Nghị định 56-HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1989 nhằm hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh Nghĩa vụ lao động công ích. Văn bản này quy định cụ thể về đối tượng được miễn, giảm, tạm miễn nghĩa vụ; phương thức thực hiện nghĩa vụ trực tiếp hoặc đóng góp thay thế; quy trình huy động lao động trong điều kiện bình thường và khẩn cấp; quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động; cũng như trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và các chế tài xử lý vi phạm liên quan.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với mọi công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ lao động công ích theo quy định của pháp luật; các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức kinh tế - xã hội có trách nhiệm huy động, quản lý hoặc sử dụng nguồn lực lao động công ích hàng năm và trong các trường hợp khẩn cấp.
1. Quy định về miễn, tạm miễn, giảm và thực hiện thay thế nghĩa vụ lao động công ích hàng năm
- Đối tượng được miễn thực hiện nghĩa vụ: Áp dụng đối với những người giữ chức sắc tôn giáo cụ thể bao gồm Đại đức, Hoà thượng, Thượng toạ (đối với Đạo Phật); Linh mục, Giám mục hoặc người đứng đầu các dòng tu (đối với Thiên Chúa giáo); Giảng sư, mục sư (đối với Đạo Tin lành).
- Đối tượng được tạm miễn: Công dân đi lao động, học tập, công tác ở nước ngoài từ một năm trở lên được tạm miễn trong thời gian ở nước ngoài.
- Chế độ giảm trừ ngày công: Quân nhân dự bị, dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra sẵn sàng chiến đấu, trực chiến hoặc truy bắt biệt kích, thám báo theo điều động của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên (hoặc cấp xã đối với vùng biên giới, hải đảo) được trừ số ngày làm nhiệm vụ vào số ngày công lao động công ích ghi trong lệnh huy động.
- Hình thức lao động thay thế: Người được huy động phải trực tiếp làm việc là chính. Trường hợp không thể trực tiếp làm thì được phép tự thuê người làm thay (phải có giao kèo rõ ràng về quyền lợi, trách nhiệm và báo cáo cơ quan huy động) hoặc nộp tiền cho Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, xí nghiệp để thuê người làm thay theo giá tiền công tại địa phương.
- Quản lý và sử dụng tiền đóng góp thay thế: Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, xí nghiệp có trách nhiệm thu tiền, cấp biên lai do Bộ Tài chính phát hành và nộp đầy đủ, kịp thời cho Ủy ban nhân dân cấp huyện. Nghiêm cấm thu tiền trước khi có lệnh huy động hoặc khi chưa được sự đồng ý của người được huy động. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý số tiền này để điều hòa chung, đầu tư cho các công trình sử dụng lao động công ích và được trích 5% để chi cho công tác tổ chức huy động.
2. Nguyên tắc tổ chức và sử dụng hợp lý lực lượng lao động công ích
- Tổ chức lực lượng: Khuyến khích thành lập các đội lao động công ích chuyên trách hoặc bán chuyên trách tại địa phương để thực hiện công việc thay cho những người nộp tiền đóng góp thế thế.
- Tránh ảnh hưởng sản xuất: Không điều động người làm nông nghiệp, lâm nghiệp, nghề cá, nghề muối vào thời điểm thời vụ sản xuất khẩn trương.
- Đối với giáo viên và học sinh, sinh viên: Chỉ huy động trực tiếp vào thời gian nghỉ hè hoặc thời gian nghỉ giữa hai kỳ học của các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.
- Đối với cán bộ, công nhân viên chức: Thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã phải thỏa thuận trước với cơ quan huy động sở tại để thống nhất hình thức và thời điểm huy động phù hợp.
- Sử dụng chuyên môn kỹ thuật: Những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật như kỹ sư, bác sĩ, thợ kỹ thuật cần được ưu tiên bố trí vào các công việc phù hợp với chuyên môn của họ.
- Phạm vi công việc được huy động: Chỉ được huy động lao động công ích hàng năm cho các công trình quy định tại Pháp lệnh bao gồm: xây dựng mới, tu bổ đê, kè, cống (sông, biển, bảo vệ thành phố, khu công nghiệp); xây dựng công trình thủy lợi đầu mối từ kênh cấp 1 trở lên thuộc hệ thống đại, trung thủy nông; xây dựng nền đường giao thông liên huyện, liên tỉnh (đường bộ và đường sắt); xây dựng một số công trình quốc phòng (nền sân bay, quân cảng, khu căn cứ, đường quân sự khẩn cấp và phục vụ chiến đấu).
