Nghị định 338-HĐBT được ban hành năm 1991 bởi Hội đồng Bộ trưởng nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật phổ cập giáo dục tiểu học, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình và cá nhân trong việc bảo đảm quyền lợi học tập cơ bản của trẻ em trên phạm vi cả nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với toàn bộ hệ thống giáo dục tiểu học tại Việt Nam, bao gồm các loại hình trường quốc lập, dân lập, bán công, lớp tư thục và lớp học tại gia đình. Đối tượng điều chỉnh trực tiếp là trẻ em trong độ tuổi phổ cập giáo dục tiểu học, cha mẹ hoặc người đỡ đầu của trẻ, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, cùng các tổ chức chính trị - xã hội liên quan.
Chương trình, nội dung và ngôn ngữ trong giáo dục tiểu học
- Chương trình và nội dung giáo dục tiểu học do Nhà nước quy định thống nhất trong cả nước. Nghiêm cấm mọi hành vi giáo dục trái với chương trình và nội dung chính thống của Nhà nước.
- Các dân tộc thiểu số có quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình song song với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học. Tuy nhiên, học sinh là người dân tộc thiểu số phải nắm vững tiếng Việt để bảo đảm khả năng giao tiếp trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Độ tuổi, điều kiện nhập học và hoàn thành chương trình
- Trẻ em đủ 6 tuổi (tính theo năm) phải được vào học lớp 1 ngay từ đầu năm học và không được đi học muộn hơn 11 tuổi. Các trường hợp ngoại lệ được đi học muộn bao gồm: trẻ em không đủ sức khỏe hoặc phát triển chậm về thể lực, trí lực (có xác nhận của tổ chức y tế); trẻ em có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn (có xác nhận của chính quyền cơ sở); trẻ em cư trú tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới và hải đảo.
- Trẻ em có thể lực tốt và phát triển sớm về trí tuệ có thể vào học lớp 1 trước 6 tuổi hoặc được học vượt lớp, nếu có đề nghị của Hội đồng sư phạm nhà trường và được Phòng Giáo dục quận, huyện, thị xã chấp nhận.
- Học sinh phải đạt trình độ giáo dục tiểu học trước tuổi 15 thông qua kỳ thi tốt nghiệp theo quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo, áp dụng cho tất cả các loại hình trường, lớp.
- Trường hợp trẻ em không hoàn thành giáo dục tiểu học trước tuổi 15, chính quyền cơ sở có trách nhiệm xem xét nguyên nhân và áp dụng các biện pháp cần thiết để buộc cha mẹ hoặc người đỡ đầu tạo điều kiện cho trẻ hoàn thành chương trình.
Tiêu chuẩn trường lớp và đội ngũ nhà giáo
- Trường, lớp tiểu học phải được xây dựng gần khu dân cư, phù hợp với lứa tuổi và điều kiện địa lý, khí hậu từng vùng. Cơ sở vật chất phải bảo đảm đủ phòng học hợp vệ sinh, có sân chơi, vườn trường, bàn ghế phù hợp lứa tuổi. Tuyệt đối không giảng dạy trong các phòng học không bảo đảm an toàn cho học sinh và giáo viên.
- Giáo viên và cán bộ quản lý phải có tư cách đạo đức tốt, tác phong gương mẫu và sở hữu bằng trung học sư phạm hoặc tương đương trở lên. Trường hợp thiếu giáo viên đạt chuẩn, các cơ sở có thể tuyển dụng người có phẩm chất và trình độ phù hợp nhưng phải có kế hoạch bồi dưỡng để họ đạt trình độ tối thiểu.
- Nghiêm cấm những người không đủ tư cách đạo đức và trình độ chuyên môn hành nghề giáo dục. Đồng thời, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể và danh dự của học sinh.
Trách nhiệm của gia đình, cha mẹ và người đỡ đầu
- Bảo đảm các điều kiện để trẻ em đi học đúng độ tuổi, hoàn thành giáo dục tiểu học trước tuổi quy định và không được để trẻ bỏ học giữa chừng.
- Nếu cho trẻ học tại gia đình, phải đăng ký với chính quyền địa phương và bảo đảm các điều kiện học tập cần thiết.
- Thực hiện đầy đủ thủ tục khi trẻ chuyển trường hoặc trở lại trường; tích cực tham gia hoạt động của Hội cha mẹ học sinh để phối hợp với nhà trường.
