Pháp lệnh Bảo hộ lao động năm 1991 được Hội đồng Nhà nước ban hành nhằm mục đích bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động, đồng thời góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao năng suất lao động xã hội.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Pháp lệnh áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân sử dụng lao động (gọi chung là người sử dụng lao động) và mọi người lao động trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động sử dụng lao động hoặc trực tiếp lao động tại Việt Nam.
1. Nguyên tắc chung về bảo hộ lao động
- Nhà nước cam kết chăm lo, bảo đảm cho người lao động được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Người lao động có quyền được bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh, đồng thời có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về an toàn lao động và vệ sinh lao động.
- Người sử dụng lao động có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh và không ngừng cải thiện điều kiện lao động cho người lao động thuộc quyền quản lý.
- Cả người lao động và người sử dụng lao động đều phải có hiểu biết về bảo hộ lao động và các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao.
2. Tiêu chuẩn an toàn lao động và vệ sinh lao động
- Tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động là tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng. Thẩm quyền ban hành thuộc về Hội đồng Bộ trưởng (đối với tiêu chuẩn áp dụng chung cả nước) hoặc cơ quan quản lý ngành (đối với tiêu chuẩn áp dụng riêng trong ngành, phù hợp với tiêu chuẩn chung).
- Nhà nước khuyến khích nghiên cứu khoa học - kỹ thuật bảo hộ lao động và sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu các thiết bị, dụng cụ bảo vệ người lao động bằng các chính sách thích hợp.
- Việc xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo cơ sở sản xuất, sử dụng, bảo quản các loại máy móc, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh phải có luận chứng về biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động và phải được cơ quan thanh tra Nhà nước chấp thuận.
- Máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng phải được thiết kế, chế tạo, xây dựng và định kỳ tu sửa theo đúng tiêu chuẩn. Máy móc, thiết bị, công nghệ nhập khẩu bắt buộc phải đáp ứng tiêu chuẩn an toàn và vệ sinh lao động.
- Các hoạt động sản xuất, sử dụng, bảo quản, vận chuyển máy móc, hóa chất, thuốc trừ sâu, nguồn điện, năng lượng... phải tuân thủ tiêu chuẩn an toàn. Các loại máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt phải được khai báo, đăng ký với cơ quan thanh tra Nhà nước.
- Nơi làm việc phải bảo đảm các tiêu chuẩn về không gian, độ thoáng, ánh sáng và giới hạn cho phép đối với các yếu tố độc hại như bụi, khí độc, phóng xạ, tiếng ồn, độ rung. Nghiêm cấm việc xả thải chất độc hại chưa qua xử lý đạt chuẩn ra môi trường.
- Tại nơi làm việc, nơi đặt máy móc thiết bị nguy hiểm phải có bảng chỉ dẫn an toàn rõ ràng, dễ thấy và phải được trang bị đầy đủ phương tiện kỹ thuật, y tế để tổ chức cấp cứu kịp thời khi xảy ra sự cố.
3. Chế độ bảo vệ sức khỏe và quyền lợi của người lao động
- Người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại phải được trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân đạt tiêu chuẩn chất lượng do Nhà nước ban hành.
- Việc sắp xếp lao động phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khỏe. Người lao động phải được khám sức khỏe trước khi tuyển dụng và khám sức khỏe định kỳ theo chế độ quy định.
- Người làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hại được bồi dưỡng bằng hiện vật, được hưởng chế độ ưu đãi về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi. Sau giờ làm việc, người lao động tại nơi có yếu tố nhiễm độc, nhiễm trùng phải thực hiện các biện pháp khử độc, khử trùng và vệ sinh cá nhân.
- Người tàn tật do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp nếu tiếp tục làm việc sẽ được sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa.
- Nghiêm cấm sử dụng lao động nữ làm các công việc nặng nhọc, nguy hại hoặc tiếp xúc trực tiếp với hóa chất độc hại ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh đẻ và nuôi con. Nghiêm cấm sử dụng người dưới 18 tuổi làm các công việc ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể lực và trí lực.
4. Quy định về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Tai nạn lao động là tai nạn gây chết người hoặc tổn thương bất kỳ bộ phận, chức năng cơ thể nào của người lao động xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ. Người bị tai nạn phải được cấp cứu kịp thời.
- Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động có hại đối với người lao động. Người bị bệnh nghề nghiệp phải được điều trị chu đáo, khám sức khỏe định kỳ và không được tiếp tục làm việc trong môi trường đã gây ra bệnh.
- Người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp được hưởng nguyên lương, tiền công và phụ cấp trong thời gian điều trị, điều dưỡng, đồng thời được trợ cấp, bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Mọi vụ tai nạn lao động và trường hợp bệnh nghề nghiệp phải được khai báo, điều tra, lập biên bản, thống kê và báo cáo định kỳ. Nghiêm cấm mọi hành vi che giấu hoặc báo cáo sai sự thật.
5. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động
- Nghĩa vụ của người sử dụng lao động: Thực hiện các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động; chịu trách nhiệm về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra trong đơn vị; thỏa thuận với công đoàn về các biện pháp bảo đảm an toàn; tổ chức khám sức khỏe định kỳ và chi trả chi phí y tế cho người bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp; xây dựng quy trình an toàn cho từng loại máy móc; tổ chức huấn luyện an toàn cho người lao động; tự kiểm tra và cung cấp đầy đủ tài liệu cho cơ quan thanh tra.
- Quyền của người sử dụng lao động: Buộc người lao động chấp hành các quy định, chỉ dẫn an toàn; khen thưởng người thực hiện tốt và xử lý kỷ luật người vi phạm; khiếu nại quyết định của thanh tra Nhà nước lên cơ quan có thẩm quyền.
- Quyền của người lao động: Yêu cầu bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh và được huấn luyện an toàn; từ chối làm việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn đe dọa nghiêm trọng tính mạng, sức khỏe mà không bị coi là vi phạm kỷ luật; khiếu nại, tố cáo khi phải làm việc trong điều kiện không bảo đảm an toàn hoặc khi người sử dụng lao động vi phạm pháp luật bảo hộ lao động.
- Nghĩa vụ của người lao động: Nắm vững và thực hiện đúng các quy định, chỉ dẫn về an toàn, vệ sinh lao động; giữ gìn, sử dụng đúng cách các thiết bị an toàn và phương tiện bảo vệ cá nhân (phải bồi thường nếu làm mất hoặc hỏng); báo cáo kịp thời nguy cơ tai nạn và tham gia cấp cứu, khắc phục hậu quả khi xảy ra sự cố.
- Giải quyết tranh chấp: Các tranh chấp phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động về bảo hộ lao động được giải quyết theo trình tự giải quyết tranh chấp lao động.
6. Quản lý Nhà nước về bảo hộ lao động
- Hội đồng Bộ trưởng thống nhất quản lý Nhà nước về bảo hộ lao động trong phạm vi cả nước.
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giúp Hội đồng Bộ trưởng quản lý công tác bảo hộ lao động, xây dựng chính sách, tiêu chuẩn an toàn lao động và thực hiện thanh tra Nhà nước về an toàn lao động.
- Bộ Y tế chịu trách nhiệm quản lý công tác vệ sinh lao động, xây dựng tiêu chuẩn vệ sinh, danh mục bệnh nghề nghiệp, tổ chức giám định y khoa, khám phát hiện, điều trị bệnh nghề nghiệp và thực hiện thanh tra Nhà nước về vệ sinh lao động.
- Ủy ban Khoa học Nhà nước phối hợp quản lý việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động và xây dựng tiêu chuẩn chất lượng phương tiện bảo vệ người lao động.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm đưa nội dung bảo hộ lao động vào chương trình giảng dạy tại các trường, lớp kỹ thuật, nghiệp vụ, quản lý.
- Hội đồng quốc gia về bảo hộ lao động được thành lập để làm nhiệm vụ tư vấn cho Hội đồng Bộ trưởng và phối hợp hoạt động giữa các ngành, các cấp.
7. Hệ thống Thanh tra Nhà nước và vai trò của Công đoàn
- Thanh tra Nhà nước về an toàn lao động và vệ sinh lao động: Có quyền tiến hành thanh tra tại các cơ sở bất kỳ lúc nào; yêu cầu cung cấp tài liệu, số liệu liên quan; tạm đình chỉ hoạt động của máy móc, thiết bị hoặc nơi làm việc có nguy cơ gây tai nạn hoặc ô nhiễm nghiêm trọng; xử phạt hành chính, cảnh cáo hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra hình sự nếu có dấu hiệu tội phạm; xem xét, phê duyệt các giải pháp an toàn, vệ sinh trong các luận chứng kinh tế - kỹ thuật.