3. Huy động nghĩa vụ lao động công ích trong các trường hợp khẩn cấp
- Thẩm quyền huy động: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện có quyền huy động lao động cùng công cụ, phương tiện, máy móc, nguyên vật liệu của các cơ quan nhà nước, cơ sở kinh tế và nhân dân, lực lượng vũ trang trên địa bàn với thời gian không quá 5 ngày mỗi đợt. Trong trường hợp cần ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả khẩn cấp tức thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được quyền huy động với thời gian không quá 3 ngày mỗi đợt.
- Giới hạn thời gian và hoàn trả phương tiện: Khi hết thời hạn huy động khẩn cấp mà công việc chưa hoàn thành, phải chuyển sang sử dụng lực lượng lao động khác, tuyệt đối không được kéo dài thời gian huy động khẩn cấp. Phương tiện vận tải, máy móc huy động phải được hoàn trả cho chủ sở hữu chậm nhất 1 ngày sau khi hết hạn huy động; nếu quá hạn phải đền bù thiệt hại bằng 2 lần mức giá trị trung bình mà phương tiện đó tạo ra trong những ngày quá hạn.
- Trách nhiệm đền bù thiệt hại: Khi huy động tài sản, phương tiện của dân hoặc các cơ sở kinh tế, cơ quan huy động phải lập biên bản ghi rõ tình trạng tài sản và thời gian hoàn trả. Nếu xảy ra mất mát, hư hỏng phải đền bù thỏa đáng. Trường hợp không thống nhất được mức đền bù, chủ tài sản có quyền khiếu nại lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, tỉnh hoặc khởi kiện ra Tòa án. Người ra lệnh huy động khẩn cấp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
4. Nhiệm vụ và quyền lợi của người trực tiếp tham gia lao động công ích
- Nhiệm vụ của người lao động: Phải hoàn thành khối lượng và chất lượng công việc được giao theo chế độ khoán định mức (hoặc theo thời gian nếu không định mức được); tự mang theo dụng cụ lao động thông thường và đồ dùng sinh hoạt cá nhân; chấp hành nghiêm túc nội quy, kỷ luật lao động trên công trường; bảo vệ tài sản của nhà nước, tập thể và nhân dân.
- Chế độ trợ cấp sinh hoạt: Người làm lao động phổ thông được trợ cấp mỗi ngày công hoặc định mức hoàn thành một khoản tiền tương đương giá trị 1 kg gạo. Người có chuyên môn kỹ thuật (mộc, nề, sắt...) được trợ cấp tương đương từ 1,25 kg đến 1,5 kg gạo. Giá gạo được tính theo giá kinh doanh lương thực của Nhà nước tại địa phương ở thời điểm thanh toán. Lao động khẩn cấp dưới 1 ngày không được trợ cấp, từ 1 ngày trở lên được hưởng trợ cấp theo quy định chung.
- Chế độ di chuyển và ăn ở: Người làm việc cách xa nhà từ 20 km trở lên được hỗ trợ tiền tàu xe và trợ cấp đi đường mỗi ngày tương đương giá 1 kg gạo cho một lượt đi và một lượt về. Nếu phải ăn ở tập trung tại công trường, đơn vị sử dụng phải bố trí nơi ở, cung cấp dầu đèn thắp sáng và nước uống sạch.
- Chế độ bảo hiểm, tai nạn và đau ốm: Người lao động được khám, chữa bệnh miễn phí tại các cơ sở y tế nhà nước khi bị ốm đau hoặc tai nạn lao động. Trường hợp bị tai nạn dẫn đến thương tật sẽ được hưởng trợ cấp thương tật một lần hoặc hàng tháng theo chế độ bảo hiểm xã hội hiện hành (đối với người không phải cán bộ công nhân viên chức, mức trợ cấp tính trên lương tối thiểu do Nhà nước quy định) và được bố trí công việc phù hợp. Nếu tử vong, thân nhân được hỗ trợ chi phí mai táng và trợ cấp tuất. Người có hành động dũng cảm cứu người, bảo vệ tài sản mà bị thương hoặc hy sinh sẽ được xem xét hưởng chính sách như thương binh hoặc liệt sĩ.
