Nghị định 35-HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1992 nhằm thiết lập hành lang pháp lý toàn diện cho công tác quản lý khoa học và công nghệ, thúc đẩy việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất và đời sống xã hội.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Nghị định áp dụng đối với tất cả các cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân Việt Nam có hoạt động liên quan đến nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và dịch vụ khoa học, công nghệ.
Quyền hạn và phương thức hoạt động khoa học và công nghệ- Quyền bình đẳng và tự do nghiên cứu: Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền tổ chức, thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ; bình đẳng trong việc dự tuyển chủ trì hoặc tham gia các chương trình, đề tài cấp Nhà nước. Người hoạt động trong lĩnh vực này được bảo đảm quyền tự do, dân chủ trong nghiên cứu, sáng tạo và trao đổi thông tin, nhưng phải tuân thủ Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước.
- Phạm vi hoạt động khoa học và công nghệ: Bao gồm nghiên cứu, thực nghiệm, triển khai áp dụng công nghệ, kỹ thuật, sản phẩm, phương pháp tổ chức mới; sản xuất thử nghiệm quy mô nhỏ các sản phẩm công nghệ cao; thực hiện các dịch vụ thông tin, tư vấn, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý khoa học công nghệ (việc mở trường, lớp đào tạo phải theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
- Phương thức thực hiện: Các tổ chức, cá nhân có thể tự thực hiện hoặc ký kết hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, liên doanh, liên kết với các đối tác trong và ngoài nước theo quy định pháp luật.
- Thành lập đơn vị trực thuộc: Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế được phép thành lập đơn vị nghiên cứu và phát triển công nghệ trực thuộc. Ngược lại, việc thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh trực thuộc cơ quan khoa học công nghệ phải tuân thủ Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân và các quy định liên quan đến doanh nghiệp Nhà nước.
- Ngân sách Nhà nước: Hàng năm, Nhà nước dành ít nhất 2% tổng ngân sách để chi cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Nguồn kinh phí này tập trung cho các chương trình trọng điểm quốc gia, xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ, hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các cơ sở sản xuất trọng điểm của Nhà nước và hỗ trợ quỹ phát triển khoa học công nghệ của các Bộ, địa phương.
- Hạng mục chi trong xây dựng cơ bản: Các công trình đầu tư cơ bản quy mô lớn được phép trích một hạng mục chi riêng trong tổng dự toán để nghiên cứu khoa học phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng và vận hành công trình đó.
- Quỹ phát triển khoa học và công nghệ: Được thành lập tại các Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Nguồn quỹ hình thành từ ngân sách hỗ trợ, kinh phí thu hồi từ các đề tài đã thực hiện, trích từ lợi nhuận doanh nghiệp do Bộ/địa phương quản lý và quỹ khuyến khích phát triển sản xuất của các cơ sở trực thuộc.
- Nguồn vốn của tổ chức khoa học công nghệ: Bao gồm ngân sách nhà nước cấp (nếu có), doanh thu từ hợp đồng dịch vụ, vốn liên doanh, vốn vay ngân hàng và các nguồn viện trợ hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
- Phân phối lợi nhuận và ưu đãi thuế: Lợi nhuận thu được từ hoạt động khoa học công nghệ được trích lập vào các quỹ phát triển khoa học công nghệ, quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng. Các hợp đồng nghiên cứu khoa học và sản xuất thử nghiệm được miễn thuế hoàn toàn. Các hợp đồng dịch vụ khoa học công nghệ được miễn thuế lợi tức nhưng phải nộp thuế doanh thu.
- Chuyển đổi phương thức cấp phát kinh phí: Từng bước chuyển đổi việc cấp kinh phí lương và bộ máy đối với các cơ quan nghiên cứu của Nhà nước từ cơ chế cấp theo biên chế sang cơ chế cấp phát theo chương trình, đề tài thông qua hợp đồng đặt hàng cụ thể.
- Chuyển đổi chế độ lao động: Cho phép các tổ chức khoa học công nghệ Nhà nước chuyển dần từ chế độ biên chế sang chế độ hợp đồng lao động. Người lao động ký hợp đồng dài hạn được hưởng đầy đủ quyền lợi và trách nhiệm như người trong biên chế, bao gồm cả việc cử đi học tập, hợp tác tại nước ngoài.
