Năm 1957, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 250-TTg kèm theo Bản điều lệ quy định về chính sách đối với quân nhân phục viên. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm giải quyết chế độ, chính sách hỗ trợ cho lực lượng quân nhân xuất ngũ trở về địa phương tham gia sản xuất hoặc chuyển sang các ngành công tác khác, góp phần ổn định đời sống và phát huy năng lực của quân nhân trong giai đoạn hòa bình, kiến thiết đất nước và tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Chính sách này áp dụng đối với toàn bộ quân nhân phục viên rời khỏi quân đội nhân dân để trở về địa phương lao động sản xuất hoặc chuyển sang công tác tại các cơ quan Nhà nước, tổ chức đoàn thể. Đối tượng thụ hưởng bao gồm cả quân nhân khỏe mạnh, quân nhân có sức khỏe kém, thương binh, bệnh binh và quân nhân già yếu.
Chế độ trợ cấp và hỗ trợ tài chính khi phục viên
- Trợ cấp đối với quân nhân chuyển ngành: Quân nhân phục viên chuyển sang các ngành công tác khác của Chính phủ hoặc đoàn thể được hưởng các khoản trợ cấp xuất ngũ thông thường, ngoại trừ khoản trợ cấp dành riêng cho việc về địa phương sản xuất.
- Trợ cấp điều dưỡng cho quân nhân sức khỏe kém: Những trường hợp quân nhân phục viên có sức khỏe yếu hoặc mắc bệnh kinh niên, được y sĩ chứng nhận cần điều dưỡng, sẽ được hưởng thêm một khoản trợ cấp điều dưỡng ngoài các khoản trợ cấp cơ bản.
- Chế độ đối với thương binh, bệnh binh và quân nhân già yếu: Những đối tượng không có điều kiện về địa phương mà chuyển sang các trại của Bộ Thương binh hoặc trại san dưỡng của Bộ Cứu tế xã hội sẽ được hưởng các khoản trợ cấp phục viên (trừ trợ cấp sản xuất). Trong thời gian cư trú tại trại hoặc khi rời trại về địa phương, họ sẽ được áp dụng chế độ đãi ngộ riêng biệt do Bộ Thương binh và Bộ Cứu tế xã hội quy định.
- Thẩm quyền quyết định định mức trợ cấp: Định mức cụ thể cho các khoản trợ cấp phục viên và trợ cấp điều dưỡng do Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh ấn định, dựa trên đề nghị của Hội đồng phục viên Trung ương và phải có sự đồng ý của Bộ Tài chính.
Chính sách ưu đãi về kinh tế, lao động và giáo dục tại địa phương
- Trách nhiệm của chính quyền và nhân dân: Các cơ quan chính quyền, đoàn thể các cấp và nhân dân có trách nhiệm hỗ trợ quân nhân phục viên trong sản xuất, bố trí công tác, xây dựng gia đình, tham gia hợp tác xã, tổ đổi công và bồi dưỡng giáo dục để họ nhanh chóng hòa nhập.
- Ưu đãi trong cải cách ruộng đất và tuyển dụng: Quân nhân phục viên được chiếu cố đặc biệt trong việc chia cấp ruộng đất (trong cải cách ruộng đất và sửa sai). Đồng thời, các cơ quan, xí nghiệp, trường học phải ưu tiên chú ý đến quân nhân phục viên khi tuyển dụng nhân viên, thu nhận học sinh hoặc xét cấp học bổng.
- Miễn giảm thuế nông nghiệp: Quân nhân phục viên về địa phương được miễn thuế nông nghiệp trong thời hạn hai năm. Nếu sống chung với gia đình, hộ gia đình đó được giảm thuế nông nghiệp mỗi năm 50 cân thóc trong vòng hai năm. Đối với quân nhân chuyển ngành, họ vẫn được tiếp tục tính nhân khẩu thuế nông nghiệp tại địa phương trong hai năm kể từ ngày phục viên.
- Tạm miễn nghĩa vụ dân công: Để tạo điều kiện ổn định đời sống và sản xuất, quân nhân phục viên về địa phương được tạm miễn thực hiện nghĩa vụ đi dân công trong thời gian một năm.