- Quyền lợi của người làm thay: Người làm thay cho người có nghĩa vụ lao động công ích hàng năm, ngoài tiền công thỏa thuận, vẫn được hưởng đầy đủ các quyền lợi về trợ cấp sinh hoạt, hỗ trợ đi lại, chế độ bảo hộ lao động và bảo hiểm tai nạn như người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ.
- Nguồn kinh phí chi trả: Các khoản chi phí quyền lợi cho người lao động do đơn vị sử dụng lao động thanh toán và hạch toán trực tiếp vào giá thành công trình. Riêng trợ cấp thương tật hàng tháng và trợ cấp tuất do quỹ bảo hiểm xã hội hoặc ngân sách địa phương chi trả tùy đối tượng.
- Lao động nữ: Phụ nữ tham gia lao động công ích trong những ngày hành kinh phải được đơn vị sử dụng bố trí công việc nhẹ nhàng, phù hợp với sức khỏe.
5. Trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành và địa phương
- Ủy ban Kế hoạch Nhà nước: Tổng hợp, cân đối kế hoạch sử dụng lao động công ích hàng năm trên phạm vi cả nước; phân bổ chỉ tiêu cho các ngành trung ương và giao chỉ tiêu cho các địa phương thực hiện.
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Chủ trì phối hợp hướng dẫn các chế độ cụ thể cho người lao động; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích trên toàn quốc; phối hợp xây dựng kế hoạch huy động hàng năm.
- Bộ Tài chính: Hướng dẫn, kiểm tra việc cấp phát, quản lý kinh phí sử dụng lao động công ích; quản lý việc thu và sử dụng tiền đóng góp thay thế; thống nhất phát hành biên lai thu tiền.
- Bộ Y tế: Chỉ đạo, hướng dẫn công tác khám chữa bệnh, sơ cứu và cấp cứu tai nạn lao động tại các công trường.
- Tổng cục Thống kê: Ban hành các biểu mẫu thống kê, hướng dẫn thu thập số liệu về khả năng ngày công và kết quả huy động, sử dụng lao động công ích của các ngành, địa phương.
- Ủy ban nhân dân các cấp: Chỉ đạo thực hiện chế độ nghĩa vụ lao động công ích; quản lý quỹ ngày công của địa phương. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh duyệt kế hoạch của các ngành địa phương, giao chỉ tiêu cho cấp huyện và báo cáo Hội đồng Bộ trưởng. Ủy ban nhân dân cấp huyện phân bổ chỉ tiêu cho cấp xã và các doanh nghiệp đóng trên địa bàn. Ủy ban nhân dân cấp xã và thủ trưởng đơn vị trực tiếp điều động công dân thực hiện nghĩa vụ.
- Đơn vị sử dụng lao động công ích: Chuẩn bị đầy đủ điều kiện tiếp nhận lao động; ký kết hợp đồng trách nhiệm; tổ chức lao động khoa học, bảo đảm an toàn lao động; thanh toán đầy đủ, kịp thời các khoản trợ cấp và chế độ cho người lao động.
6. Khen thưởng và chế tài xử lý vi phạm
- Khen thưởng: Các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác huy động, quản lý và sử dụng lao động công ích được khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước về thi đua khen thưởng.
- Xử lý vi phạm đối với công dân: Công dân trốn tránh hoặc không chấp hành lệnh huy động sẽ bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo và buộc phải thực hiện nghĩa vụ, hoặc phạt tiền bằng 3 lần mức tiền công một ngày tại địa phương cho mỗi ngày vi phạm. Nếu cố tình không chấp hành quyết định xử phạt có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
- Xử lý vi phạm đối với người nhận làm thuê: Người đã nhận tiền làm thuê nhưng không thực hiện công việc sẽ bị cảnh cáo, buộc trả lại tiền. Nếu tái phạm nhiều lần hoặc cố ý cản trở việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Xử lý vi phạm đối với cán bộ, người có thẩm quyền: Người có thẩm quyền ra lệnh huy động sai quy định (quá thời gian, quá số ngày công), sử dụng sai mục đích quỹ ngày công hoặc quỹ tiền đóng góp, tham ô, lãng phí, thiếu trách nhiệm gây tai nạn hoặc lãng phí sức lao động sẽ bị xử lý kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo, cách chức hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo: Mọi khiếu nại, tố giác của công dân liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích được giải quyết theo quy định pháp luật hiện hành về khiếu nại, tố cáo.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 56-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây về nghĩa vụ lao động công ích trái với Pháp lệnh Nghĩa vụ lao động công ích và Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn chi tiết việc thi hành Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 56-HĐBT | Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 1989 |
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ điều 25 của Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích
ngày 10 tháng 11 năm 1988;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội,
- Đại đức, Hoà thượng, Thượng toạ (đối với đạo phật).
