lợi chính sách hoặc trốn tránh nghĩa vụ công dân.
- Việc quản lý hộ khẩu phải bảo đảm tính chính xác, kịp thời, phản ánh đúng tình hình biến động dân cư thực tế tại từng địa phương.
2. Quy trình đăng ký thường trú và thay đổi nơi cư trú
- Khi thay đổi chỗ ở hợp pháp từ địa phương này sang địa phương khác, công dân phải thực hiện đầy đủ thủ tục xóa đăng ký thường trú tại nơi đi và đăng ký thường trú mới tại nơi đến.
- Hồ sơ đăng ký bao gồm giấy chứng nhận chuyển hộ khẩu do cơ quan Công an nơi đi cấp, giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp và các giấy tờ tùy thân liên quan theo quy định.
- Thời hạn giải quyết đăng ký hộ khẩu được quy định cụ thể nhằm bảo đảm quyền lợi cư trú của công dân và hiệu quả quản lý của cơ quan chức năng.
3. Chế độ khai báo tạm trú và tạm vắng
- Công dân khi đi khỏi nơi đăng ký thường trú từ một thời hạn nhất định theo quy định phải thực hiện khai báo tạm vắng tại Công an xã, phường, thị trấn nơi cư trú.
- Người đến lưu trú, tạm trú tại địa phương khác phải thực hiện đăng ký tạm trú trong vòng 24 giờ kể từ khi đến, bảo đảm cơ quan chức năng nắm bắt được di biến động của dân cư.
- Quy định rõ trách nhiệm của chủ hộ, chủ nhà trọ hoặc người đứng đầu cơ sở lưu trú trong việc đôn đốc, thực hiện khai báo tạm trú cho khách đến lưu trú.
4. Quản lý hộ khẩu đối với các đối tượng đặc biệt
- Hướng dẫn chi tiết về công tác quản lý, theo dõi di biến động đối với các đối tượng thuộc diện quản lý đặc biệt, người chấp hành xong hình phạt tù, người đang trong thời gian cải tạo hoặc chấp hành các biện pháp giáo dục tại địa phương.
- Yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng Công an với chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể trong việc giám sát, giúp đỡ các đối tượng này tái hòa nhập cộng đồng và ổn định cuộc sống.
5. Trách nhiệm của cơ quan Công an và các ngành liên quan
- Lực lượng Công an nhân dân là cơ quan nòng cốt, chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc lập sổ hộ khẩu, cấp giấy chứng nhận nhân khẩu và lưu trữ hồ sơ hộ khẩu an toàn, bảo mật.
- Các cơ quan, xí nghiệp, trường học có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Công an trong việc quản lý hộ khẩu của cán bộ, công nhân viên, học sinh, sinh viên thuộc đơn vị mình quản lý.
- Định kỳ tổ chức tổng kiểm tra hộ khẩu để đối chiếu giữa sổ sách quản lý và thực tế cư trú, kịp thời phát hiện và xử lý các sai sót, vi phạm.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 01-TT/BNV-1976 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây của Bộ Nội vụ hoặc các địa phương về đăng ký, quản lý hộ khẩu trái với nội dung hướng dẫn tại Thông tư này đều bãi bỏ. Lực lượng Công an các cấp có trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn nhân dân thực hiện nghiêm túc các quy định nêu trên.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NỘI VỤ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 01-TT/BNV | Hà Nội , ngày 27 tháng 10 năm 1976 |
Ngày 18 tháng 09 năm 1976, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 167-CP về việc tăng cường công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu, Bộ Nội vụ ra Thông tư hướng dẫn thi hành Quyết định nói trên như sau:
a) Tạo thuận lợi cho việc điều động cán bộ, công nhân, viên chức của các cơ quan, xí nghiệp; có căn cứ để giải quyết đăng ký hộ khẩu thường trú cho những người ở các nơi khác chuyển về thành phố, thị xã; góp phần thực hiện chủ trương hạn chế tăng dân số của các thành phố, thị xã một cách chặt chẽ và hợp lý;
b) Những tiêu chuẩn đăng ký hộ khẩu thường trú quy định trong Quyết định của Hội đồng Chính phủ làm cho nhân dân hiểu được rõ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước để thi hành, đồng thời có trách nhiệm giám sát việc thi hành của cơ quan chính quyền trong việc vận dụng giải quyết các tiêu chuẩn đã quy định;
c) Củng cố thêm một bước về công tác quản lý hộ khẩu, tiến hành được chặt chẽ, khắc phục tình trạng đăng ký nhân khẩu thường trú một nơi nhưng thường xuyên ở nơi khác, góp phần giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội.
2. Mấy vấn đề vận dụng thi hành Quyết định số 167-CP:
Để thực hiện đúng nguyên tắc cơ bản nói ở trong Quyết định “Mọi công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt-nam và mọi người nước ngoài (trừ Đoàn ngoại giao) đều phải được đăng ký nhân khẩu thường trú trong nội bộ gia đình hoặc một hộ tập thể nhất định tại nơi ở thường xuyên của mình…”.