- Chịu các hình thức xử phạt thích hợp theo quy định của pháp luật nếu con hoặc trẻ được đỡ đầu không hoàn thành giáo dục tiểu học do lỗi của gia đình.
Trách nhiệm của các Bộ, ngành Trung ương
- Bộ Giáo dục và Đào tạo: Quyết định chương trình, nội dung dạy học; phê duyệt sách giáo khoa; quy hoạch đào tạo giáo viên; tổ chức thanh tra giáo dục; ban hành các quy chế về nhập học, chuyển trường, thi tốt nghiệp và tiêu chuẩn đánh giá hoàn thành phổ cập cho các địa phương.
- Bộ Tài chính: Xây dựng quy chế lập và quản lý Quỹ giáo dục quốc gia; ban hành định mức chi phí cho học sinh tiểu học; bảo đảm phân bổ ngân sách kịp thời, ưu tiên cho các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Xác định biên chế giáo viên, cán bộ quản lý; xây dựng chế độ trợ cấp, giúp đỡ tài chính để mở trường lớp cho các đối tượng đặc biệt; ban hành quy chế giáo dục cho trẻ khuyết tật; quy định chế độ đãi ngộ và ưu đãi đối với nhà giáo, đặc biệt là những người công tác tại vùng khó khăn.
- Bộ Ngoại giao: Xác định các điều kiện cần thiết để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học cho trẻ em Việt Nam ở nước ngoài và tiếp nhận trẻ em nước ngoài vào học tại các trường tiểu học Việt Nam.
- Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc tổ chức hoạt động Đội Thiếu niên Tiền phong, vận động gia đình và phụ nữ làm tốt công tác giáo dục, bảo đảm quyền học tập của trẻ em.
Trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp
- Cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương): Quyết định kế hoạch phổ cập; quản lý và sử dụng ngân sách, quỹ giáo dục địa phương; thực hiện chính sách chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho giáo viên; tổ chức đào tạo và sử dụng hợp lý đội ngũ nhà giáo (Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm tham mưu, giúp việc).
- Cấp huyện (quận, huyện, thị xã): Xây dựng kế hoạch chi tiết; bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên; bảo đảm cung cấp đủ sách vở, học cụ; quyết định thành lập hoặc giải thể các trường, lớp tiểu học trên địa bàn (Phòng Giáo dục có trách nhiệm tham mưu, giúp việc).
- Cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn): Đăng ký và huy động trẻ em đi học đúng tuổi; thực hiện các biện pháp ngăn ngừa học sinh bỏ học; đề nghị thành lập hoặc giải thể trường lớp; kiến nghị xử lý các trường hợp vi phạm Luật phổ cập giáo dục tiểu học; hỗ trợ giáo viên cải thiện đời sống.
Thi đua khen thưởng và xử lý vi phạm
- Các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phổ cập giáo dục tiểu học sẽ được khen thưởng theo quy định của Nhà nước. Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng quy chế tặng thưởng "Huy chương vì sự nghiệp giáo dục" để vinh danh các cá nhân có đóng góp xứng đáng.
- Mọi hành vi vi phạm Luật phổ cập giáo dục tiểu học, cản trở việc học tập của trẻ em hoặc thiếu trách nhiệm trong quản lý sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo các hình thức quy định tại Điều 26 của Luật phổ cập giáo dục tiểu học.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 338-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm phối hợp với các bộ ngành liên quan ban hành Thông tư hướng dẫn chi tiết và kiểm tra việc thực hiện.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 338-HĐBT | Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 1991 |
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 338-HĐBT NGàY 26-10-1991 VỀ THI HÀNH LUẬT PHỔ CẬP GIÁO DỤC TIỂU HỌC
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Căn cứ Luật phổ cập giáo dục tiểu học ngày 12 tháng 8 năm 1991;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
NGHỊ ĐỊNH:
Phổ cập giáo dục tiểu học là sự nghiệp và trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội.
Nhà nước có trách nhiệm dành ngân sách thích đáng cho giáo dục tiểu học.
Các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, gia đình và công dân có trách nhiệm:
1 - Xây dựng quỹ giáo dục quốc gia;
2 - Xây dựng và bảo quản trường, lớp;
3 - Kết hợp với ngành giáo dục trong việc giáo dục tiểu học cho trẻ em;
4 - Mọi hành vi cản trở, thiếu trách nhiệm, xâm phạm việc giáo dục tiểu học cho trẻ em đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.