- Linh mục, giám mục, hoặc đứng đầu các dòng tu (đối với thiên chúa
giáo).
- Giảng sư, mục sư (đối với đạo tin lành).
1. Uỷ ban nhân dân xã, cơ quan, xí nghiệp có trách nhiệm thu tiền của người có nghĩa vụ lao động công ích hàng năm đóng góp thay cho đi làm trực tiếp, khi thu tiền phải cấp biên lai cho người đã nộp tiền; số tiền thu được phải nộp đầy đủ, kịp thời cho Uỷ ban nhân dân huyện.
Cấm thu tiền trước khi có lệnh huy động hoặc khi chưa được sự đồng ý của người được huy động.
2. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương (gọi tắt là tỉnh) căn cứ giá tiền công ở địa phương, quy định mức tiền phải nộp của một ngày lao động nghĩa vụ công ích hàng năm để thực hiện việc thu tiền đối với người nộp tiền thay cho trực tiếp làm công ích hàng năm; trực tiếp quản lý số tiền thu được hàng năm để điều hoà chung trong địa phương, đầu tư cho các công trình được sử dụng lao động công ích hàng năm theo kế hoạch (sau khi đã trừ số ngày công lao động trực tiếp) để công trường thuê người làm thay.
1. Tổ chức các đội lao động công ích chuyên trách hoặc bán chuyên trách của địa phương, đơn vị để làm thay cho những người có nghĩa vụ lao động công ích mà không trực tiếp đi làm được.
2. Tránh điều động những người làm nông nghiệp, lâm nghiệp, nghề cá, nghề muối trực tiếp tham gia lao động công ích vào lúc thời vụ sản xuất khẩn trương.
3. Đối với giáo viên, công nhân viên và học sinh các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề thì huy động trực tiếp đi làm vào thời gian nghỉ hè hoặc thời gian nghỉ giữa hai kỳ học.
4. Đối với những người đang làm việc trong các cơ quan, xí nghiệp, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp thì thủ trưởng và người đại diện cơ quan, đơn vị thoả thuận trước với cơ quan huy động sở tại để thống nhất hình thức, thời điểm huy động lao động theo nghĩa vụ lao động công ích hàng năm, tránh ảnh hưởng đến sản xuất, công tác và hoạt động của cơ quan, đơn vị.
5. Đối với những người có nghề chuyên môn kỹ thuật như kỹ sư, bác sĩ, thợ kỹ thuật... cần xét bố trí làm những công việc có thể sử dụng được chuyên môn kỹ thuật của họ.
1. Xây dựng mới, tu bổ đê, kè, cống bao gồm đê sông, đê biển, đê bảo vệ thành phố, khu công nghiệp.
Xây dựng công trình thuỷ lợi đầu mối từ kênh cấp 1 trở lên thuộc các công trình đại, trung thuỷ nông.
2. Xây dựng nền đường giao thông liên huyện, liên tỉnh, gồm cả nền đường bộ và nền đường sắt.
3. Xây dựng một số công trình quốc phòng gồm nền sân bay, quân cảng, khu căn cứ, đường giao thông quân sự làm gấp và phục vụ chiến đấu ở nơi có chiến sự xảy ra.
II- HUY ĐỘNG NGHĨA VỤ LAO ĐỘNG CÔNG ÍCH
Điều 6.- Thẩm quyền ra lệnh huy động nghĩa vụ lao động công ích trong các trường hợp khẩn cấp:
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện có quyền ra lệnh huy động lao động cùng với công cụ lao động, phương tiện vận tải, máy móc, nguyên liệu, vật liệu... của các cơ quan, xí nghiệp nhà nước, các cơ sở kinh tế tư nhân, tập thể và nhân dân; của các lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn tỉnh, huyện hoặc có mặt ở địa phương trong thời gian xảy ra trường hợp khẩn cấp.