Trong khi vận dụng thi hành Quyết định cần quán triệt được mấy điểm cơ bản sau đây:
a) Khi cơ quan, xí nghiệp, trường học được Thủ tướng Chính phủ cho phép đặt trụ sở ở Hà-nội mà đã có đầy đủ thủ tục giấy tờ quy định, thì cơ quan quản lý hộ khẩu phải giải quyết cho cán bộ, công nhân, viên chức được dễ dàng, nhanh chóng để bảo đảm việc hoàn thành công tác, sản xuất;
b) Những người đã có cơ sở sinh sống ở nông thôn và các thành phố, thị xã khác không giải quyết chuyển về thành phố Hà-nội;
c) Vận dụng thi hành các tiêu chuẩn quy định trong Quyết định số 167-CP đối với cán bộ và nhân dân phải được thống nhất. Địa phương không tùy tiện đặt ra các tiêu chuẩn khác trái với quy định của Nhà nước.
3. Cần nắm vững thêm một số điểm trong Quyết định số 167-CP:
a) Cán bộ, công nhân, viên chức, học sinh hàng ngày về ăn ở với gia đình, có hộ khẩu thường trú ở địa phương thì được đăng ký nhân khẩu thường trú với hộ gia đình. Nếu thường xuyên ở tập thể do cơ quan, xí nghiệp, trường học bố trí nơi ở, thì đăng ký nhân khẩu thường trú với hộ tập thể;
b) Những cán bộ, công nhân, viên chức, học sinh đã được đăng ký hộ khẩu thường trú ở thành phố, thị xã, nhưng nay đã đi theo cơ quan, xí nghiệp, trường học của mình chuyển đến địa điểm khác thì phải chuyển hẳn hộ khẩu thường trú đến nơi đang ở thường xuyên để công tác, sản xuất, học tập.
Trường hợp cán bộ, công nhân, viên chức đăng ký nhân khẩu thường trú với hộ gia đình ở thành phố hoặc tỉnh nào đó, nay đến công tác, sản xuất, học tập ở cơ quan, xí nghiệp thuộc thành phố hoặc tỉnh khác nhưng địa điểm lại ở vùng giáp giới của hai địa phương và hàng ngày vẫn về ăn ở với gia đình thì không phải chuyển hộ khẩu thường trú đến nơi công tác, sản xuất, học tập;
c) Những người đã đi khỏi nơi đăng ký nhân khẩu thường trú từ 6 tháng trở lên không có lý do chính đáng thì cơ quan quản lý hộ khẩu địa phương sẽ xoá tên trong sổ đăng ký hộ tịch, hộ khẩu và phải tìm hiểu rõ nguyên nhân vắng mặt của người đó. Nếu sau này đương sự trở về, cơ quan quản lý hộ khẩu ở địa phương sẽ căn cứ tình tiết cụ thể mà xét giải quyết một cách hợp lý việc đăng ký hộ khẩu thường trú.
a) Phổ biến nội dung Quyết định của Hội đồng Chính phủ và Thông tư này của Bộ Nội vụ cho cán bộ, công nhân viên các cơ quan, xí nghiệp, các ngành, các cấp và nhân dân biết;
b) Niêm yết các tiêu chuẩn trong Quyết định số 167-CP tại các trụ sở tiếp dân đến đăng ký hộ khẩu để mọi người hiểu rõ và thực hiện đúng tiêu chuẩn đã quy định;
c) Những trường hợp nhân dân ở các nơi khác xin chuyển đến các xã ngoại thành thuộc thành phố Hà-nội; các quận nội thành thuộc thành phố Hồ Chí Minh thì Sở, Ty công an nơi có người xin chuyển đi cũng phải trao đổi trước với Sở công an nơi họ xin chuyển đến theo điều 3 Thông tư số 433-TT ngày 19-06-1976 của Bộ Nội vụ đã quy định;
d) Các thành phố, thị xã khác trong cả nước cũng căn cứ vào điểm 3 Quyết định số 167-CP của Hội đồng Chính phủ để vận dụng thi hành cho thích hợp.
Trong quá trình thực hiện có những vấn đề khó khăn, yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo về Bộ Nội vụ để nghiêu cứu giải quyết. Trong khi chờ đợi các địa phương không được tự ý đặt ra các tiêu chuẩn khác trái với các tiêu chuẩn đã quy định trong Quyết định số 167-CP.
| KT. BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ THỨ TRƯỞNG Nguyễn Tài |
- 1Luật Cư trú 2006
- 2Nghị định 32-CP năm 1968 về việc thống nhất công tác đăng ký hộ tịch, hộ khẩu và thống kê dân số do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 3Nghị định 4-CP năm 1961 Điều lệ đăng ký hộ tịch do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 4Quyết định 167-CP năm 1976 về tăng cường công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu do Hội đồng Chính phủ ban hành
Thông tư 01-TT/BNV-1976 hướng dẫn thi hành Quyết định 167-CP-1976 về việc tăng cường công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu do Bộ Nội vụ ban hành
- Số hiệu: 01-TT/BNV
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 27/10/1976
- Nơi ban hành: Bộ Nội vụ
- Người ký: Nguyễn Tài
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 9
- Ngày hiệu lực: 11/11/1976
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