Chính sách chuyển ngành và sắp xếp ngạch bậc lương
- Bảo đảm sinh hoạt phí chuyển tiếp: Để tránh biến động đột ngột về đời sống, quân nhân phục viên chuyển sang cơ quan chính quyền, đoàn thể được tiếp tục hưởng lương bằng mức sinh hoạt phí và phụ cấp cuối cùng trong quân đội (bao gồm tiền gạo, thức ăn, củi, muối, phụ cấp thâm niên, quân trang) trong thời gian 6 tháng. Thời gian này cũng là giai đoạn để quân nhân bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn mới.
- Thời hạn xếp ngạch bậc lương: Việc xếp ngạch bậc lương mới có thể thực hiện sớm hơn 6 tháng nếu quân nhân đã quen việc. Trường hợp kéo dài, thời gian tối đa để cơ quan xếp ngạch bậc lương mới không được quá 9 tháng kể từ ngày phục viên; trong thời gian chờ đợi quá 6 tháng, quân nhân vẫn hưởng sinh hoạt phí quân đội do cơ quan chi trả.
- Nguyên tắc xếp ngạch bậc và tính thâm niên: Việc xếp ngạch bậc phải căn cứ chủ yếu vào khả năng thực tế của quân nhân, đồng thời chiếu cố thích đáng đến thành tích, quá trình cống hiến cách mạng và cấp bậc cũ trong quân đội. Toàn bộ thời gian phục vụ trong quân ngũ được tính vào thâm niên công tác ở ngành mới để hưởng các quyền lợi liên quan.
- Giải quyết trường hợp thôi việc chuyển về địa phương: Trong vòng 6 tháng kể từ ngày chuyển ngành, nếu quân nhân phục viên xin thôi việc để về địa phương sản xuất thì được hưởng các khoản trợ cấp phục viên về địa phương (trừ các khoản đã nhận khi chuyển ngành). Nếu đã quá 6 tháng, họ sẽ hưởng chế độ thôi việc chung của cơ quan sử dụng lao động và do cơ quan đó đài thọ.
Nhiệm vụ và trách nhiệm của quân nhân phục viên
- Trách nhiệm công dân: Quân nhân phục viên phải hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Phát huy truyền thống quân đội: Phải giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần kỷ luật, gương mẫu trong lao động sản xuất tại địa phương hoặc tích cực học tập, nâng cao hiệu suất công tác tại cơ quan mới.
- Nghĩa vụ quân sự dự bị: Những người đủ điều kiện phải tham gia lực lượng quân nhân dự bị, tích cực học tập và sẵn sàng tái ngũ khi Tổ quốc cần. Những người không đủ điều kiện làm quân nhân dự bị có trách nhiệm tham gia xây dựng lực lượng hậu bị, bảo vệ an ninh trật tự và chính quyền tại địa phương.
Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Bản điều lệ ban hành kèm theo Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Thương binh và Bộ Cứu tế xã hội chịu trách nhiệm phối hợp ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết và tổ chức thi hành nghiêm túc các chính sách nêu trên.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| PHỦ THỦ TƯỚNG | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 250-TTg | Hà Nội, ngày 12 tháng 06 năm 1957 |
BAN HÀNH BẢN ĐIỀU LỆ QUY ĐỊNH VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI QUÂN NHÂN PHỤC VIÊN
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Theo nghị quyết của Hội đồng Chính phủ;
Theo đề nghị của Hội đồng phục viên trung ương và của Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 3. – Các điều khoản ban hành trước đây trái với bản điều lệ nói trên đều bãi bỏ.
| K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
QUY ĐỊNH VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI QUÂN NHÂN PHỤC VIÊN
Trong kháng chiến nam nữ thanh niên đã hăng hái tham gia quân đội chiến đấu vì quyền lợi của Tổ quốc, vì sự nghiệp của cách mạng.
Sau khi hòa bình lập lại, xuất phát từ ý chí hòa bình, từ nhu cầu xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng và nhu cầu đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế và văn hóa theo kế hoạch để kiến thiết miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, Đảng và Chính phủ đã chủ trương giảm bớt quân số và dần dần thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự để thay thế chế độ tình nguyện tòng quân hiện nay.