Thời gian huy động mỗi đợt không quá 5 ngày.
2. Trong trường hợp cần phải ngăn chặn hoặc khắc phục ngay hậu quả thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã được ra lệnh huy động lao động cùng với công cụ lao động, phương tiện vận tải, vật tư cần thiết của các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước, cơ sở kinh tế tư nhân, tập thể và nhân dân, của các lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn xã.
Thời gian huy động mỗi đợt không quá 3 ngày.
Đối với phương tiện vận tải, máy móc đơn vị sử dụng phải hoàn trả cho chủ phương tiện chậm nhất không quá 1 ngày, kể từ khi hết thời hạn huy động khẩn cấp. Nếu sau thời gian đó chưa hoàn trả thì những ngày quá hạn đơn vị sử dụng phải đền bù thiệt hại cho chủ phương tiện. Mức tiền đền bù mỗi ngày bằng 2 lần mức giá trị trung bình mà phương tiện máy móc đó tạo ra trước lúc huy động.
Khi huy động phương tiện vận tải, máy móc, nguyên liệu, vật liệu của các cơ sở, hoặc của nhân dân, đơn vị sử dụng hoặc cơ quan huy động phải lập biên bản ghi rõ tình trạng của phương tiện, vật tư, thời gian hoàn trả. Nếu bị mất hoặc hư hỏng thì đơn vị sử dụng đền bù thoả đáng cho chủ phương tiện, vật tư. Nếu đơn vị sử dụng không đền bù hoặc chủ phương tiện, vật tư chưa đồng ý mức đền bù thì đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, huyện giải quyết, nếu không nhất trí với quyết định giải quyết của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thì chủ phương tiện, vật tư có thể khiếu nại với Toà án.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có quyền ra lệnh huy động lao động khẩn cấp theo quy định tại điều 17 của Pháp lệnh và
III- NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI TRỰC TIẾP
Điều 11. - Người trực tiếp tham gia lao động công ích có nhiệm vụ:
1. Hoàn thành khối lượng và chất lượng được giao.
2. Mang theo dụng cụ lao động thông thường theo yêu cầu của đơn vị sử dụng và đồ dùng sinh hoạt cá nhân trong thời gian lao động ở công trường.
3- Chấp hành nội quy, kỷ luật lao động của công trường.
4. Bảo vệ tài sản của Nhà nước; của tập thể và của nhân dân.
Điều 12. - Người trực tiếp tham gia lao động công ích được hưởng quyền lợi như sau:
Nếu làm lao động công ích trong các trường hợp khẩn cấp trong phạm vi một ngày thì không được hưởng trợ cấp, nếu làm việc trên một ngày thì được hưởng trợ cấp sinh hoạt theo quy định đã nói trên.
2. Những người đi làm lao động công ích ở xa nhà từ 20 kilômét trở lên thì được cấp tiền cho một lượt đi và một lượt về, mỗi ngày một số tiền bằng giá 1 kilôgam gạo theo giá kinh doanh lương thực của Nhà nước ở địa phương, tại thời điểm thanh toán. Nếu phải đi và về bằng tàu xe thì được thanh toán cả tiền tàu xe.
Người làm nghĩa vụ lao động công ích có hành động dũng cảm tỏ rõ tinh thần khắc phục khó khăn, nguy hiểm, trong khi thực hiện nhiệm vụ mà bị thương hoặc hy sinh, nếu được xếp hạng thương tật, hoặc truy tặng liệt sĩ, thì bản thân hoặc gia đình được hưởng chính sách đãi ngộ như thương binh hoặc gia đình liệt sĩ.
Phân bổ chỉ tiêu sử dụng ngày lao động công ích hàng năm cho các ngành ở trung ương và giao chỉ tiêu đó cho các địa phương thực hiện.
Điều 16. - Bộ Lao động - Thương binh và xã hội có trách nhiệm:
- Chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn chế độ cụ thể đối với người tham gia lao động công ích.
- Hướng dẫn kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chế độ nghĩa vụ lao động công ích đối với tất cả các ngành, các cấp trong phạm vi cả nước.
- Tham gia với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước trong việc xây dựng kế hoạch huy động, sử dụng lao động công ích hàng năm.