- Thanh tra trong các lĩnh vực đặc thù: Việc thanh tra an toàn lao động trong các lĩnh vực phóng xạ, dầu khí, hàng không, đường sắt, đường thủy, đường bộ và lực lượng vũ trang do các cơ quan quản lý chuyên ngành thực hiện phối hợp với thanh tra Nhà nước về an toàn lao động.
- Vai trò của tổ chức Công đoàn: Tham gia xây dựng văn bản pháp luật, tiêu chuẩn bảo hộ lao động; tuyên truyền, giáo dục người lao động chấp hành quy định; kiểm tra việc thực hiện pháp luật bảo hộ lao động; yêu cầu tạm ngừng hoạt động nơi có nguy cơ tai nạn; tham gia điều tra tai nạn lao động và phối hợp với người sử dụng lao động xây dựng phong trào bảo đảm an toàn tại cơ sở.
8. Điều khoản xử lý vi phạm
- Người không thực hiện các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động để xảy ra tai nạn lao động, gây ô nhiễm môi trường hoặc vi phạm các quy định của Pháp lệnh này sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.
- Người thiếu tinh thần trách nhiệm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho hành vi vi phạm về bảo hộ lao động cũng sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại nếu có.
Hiệu lực thi hành: Pháp lệnh Bảo hộ lao động năm 1991 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1992. Tất cả những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 61-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 1991 |
BẢO HỘ LAO ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC SỐ 61-LCT/HĐNN8 NGÀY 19/09/1991
Để bảo đảm cho người lao động có quyền làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh; nâng cao trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về bảo hộ lao động nhằm phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và từng bước cải thiện điều kiện lao động;
Căn cứ vào Điều 58 và Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Pháp lệnh này quy định về bảo hộ lao động.
Các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội có trách nhiệm phối hợp chăm lo, bảo vệ quyền của người lao động làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh.
Tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động là tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng.
Tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động áp dụng cho nhiều ngành trong phạm vi cả nước do Hội đồng bộ trưởng hoặc cơ quan được Hội đồng bộ trưởng uỷ quyền ban hành.
Tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động áp dụng riêng trong một ngành do cơ quan Nhà nước quản lý ngành đó ban hành phù hợp với những tiêu chuẩn về an toàn lao động, vệ sinh lao động do Hội đồng bộ trưởng ban hành.
AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG
Luận chứng này phải được các cơ quan thanh tra Nhà nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động chấp thuận.
Danh mục các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Bộ Y tế quy định theo thẩm quyền quản lý của mình.
Máy, thiết bị, công nghệ nhập khẩu phải đáp ứng tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Nghiêm cấm việc thải vào không khí, nguồn nước hoặc đất đai các chất gây độc, hại khi việc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép.
Thanh tra Nhà nước về an toàn lao động hoặc vệ sinh lao động có quyền quyết định tạm đình chỉ hoạt động đối với các trường hợp nói tại đoạn 1, Điều này, nếu chưa có biện pháp khắc phục có hiệu quả. Quyết định của Thanh tra có hiệu lực bắt buộc thi hành.
Phương tiện bảo vệ cá nhân phải đạt tiêu chuẩn chất lượng, quy cách đã được Nhà nước ban hành. Việc trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động thực hiện theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
BẢO VỆ SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LAO ĐỘNG
Khi sắp xếp lao động, phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khoẻ quy định cho từng loại việc.
Người lao động phải được khám sức khoẻ trước khi tuyển dụng, khám sức khoẻ định kỳ theo chế độ quy định.
Người làm việc ở nơi có yếu tố gây nhiễm độc, nhiễm trùng, khi hết giờ làm việc phải thực hiện các biện pháp khử độc, khử trùng, vệ sinh cá nhân theo quy định của Bộ Y tế.
Danh mục những công việc không được sử dụng lao động nữ, người dưới 18 tuổi do Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.
TAI NẠN LAO ĐÔNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP
Người bị tai nạn lao động phải được cấp cứu kịp thời.
Người bị bệnh nghề nghiệp được điều trị bệnh chu đáo, được khám sức khoẻ định kỳ, có hồ sơ sức khoẻ theo quy định của Bộ Y tế. Không được sử dụng người đang bị bệnh nghề nghiệp tiếp tục làm việc ở môi trường đã gây ra bệnh.