Thi hành chủ trương này một số quân nhân đã được tham gia quân đội lâu ngày sẽ lần lượt được phục viên để trở về tham gia công cuộc sản xuất và lao động kiến thiết của toàn dân và các ngành công tác khác của Chính phủ và các đoàn thể.
Những quân nhân phục viên đều là những người đã tham gia chiến đấu lâu năm, được rèn luyện và giáo dục nhiều về ý thức tổ chức, tinh thần chịu đựng gian khổ, ý thức lao động, ý thức tập thể và kỷ luật lao động. Nhưng trong anh em nhiều người đến nay cơ sở sản xuất ở địa phương và hoàn cảnh gia đình đã thay đổi; một số anh em thì sức khỏe bị kém sút.
Bản chính sách quy định dưới đây nhằm giúp đỡ các quân nhân phục viên có điều kiện khắc phục những khó khăn trước mắt, đồng thời phát huy những đức tính tốt đẹp của người quân nhân cách mạng để làm tròn nhiệm vụ của người công dân tiến bộ trong hoàn cảnh công tác mới.
ĐỐI VỚI QUÂN NHÂN PHỤC VIÊN TRƯỚC KHI RỜI KHỎI QUÂN ĐỘI
Điều 2. - Tất cả quân nhân phục viên khi rời khỏi bộ đội đều được mang theo:
- Quân trang và vật dụng cá nhân.
- Sổ lý lịch quân nhân
- Giấy phục viên và giấy giới thiệu về địa phương hay sang các ngành khác.
- Giấy khen, bằng khen, huân chương, kỷ niệm chương (nếu có)
- Giấy chứng nhận bị thương, bị bệnh, tỷ lệ thương tật (nếu có).
Quân nhân phục viên phải hoàn lại cho đơn vị tất cả vũ khí, đồ quân dụng và những giấy tờ không cần thiết nữa như chứng minh thư, giấy ủy nhiệm, giấy công cụ.
Điều 3. - Tất cả quân nhân phục viên về địa phương được hưởng các khoản trợ cấp sau đây:
Trợ cấp để về sản xuất,
Trợ cấp thâm niên,
Trợ cấp chức vụ,
Và một khoản tiền lộ phí gồm có tiền tàu, xe, tiền ăn… trong thời gian đi đường.
Những nữ quân nhân đang có thai, nếu phục viên về địa phương thì được phụ cấp về sinh đẻ theo chế độ chung và thêm hai tháng sinh hoạt phí.
ĐỐI VỚI QUÂN NHÂN PHỤC VIÊN VỀ ĐỊA PHƯƠNG HOẶC CHUYỂN SANG CÁC NGÀNH CÔNG TÁC KHÁC
Trong việc tuyển dụng nhân viên, thu nhận học sinh, xét học bổng, các cơ quan, xí nghiệp và trường học cần chú ý quân nhân phục viên.
Điều 12. – Quân nhân phục viên về địa phương được tạm miễn đi dân công trong thời gian một năm
Thời hạn sáu tháng này cũng là thời hạn để người quân nhân phục viên bồi dưỡng về nghiệp vụ và chuyên môn trong công tác mới. Sau thời hạn này người quân nhân phục viên sẽ được xếp vào ngạch bậc của ngành công tác để hưởng lương mới.
Trong trường hợp quân nhân phục viên đã quen thuộc với công tác mình phụ trách và cơ quan có thể xếp ngạch bậc sớm hơn mà vẫn bảo đảm được mức sinh hoạt thì không nhất thiết phải đợi hết sáu tháng. Nếu đã quá sáu tháng mà cơ quan vẫn chưa xếp ngạch bậc được thì quân nhân phục viên tiếp tục hưởng theo sinh hoạt phí của bộ đội, nhưng thời gian mà cơ quan phải xếp ngạch bậc cho quân nhân phục viên không được kéo dài quá 9 tháng, kể từ ngày phục viên.