- Đăng ký hoạt động: Các tổ chức do Hội đồng Bộ trưởng, các Bộ, đoàn thể trung ương thành lập phải đăng ký hoạt động tại Ủy ban Khoa học Nhà nước. Các tổ chức do cấp tỉnh, tập thể hoặc cá nhân thành lập phải đăng ký tại Ủy ban (Ban) Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
- Ủy ban Khoa học Nhà nước: Chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn đầu tư trung ương cho khoa học công nghệ (gồm kinh phí sự nghiệp, vốn xây dựng cơ bản, ngoại tệ, viện trợ quốc tế) để tổng hợp vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung; quản lý, giám sát việc sử dụng vốn đúng mục đích; đánh giá kết quả thực hiện đề tài sử dụng ngân sách; phối hợp hướng dẫn các chế độ tài chính, thuế, hợp tác quốc tế và quản lý đăng ký hoạt động.
- Các Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Có trách nhiệm quản lý, khuyến khích và phát huy tiềm lực khoa học công nghệ trong ngành, địa phương; quyết định thành lập và hướng dẫn đăng ký hoạt động cho các tổ chức trực thuộc; huy động đội ngũ chuyên gia tham gia phản biện các dự án, chương trình phát triển lớn trước khi phê duyệt.
Hiệu lực thi hành: Nghị định 35-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Tất cả các quy định trước đây trái với nội dung của Nghị định này đều bị bãi bỏ. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành văn bản này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 35-HĐBT | Hà Nội, ngày 28 tháng 1 năm 1992 |
CUẢ HỘIĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 35-HĐBT NGÀY 28-1-1992 VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Để tiếp tục đổi mới quản lý khoa học và công nghệ, thúc đẩy phát triển các hoạt động sáng tạo, khuyến khích việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới vào sản xuất và đời sống, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của các hoạt động khoa học và công nghệ;
Xét đề nghị của Chủ nhiệm uỷ ban Khoa học Nhà nước,
NGHỊ ĐỊNH :
Điều 2. - Các hoạt động khoa học và công nghệ nói ở điều 1 bao gồm:
- Nghiên cứu, thực nghiệm, triển khai áp dụng các công nghệ mới, các kỹ thuật mới, các sản phẩm mới, các phương pháp mới và biện pháp tổ chức mới.
- Sản xuất đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ các sản phẩm mới với trình độ công nghệ cao mà các cơ sở sản xuất chưa có điều kiện thực hiện.
- Thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ về khoa học, công nghệ, tổ chức, quản lý. Việc mở các trường, lớp đào tạo phải tuân thủ các quy định và hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Điều 3. - Các hoạt động nêu ở Điều 2 có thể được thực hiện theo các phương thức sau:
- Các tổ chức và cá nhân nói ở Điều 1 tự làm.
- Các tổ chức và cá nhân nói ở Điều 1 ký kết hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự hoặc liên doanh, liên kết với các tổ chức và cá nhân khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài, không trái các quy định và pháp luật hiện hành.
Điều 7. - Kinh phí của Nhà nước nói ở điều 6 được tập trung chủ yếu cho các hoạt động sau:
- Nghiên cứu và phát triển theo các nhiệm vụ và chương trình trọng diểm của Nhà nước.
- Xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của Nhà nước.
- Hỗ trợ một phần việc đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm ở các cơ sở sản xuất trọng điểm của Nhà nước.
- Hỗ trợ một phần cho quỹ phát triển khoa học và công nghệ ở các Bộ và các tỉnh, thành phố.
- Kinh phí hỗ trợ của ngân sách trung ương và kinh phí của ngân sách địa phương dành cho sự nghiệp khoa học và công nghệ của ngành và địa phương (không bao gồm kinh phí cho các chương trình, đề tài trọng điểm Nhà nước mà bộ, địa phương chủ trì hoặc tham gia thực hiện, được cấp riêng).
- Kinh phí thu hồi từ các chương trình, đề tài, đề án cấp Bộ, tỉnh và thành phố.