Trẻ em 6 tuổi, tính theo năm, không tính theo tháng, phải được học lớp 1 ngay từ đầu năm học.
Trẻ em không được đi học muộn hơn 11 tuổi, trừ những trường hợp dười đây:
a) Không đủ điều kiện sức khoẻ, phát triển chậm về thể lực, trí lực hoặc ốm đau đột xuất được tổ chức y tế xác nhận;
b) Do hoàn cảnh gia đình có khó khăn đặc biệt được chính quyền cơ sở xác nhận;
c) Cư trú ở những vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng hải đảo và các vùng có khó khăn.
2. Học sinh tiểu học đựoc vượt lớp sau khi đã được Hội đồng sư phạm nhà trường kiểm tra, cho phép và được phòng giáo dục quận, huyện, thị xã chấp nhận.
2. Học sinh học ở bất cứ loại hình trường, lớp tiểu học nào đều có quyền dự thi tốt nghiệp theo quy chế thi do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế thành lập và giải thể các trường, lớp tiểu học; quy chế hoạt động các loại hình trường, lớp tiểu học.
Điều 9. Trường, lớp tiểu học phải bảo đảm các điều kiện:
1. Xây đựng gần khu dân cư để trẻ em đi học phù hợp với lứa tuổi, điều kiện địa lý và khí hậu của mỗi vùng.
2. Có đủ phòng học với điều kiện vệ sinh học đường cần thiết, có sân chơi, vườn trường;
3. Bàn ghế phù hợp với lứa tuổi học sinh mỗi lớp;
4. Không được giảng dạy trong những phòng học không bảo đảm an toàn cho học sinh và giáo viên.
2. Trong trường hợp không đủ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục có văn bằng quy định ở
3. Những người không đủ tư cách, đạo đức và trình độ chuyên môn không được hành nghề giáo dục.
4. Nghiêm cấm các hình thức đối xử xâm phạm đến thân thể và danh dự học sinh.
Điều 11. Cha mẹ, người đỡ đầu của trẻ em có trách nhiệm:
1. Bảo đảm các điều kiện để trẻ em hoàn thành giáo dục tiểu học trước tuổi; cho trẻ em đi học đúng độ tuổi; bảo đảm không cho trẻ em bỏ học.
2. Trong trường hợp trẻ em học tại gia đình, phải đăng ký với chính quyền địa phương và bảo đảm mọi điều kiện để trẻ em hoàn thành giáo dục tiểu học.
3. Thực hiện mọi thủ tục cần thiết khi trẻ em chuyển trường hoặc trở lại trường theo quy định của cơ quan giáo dục.
4. Tham gia các hoạt động của Hội cha mẹ học sinh, làm đầy đủ các trách nhiệm trong việc giúp đỡ, phối hợp với nhà trường thực hiện giáo dục tiểu học cho trẻ em.
5. Trong trường hợp con, trẻ em được đỡ đầu không hoàn thành giáo dục tiểu học theo Luật định, phải chịu các hình thức xử phạt thích hợp.
Điều 12. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm:
1. Quyết định các chương trình và nội dung giáo dục tiểu học chung cho cả nước và riêng cho từng vùng quy định trong Điều 6 của Luật.
2. Xét duyệt, cho phép ấn hành sách giáo khoa, tài liệu dùng cho giáo dục tiểu học.
3. Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học.
4. Xây dựng và tổ chức hoạt động của thanh tra giáo dục tiểu học.
6. Ban hành quy chế hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp trong việc thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học.
7. Ban hành quy chế về thủ tục nhập học, chuyển trường, thi tốt nghiệp tiểu học.
8. Phối hợp với Bộ Y tế ban hành tiêu chuẩn vệ sinh học đường đối với giáo dục tiểu học.
9. Ban hành quy chế thành lập và giải thể, quy chế hoạt động của trường, lớp tiểu học, quy chế về tiêu chuẩn và điều kiện của trường, lớp tiểu học.
10. Phối hợp với Thanh tra Nhà nước trình Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định Thanh tra giáo dục trong đó có vấn đề thanh tra giáo dục tiểu học.
Điều 13. Bộ Tài chính có trách nhiệm:
1. Xây dựng quy chế lập quỹ giáo dục quốc gia, xác định chế độ thu, chi của quỹ này và tỷ lệ dành cho phổ cập giáo dục tiểu học trích từ quỹ này. Quản lý việc sử dụng quỹ giáo dục quốc gia.