Nếu để chuyển ngành được quá sáu tháng thì quân nhân phục viên hưởng theo chế độ chung của cơ quan sử dụng. Các khoản trợ cấp này do cơ quan sử dụng đài thọ.
NHIỆM VỤ CỦA QUÂN NHÂN PHỤC VIÊN
- Quân nhân phục viên về địa phương cần phải gương mẫu lao động sản xuất, tham gia công tác ở địa phương, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn để làm tròn nhiệm vụ.
- Quân nhân phục viên chuyển sang các ngành công tác khác phải chăm chỉ làm việc, tích cực học tập chính trị và chuyên môn để nâng cao hiệu suất công tác.
- 1Quyết định 64-CP năm 1965 về chính sách đối với quân nhân tình nguyện cũ không đủ điều kiện sức khỏe phục vụ trong quân đội và đối với công nhân quốc phòng bị thương trong chiến đấu với địch do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2Thông tư liên bộ 23-TT/LB năm 1959 sửa đổi 2 khoản tiền ăn và quân trang tại Thông tư 29-TT/LB về việc sắp xếp lương cho quân nhân chuyển ngành do liên bộ Bộ Nội Vụ- Bộ Tài Chính- Bộ Lao Động ban hành
- 3Nghị định 111-NĐ năm 1957 Quy định cụ thể những khoản trợ cấp cho quân nhân phục viên do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành
- 4Thông tư 37-TT/LB năm 1959 về chế độ đối với cán bộ, nhân viên, công nhân, quân nhân đủ tiêu chuẩn được chọn, giới thiệu đi học các trường đại học và trung cấp chuyên nghiệp niên khoá 1959 – 1960 do Bộ Nội Vụ- Bộ Giáo Dục ban hành
- 5Nghị định 500-NĐ/LB năm 1958 quy định thể lệ trợ cấp dài hạn cho những quân nhân tình nguyện được phục viên vì ốm yếu mà không có khả năng lao động do Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội- Bộ trưởng Bộ Tài chính- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành.
- 6Thông tư 03-TT/LB năm 1961 giải thích và hướng dẫn thi hành chế độ đối với quân nhân chuyển ngành do Bộ Lao Động- Bộ Nội Vụ ban hành.
- 1Quyết định 64-CP năm 1965 về chính sách đối với quân nhân tình nguyện cũ không đủ điều kiện sức khỏe phục vụ trong quân đội và đối với công nhân quốc phòng bị thương trong chiến đấu với địch do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2Thông tư liên bộ 23-TT/LB năm 1959 sửa đổi 2 khoản tiền ăn và quân trang tại Thông tư 29-TT/LB về việc sắp xếp lương cho quân nhân chuyển ngành do liên bộ Bộ Nội Vụ- Bộ Tài Chính- Bộ Lao Động ban hành
- 3Nghị định 111-NĐ năm 1957 Quy định cụ thể những khoản trợ cấp cho quân nhân phục viên do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành
- 4Thông tư 37-TT/LB năm 1959 về chế độ đối với cán bộ, nhân viên, công nhân, quân nhân đủ tiêu chuẩn được chọn, giới thiệu đi học các trường đại học và trung cấp chuyên nghiệp niên khoá 1959 – 1960 do Bộ Nội Vụ- Bộ Giáo Dục ban hành
- 5Nghị định 500-NĐ/LB năm 1958 quy định thể lệ trợ cấp dài hạn cho những quân nhân tình nguyện được phục viên vì ốm yếu mà không có khả năng lao động do Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội- Bộ trưởng Bộ Tài chính- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành.
- 6Thông tư 03-TT/LB năm 1961 giải thích và hướng dẫn thi hành chế độ đối với quân nhân chuyển ngành do Bộ Lao Động- Bộ Nội Vụ ban hành.
Nghị định 250-TTg năm 1957 ban hành bản điều lệ quy định về chính sách đối với quân nhân phục viên do Thủ Tướng ban hành
- Số hiệu: 250-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 12/06/1957
- Nơi ban hành: Phủ Thủ tướng
- Người ký: Phan Kế Toại
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 26
- Ngày hiệu lực: 27/06/1957
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