- Kinh phí trích từ lợi nhuận của các doanh nghiệp do Bộ hoặc tỉnh, thành phố quản lý.
- Kinh phí trích từ quỹ khuyến khích phát triển sản xuất của các cơ sở sản xuất trực thuộc.
v.v...
Điều 10. - Nguồn vốn của các tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ bao gồm :
- Vốn do ngân sách Nhà nước cấp (nếu có).
- Kinh phí do thực hiện các hợp đồng.
- Vốn do liên doanh, liên kết với các tổ chức khác.
- Vốn vay ngân hàng, theo các quy định của ngân hàng nhà nước Việt Nam.
- Viện trợ của các tổ chức Chính phủ, phi Chính phủ và cá nhân trong nước hoặc nước ngoài.
Bộ Lao động - Thương binh và xã hội phối hợp với Uỷ ban Khoa học Nhà nước và Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ hướng dẫn cụ thể việc thực hiện chế độ hợp đồng lao động.
Điều 16. - Uỷ ban khoa học Nhà nước có trách nhiệm:
- Lập dự kiến kế hoạch phân bổ các nguồn đầu tư của trung ương cho khoa học và công nghệ (bao gồm kinh phí sự nghiệp, vốn xây dựng cơ bản, vốn ngoại tệ và các nguồn tài trợ của các chính phủ và các tổ chức quốc tế cho khoa học và công nghệ), đưa vào tổng hợp trong dự án kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm; Sau khi kế hoạch Nhà nước được giao; chịu trách nhiệm quản lý theo dõi thực hiện các nguồn vốn cấp đúng đối tượng, đúng mục đích, đạt hiệu quả cao.
- Hàng năm lập báo cáo tổng hợp các nguồn vốn trong và ngoài nước sử dụng cho khoa học và công nghệ, và đánh giá hiệu quả sử dụng.
- Tổ chức đánh giá chính xác kết quả việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của các tổ chức khoa học và công nghệ có sử dụng nguồn vốn do ngân sách Nhà nước cấp.
- Phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan khác có liên quan hướng dẫn và tổ chức thực hiện những điều quy định ở chương II có liên quan đến các chế độ về tài chính đối với các hoạt động khoa học và công nghệ.
- Phối hợp với Bộ Nội vụ và Bộ Ngoại giao quy định cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ trong việc hợp tác với nước ngoài.
- Tổ chức và hướng dẫn việc đăng ký hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ theo
Điều 17. - Các Bộ, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm :
- Quản lý và khuyến khích các hoạt động khoa học và công nghệ trong ngành, trong địa phương theo các quy định tại Nghị định này, phát huy tốt tiềm lực khoa học và công nghệ của ngành, của địa phương.
- Xem xét và quyết định việc thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ trong ngành, trong địa phương và hướng dẫn thực hiện việc đăng ký hoạt động của các tổ chức đó.
- Huy động cán bộ khoa học và công nghệ, cán bộ quản lý của ngành, của địa phương tham gia ý kiến về các chủ trương phát triển, các chương trình, các dự án lớn của ngành, của địa phương trước khi quyết định, nhất là các dự án hợp tác với nước ngoài.
Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
|
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
- 1Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng 1981
- 2Nghị định 388-HĐBT năm 1991 về Quy chế thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3Thông tư 49/TC-KHCN năm 1995 quy định chế độ chi tiêu đối với các hoạt động nghiên cứu triển khai do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Bộ Tài chính ban hành
- 4Thông tư liên tịch 55-TTLB năm 1992 về thuế đối với hoạt động khoa học và công nghệ theo Nghị định 35-HĐBT do Bộ Tài chính - Uỷ ban Khoa học Nhà nước ban hành
- 5Thông tư liên tịch 195-LB năm 1992 về hướng dẫn đăng ký hoạt động của các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ do Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường-Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ ban hành
- 6Chỉ thị 88-CT năm 1982 về tăng cường công tác quản lý khoa học và kỹ thuật ở các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
Nghị định 35-HĐBT năm 1992 về công tác quản lý khoa học và công nghệ do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 35-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 28/01/1992
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Võ Văn Kiệt
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 2
- Ngày hiệu lực: 28/01/1992
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