Điều 17. - Bộ Tài chính có trách nhiệm:
- Hướng dẫn và kiểm tra chế độ cấp phát và quản lý kinh phí việc sử dụng lao động công ích cho các ngành ở trung ương và địa phương.
- Hướng dẫn việc quản lý và sử dụng tiền do người được huy động làm nghĩa vụ lao động công ích nộp thay cho đi làm lao động trực tiếp; thống nhất quản lý và phát hành biên lai thu tiền.
- Cùng với Bộ Lao động - Thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành các chế độ cụ thể đối với người trực tiếp tham gia lao động công ích.
- Uỷ ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm xét duyệt kế hoạch sử dụng lao động công ích hàng năm của các ngành trong địa phương; xây dựng kế hoạch huy động, sử dụng lao động công ích hàng năm; giao chỉ tiêu huy động ngày công lao động cho các huyện thực hiện; kiểm tra việc huy động, sử dụng lao động công ích của các ngành, các cấp trong địa phương; hàng năm báo cáo lên Hội đồng Bộ trưởng, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội.
- Uỷ ban nhân dân huyện căn cứ chỉ tiêu kế hoạch của tỉnh để phân bổ chỉ tiêu huy động ngày công lao động cho các xã, các cơ quan, xí nghiệp đóng trên địa bàn huyện và chỉ đạo việc thực hiện.
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, thủ trưởng các cơ quan, xí nghiệp trực tiếp điều động công dân có nghĩa vụ tham gia lao động công ích hàng năm theo kế hoạch của huyện.
Điều 21.- Các đơn vị sử dụng lao động công ích có trách nhiệm:
- Chuẩn bị tốt các điều kiện để tiếp nhận và sử dụng lao động, thực hiện hợp đồng trách nhiệm với các đơn vị tham gia lao động công ích.
- Tổ chức lao động hợp lý, bảo đảm sử dụng lao động công ích đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; thực hiện đúng chế độ bảo hộ lao động và kỹ thuật an toàn lao động; thanh toán đầy đủ, kịp thời tiền trợ cấp và các chế độ khác theo quy định tại
1. Công dân không chấp hành lệnh huy động, hoặc cố ý trốn tránh thực hiện nghĩa vụ lao động công ích thì bị xử phạt hành chính theo một trong các hình thức:
- Cảnh cáo và bắt buộc phải thi hành nghĩa vụ lao động công ích.
- Phạt tiền ở mức gấp 3 lần tiền công một ngày ở địa phương trên mỗi ngày không làm nghĩa vụ lao động công ích.
Nếu cố tình không thi hành các quyết định xử phạt nói trên có thể bị truy tố theo điều 208 hoặc điều 209 của Bộ luật Hình sự.
2. Người đã nhận tiền làm thuê cho người có nghĩa vụ lao động công ích mà không làm thì bị cảnh cáo, bị buộc phải trả lại số tiền đã nhận. Nếu vi phạm nhiều lần hoặc người nào cố ý làm sai hoặc cản trở việc thực hiện nghĩa vụ lao động công ích thì có thể bị truy tố theo điều 157 hoặc điều 209 của Bộ luật Hình sự.
3. Người có chức vụ có thẩm quyền ra quyết định huy động, cán bộ làm công tác điều động, chỉ huy, quản lý và sử dụng lao động công ích làm trái những quy định về chế độ nghĩa vụ lao động công ích như huy động quá thời gian hoặc số ngày công quy định; sử dụng quỹ lao động công ích (bao gồm quỹ ngày công lao động trực tiếp và quỹ bằng tiền) không đúng mục đích; tham ô, thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra lãng phí sức lao động và tài sản của Nhà nước, của nhân dân; để xảy ra tai nạn thì tuỳ mức độ mà bị xử lý theo một trong các hình thức:
- Khiển trách.
- Cảnh cáo.
- Cách chức.
Nếu vi phạm nghiêm trọng thì có thể bị truy tố theo điều 209 hoặc điều 220, 221 của Bộ luật Hình sự.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký.
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
Nghị định 56-HĐBT năm 1989 hướng dẫn Pháp lệnh Nghĩa vụ lao động công ích do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 56-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 30/05/1989
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Võ Văn Kiệt
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 11
- Ngày hiệu lực: 30/05/1989
- Ngày hết hiệu lực: 13/01/2001
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