2. Ban hành các định mức chi phí cho học sinh tiểu học chung cho cả nước và riêng cho các vùng quy định tại Điều 6 của Luật; bảo đảm phân bổ ngân sách kịp thời theo thẩm quyền, ưu tiên phân bổ ngân sách cho các vùng nói trên.
3. Bảo đảm các khoản chi cho giáo dục tiểu học theo những yêu cầu do các ngành hữu quan đề xuất và được Hội đồng Bộ trưởng duyệt.
Điều 14. Ban Tổ chức - Cán bộ của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm:
1. Xác định biên chế đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên các trường, lớp tiểu học chung cho cả nước và riêng cho mỗi vùng quy định tại Điều 6 của Luật.
2. Xây dựng và ban hành các chế độ trợ cấp, giúp đỡ tài chính, hiện vật nhằm mở trường, lớp dành cho các đối tượng quy định tại Điều 11 của Luật.
Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế, chế độ để thực hiện phổ cập giáo dục đối với trẻ em khuyết tật.
3. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo giúp Hội đồng Bộ trưởng ban hành các tiêu chuẩn nghiệp vụ, chức danh đối với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học.
4. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chế độ đãi ngộ đối với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học, quy định chế độ ưu đãi đối với những người công tác tại các vùng nêu trong Điều 6 của Luật.
Điều 18. Chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm :
1. Quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục tiểu học; thực hiện các quy định về sử dụng ngân sách dành cho giáo dục tiểu học ở địa phương; vận động nhân dân đóng góp vào sự nghiệp giáo dục tiểu học; lập và sử dụng quỹ giáo dục ở địa phương trong đó dành phần thích đáng hỗ trợ phổ cập giáo dục tiểu học.
2. Thực hiện các chế độ chính sách nhằm bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học.
3. Tổ chức việc đào tạo, sử dụng hợp lý đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học ở địa phương.
4. Sở Giáo dục - Đào tạo là cơ quan chuyên môn có trách nhiệm giúp chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các quy định nói trên.
Điều 19. Chính quyền quận, huyện, thị xã và cấp tương đương có trách nhiệm:
1. Xây dựng kế hoạch phổ cập giáo dục tiểu học, thực hiện các quy định về sử dụng ngân sách dành cho giáo dục tiểu học trên địa bàn.
2. Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học.
3. Thực hiện các biện pháp bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học.
4. Bảo đảm các nhu cầu về sách vở, học cụ, các trang thiết bị cho giáo dục tiểu học đủ và đúng thời hạn.
5. Quyết định việc thành lập hoặc giải thể trường, lớp tiểu học.
6. Phòng Giáo dục là cơ quan chuyên môn có trách nhiệm giúp chính quyền quận, huyện, thị xã và cấp tương đương thực hiện các quy định nói trên.
Điều 20. Chính quyền cơ sở có trách nhiệm:
1. Đề nghị thành lập hoặc giải thể trường, lớp tiểu học theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo.
2. Tổ chức đăng ký và huy động trẻ em vào học lớp một đúng độ tuổi quy định, thực hiện các biện pháp ngăn ngừa trẻ em bỏ học, bảo đảm cho trẻ em hoàn thành giáo dục tiểu học trước 15 tuổi.
3. Xem xét và kiến nghị biện pháp xử lý đối với các trường hợp không hoàn thành giáo dục tiểu học.
4. Giúp đỡ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục tiểu học cải thiện đời sống.
Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng quy chế tặng thưởng "Huy chương vì sự nghiệp giáo dục" cho các cá nhân có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giáo dục nói chung và sự nghiệp phổ cập giáo dục tiểu học nói riêng.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm cùng với các bộ hữu quan ban hành các Thông tư hướng dẫn chi tiết và theo dõi, kiểm tra việc thi hành Nghị định này.
|
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng 1981
- 2Luật Phổ cập giáo dục tiểu học 1991
- 3Chỉ thị 14/GD-ĐT năm 1996 về nhiệm vụ năm học 1996-1997 của các ngành học, bậc học: Giáo dục mần non, giáo dục phổ thông; giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục thường xuyên do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
- 4Thông tư 14-GDĐT-1997 về tiêu chuẩn và thể thức kiểm tra, đánh giá kết quả chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành
Nghị định 338-HĐBT năm 1991 thi hành Luật phổ cập giáo dục tiểu học do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 338-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 26/10/1991
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 22
- Ngày hiệu lực: 26/10/1991
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