Nghiêm cấm mọi hành vi che giấu, khai báo hoặc báo cáo sai sự thật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG, NGƯỜI LAO ĐỘNG
Người sử dụng lao động có nghĩa vụ:
1- Thực hiện các tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động, các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động, chế độ báo cáo điều kiện lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các chế độ khác về bảo hộ lao động.
2- Phải chịu trách nhiệm về việc để xẩy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với người lao động thuộc quyền quản lý của mình.
3- Phải thoả thuận với Ban chấp hành công đoàn hoặc người đại diện của tập thể người lao động về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động.
4- Tổ chức việc khám sức khoẻ định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động; thanh toán các khoản chi phí khám sức khoẻ, điều trị, điều dưỡng người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
5- Xây dựng các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động cho từng loại máy, thiết bị và nơi làm việc theo tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động của Nhà nước.
6- Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn người lao động về những quy định, biện pháp làm việc an toàn, vệ sinh liên quan đến nhiệm vụ, công việc của họ.
7- Tổ chức việc tự kiểm tra công tác bảo hộ lao động, thực hiện những biện pháp loại trừ các nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; xây dựng phương án xử lý và cấp cứu khi xẩy ra sự cố hoặc tai nạn lao động.
8- Phải cung cấp tài liệu, số liệu, tình hình liên quan đến nội dung thanh tra, điều tra theo yêu cầu của thanh tra Nhà nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động; chấp hành các quyết định của thanh tra.
Người sử dụng lao động có quyền:
1- Buộc người lao động phải chấp hành các quy định chỉ dẫn về an toàn lao động, vệ sinh lao động khi làm việc;
2- Khen thưởng người thực hiện tốt quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và xử lý kỷ luật những người vi phạm;
3- Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về các quyết định của thanh tra Nhà nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động.
1- Yêu cầu người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh theo quy định của Nhà nước và huấn luyện, hướng dẫn cho mình các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động;
2- Từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xẩy ra tai nạn lao động, đe doạ nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khoẻ của mình, nhưng phải báo ngay với người có trách nhiệm; hành vi này không bị coi là vi phạm kỷ luật lao động;
3- Khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi phải làm việc trong điều kiện không bảo đảm an toàn, vệ sinh hoặc khi người sử dụng lao động vi phạm các quy định về bảo hộ lao động.
1- Nắm vững các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao;
2- Thực hiện những quy định, chỉ dẫn về an toàn lao động, vệ sinh lao động; giữ gìn và sử dụng các dụng cụ, thiết bị an toàn, vệ sinh, phương tiện bảo vệ cá nhân; trong trường hợp làm hư hỏng hoặc làm mất các dụng cụ, thiết bị, phương tiện đó thì phải bồi thường;
3- Báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; tham gia cấp cứu và khắc phục hậu quả tai nạn lao động.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VẾ BẢO HỘ LAO ĐỘNG
Quản lý Nhà nước về bảo hộ lao động bao gồm:
1- Xây dựng và ban hành các quy định về bảo hộ lao động;
2- Xây dựng chương trình quốc gia về bảo hộ lao động và đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách của Nhà nước;
3- Thanh tra việc thực hiện các quy định về bảo hộ lao động.
2- Bộ Y tế có trách nhiệm giúp Hội đồng bộ trưởng quản lý việc thực hiện công tác bảo đảm vệ sinh lao động; đề xuất phương hướng, chương trình quốc gia về: vệ sinh lao động; xây dựng, sửa đổi, bổ sung các tiêu chuẩn vệ sinh lao động, các loại bệnh nghề nghiệp, bảo vệ sức khoẻ người lao động; tổ chức giám định y khoa, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp và điều trị người bị bệnh; thanh tra Nhà nước về vệ sinh lao động; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thanh tra viên; hợp tác quốc tế về vệ sinh lao động.
3- Uỷ ban khoa học Nhà nước có trách nhiệm giúp Hội đồng bộ trưởng quản lý việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động, việc xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động, tiêu chuẩn chất lượng, quy cách phương tiện bảo vệ người lao động.
Thành phần của Hội đồng gồm đại diện của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Y tế, Nội vụ, Tài chính, Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, Uỷ ban khoa học Nhà nước, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội làm Chủ tịch.
THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ AN TÒAN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG
Bộ Y tế và cơ quan quản lý Nhà nước về y tế ở địa phương thực hiện chức năng thanh tra Nhà nước về vệ sinh lao động.
Hội đồng bộ trưởng quy định tổ chức thanh tra Nhà nước về an toàn lao động, thanh tra Nhà nước về vệ sinh lao động.
Thanh tra Nhà nước về an toàn lao động có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1- Thanh tra việc chấp hành các quy định về an toàn lao động; yêu cầu hoặc kiến nghị biện pháp bảo đảm an toàn lao động, cải thiện điều kiện lao động; điều tra tai nạn lao động;
2- Đến những nơi thuộc đối tượng, phạm vi thanh tra của mình bất kỳ lúc nào để thanh tra về an toàn lao động và yêu cầu người có trách nhiệm nơi tiến hành thanh tra cung cấp tình hình, số liệu, tài liệu liên quan đến thanh tra, điều tra;
3- Tạm đình chỉ việc sử dụng máy, thiệt bị, nơi làm việc có nguy cơ gây tai nạn lao động và ấn định thời hạn khắc phục nguy cơ đó;
4- Cảnh cáo, phạt tiền hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra hình sự trường hợp vi phạm pháp luật về bảo hộ lao động, nếu xét thấy có dấu hiệu cấu thành tội phạm;
5- Xem xét, chấp thuận các tiêu chuẩn an toàn lao động, các giải pháp an toàn lao động trong các luận chứng kinh tế kỹ thuật, các đề án thiết kế; đăng ký và cho phép đưa vào sử dụng những cơ sở, máy, thiết bị vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định theo
Thanh tra Nhà nước về vệ sinh lao động có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1- Thanh tra việc chấp hành các quy định về vệ sinh lao động; yêu cầu hoặc kiến nghị biện pháp bảo đảm vệ sinh môi trường lao động; điều tra những vụ vi phạm tiêu chuẩn vệ sinh lao động;
2- Đến những nơi thuộc đối tượng, phạm vi thanh tra của mình bất kỳ lúc nào để thanh tra về vệ sinh lao động và yêu cầu người có trách nhiệm nơi tiến hành điều tra cung cấp tình hình, số liệu, tài liệu liên quan đến việc thanh tra, điều tra;
3- Tạm đình chỉ nơi làm việc vi phạm tiêu chuẩn vệ sinh gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường lao động;
4- Cảnh cáo, phạt tiền hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra hình sự trường hợp vi phạm về vệ sinh lao động, nếu xét thấy có dấu hiệu cấu thành tội phạm;
5- Xem xét, chấp thuận địa điểm, các giải pháp vệ sinh lao động khi xây dựng mới hoặc mở rộng, cải tạo cơ sở để sản xuất, sử dụng, lưu giữ các chất phóng xạ, chất độc thuộc danh mục do Bộ Y tế quy định theo
TRÁCH NHIỆM, QUYỀN HẠN CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐÒAN
Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.
|
| Võ Chí Công (Đã ký) |
- 1Hiến pháp năm 1980
- 2Thông tư liên bộ 03/TT-LB năm 1994 quy định các điều kiện lao động có hại và các công việc không được sử dụng lao động nữ do Bộ của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Bộ Y tế ban hành
- 3Chỉ thị 13/1998/CT-TTg về tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong tình hình mới do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Thông tư liên bộ 20-LB/TT năm 1992 quy định chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật cho những người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố độc hại do Bộ Y tế - Bộ Lao động, thương binh và xã hội ban hành
- 5Chỉ thị liên bộ 169/LT-BXD-CĐ năm 1992 thực hiện Pháp lệnh Bảo hộ lao động trong ngành xây dựng do Bộ Xây dựng và Công đoàn xây dựng Việt nam ban hành
- 6Chỉ thị 28/BYT-CT năm 1991 thực hiện Pháp lệnh bảo hộ lao động do Bộ Y tế ban hành
- 7Tiêu chuẩn ngành 22TCN 306:2003 về tiêu chuẩn kỹ thuật bảo dưỡng thường xuyên đường bộ do Bộ Giao thông vận tải ban hành
Pháp lệnh Bảo hộ lao động năm 1991 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- Số hiệu: 61-LCT/HĐNN8
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 19/09/1991
- Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 23
- Ngày hiệu lực: 01/01/1992
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
