Nghị định 07/2000/NĐ-CP được ban hành bởi Chính phủ nhằm quy định chi tiết về các chính sách và chế độ cứu trợ xã hội tại Việt Nam. Đây là văn bản pháp lý quan trọng thiết lập hệ thống hỗ trợ, giúp đỡ về cả vật chất lẫn tinh thần cho những đối tượng yếu thế trong xã hội, bao gồm người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật nặng, và những người gặp rủi ro bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh mà bản thân hoặc gia đình không thể tự khắc phục được.
Phạm vi áp dụng và nguyên tắc thực hiện cứu trợ xã hội
Nghị định xác định rõ việc cứu trợ xã hội phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
- Ưu tiên thực hiện cứu trợ xã hội chủ yếu tại gia đình và cộng đồng nơi đối tượng cư trú nhằm giúp họ dễ dàng hòa nhập. Việc đưa vào nuôi dưỡng tập trung tại các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước chỉ áp dụng đối với những trường hợp cô đơn không nơi nương tựa hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
- Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước, cũng như người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia đóng góp, hỗ trợ tự nguyện cho các đối tượng cứu trợ xã hội.
- Cho phép các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện về cơ sở vật chất và tài chính được thành lập các cơ sở bảo trợ xã hội tự nguyện để nuôi dưỡng lâu dài các đối tượng yếu thế mà không cần yêu cầu Nhà nước hỗ trợ kinh phí.
Chính sách cứu trợ xã hội thường xuyên tại cộng đồng và cơ sở bảo trợ
Nghị định quy định chi tiết về nhóm đối tượng được hưởng trợ cấp thường xuyên do xã, phường quản lý bao gồm:
- Trẻ em mồ côi dưới 16 tuổi (mồ côi cả cha lẫn mẹ, bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích nương tựa; hoặc mồ côi cha/mẹ mà người còn lại mất tích hoặc không đủ năng lực nuôi dưỡng).
- Người già cô đơn không nơi nương tựa từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân; hoặc người già còn vợ/chồng nhưng đều già yếu, không có con cháu nương tựa và không có thu nhập. Phụ nữ cô đơn không nơi nương tựa từ đủ 55 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp vẫn tiếp tục được hưởng.
- Người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không có nơi nương tựa, hoặc có người thân thích nhưng họ quá già yếu hoặc gia đình thuộc diện nghèo không thể chăm sóc.
- Người mắc bệnh tâm thần mãn tính (tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần) đã điều trị nhiều lần không thuyên giảm, có xác nhận của cơ quan y tế chuyên khoa, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc thuộc hộ đói nghèo.
Về mức trợ cấp thường xuyên tối thiểu:
- Mức trợ cấp thường xuyên do xã, phường quản lý tối thiểu là 45.000 đồng/người/tháng.
- Mức trợ cấp sinh hoạt phí nuôi dưỡng tối thiểu tại các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước là 100.000 đồng/người/tháng. Riêng trẻ em dưới 18 tháng tuổi cần chế độ dinh dưỡng thêm sữa được hưởng mức 150.000 đồng/người/tháng.
Bên cạnh sinh hoạt phí, đối tượng sống tại cơ sở bảo trợ xã hội nhà nước còn được hưởng thêm các khoản hỗ trợ khác như: kinh phí mua sắm tư trang, vật dụng sinh hoạt thường ngày; thuốc chữa bệnh thông thường; sách giáo khoa và đồ dùng học tập (đối với trẻ em đi học); trợ cấp vệ sinh cá nhân hàng tháng cho đối tượng nữ trong độ tuổi sinh đẻ; và hỗ trợ mai táng phí khi qua đời. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức trợ cấp cụ thể phù hợp với địa phương.
Đối với các trường hợp tự nguyện xin vào cơ sở bảo trợ xã hội nhưng còn nơi nương tựa và nguồn nuôi dưỡng thì gia đình phải tự chi trả toàn bộ chi phí, ngân sách Nhà nước không hỗ trợ kinh phí cho các đối tượng này.
Về việc quản lý và tái hòa nhập cộng đồng: Trẻ em từ 13 tuổi trở lên tại cơ sở bảo trợ xã hội không còn học văn hóa sẽ được giới thiệu học nghề. Khi trưởng thành, hoặc khi người tàn tật đã phục hồi chức năng, người bệnh tâm thần đã ổn định, họ sẽ được đưa về địa phương để gia đình và chính quyền xã, phường tiếp nhận, tạo điều kiện việc làm và hòa nhập cộng đồng.
Chính sách cứu trợ xã hội đột xuất
Chế độ cứu trợ đột xuất (hỗ trợ một lần) được áp dụng cho cá nhân hoặc hộ gia đình lâm vào hoàn cảnh khó khăn do thiên tai hoặc các lý do bất khả kháng khác, cụ thể:
- Hộ gia đình có người chết hoặc mất tích.
- Hộ gia đình có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy hoặc hư hỏng nặng.
- Hộ gia đình bị mất phương tiện sản xuất dẫn đến thiếu đói.
- Người bị thương nặng do tai nạn, thiên tai.
- Người dân bị thiếu đói trong những dịp giáp hạt.
- Người gặp rủi ro tai nạn nặng hoặc tử vong ngoài vùng cư trú mà gia đình không biết để chăm sóc, mai táng.
- Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú (được trợ cấp sinh hoạt 5.000 đồng/người/ngày, thời gian hỗ trợ tối đa không quá 15 ngày).
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định mức trợ cấp đột xuất cụ thể cho từng nhóm đối tượng dựa trên mức độ thiệt hại thực tế và khả năng cân đối nguồn lực của địa phương. Nguồn kinh phí thực hiện cứu trợ đột xuất được huy động từ ngân sách nhà nước các cấp, sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, và hỗ trợ quốc tế. Trường hợp nguồn kinh phí địa phương không đủ đáp ứng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.
Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước
Nghị định phân định rõ vai trò của các Bộ, ngành và địa phương trong việc thực thi chính sách:
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác cứu trợ xã hội; chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị định.
- Bộ Tài chính: Đảm bảo cân đối và cấp phát kinh phí cứu trợ xã hội theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.
- Bộ Y tế: Hướng dẫn công tác phòng bệnh, khám chữa bệnh cho đối tượng cứu trợ; thực hiện giám định tình trạng bệnh tật cho người tàn tật và người tâm thần.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo: Hướng dẫn việc tổ chức học văn hóa, thực hiện miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp cho học sinh thuộc diện cứu trợ xã hội.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Phối hợp đánh giá mức độ thiệt hại do thiên tai, mất mùa, đói giáp hạt để kịp thời đưa ra phương án cứu trợ đột xuất.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Trực tiếp quản lý đối tượng và các cơ sở bảo trợ xã hội tại địa phương; lập dự toán ngân sách hàng năm cho công tác cứu trợ thường xuyên và đột xuất; chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thực hiện đúng chính sách.
Khen thưởng, xử lý vi phạm và điều khoản thi hành
Nhằm đảm bảo tính nghiêm minh và khuyến khích các hoạt động nhân đạo, Nghị định quy định:
- Cá nhân, tổ chức có nhiều đóng góp, thành tích trong hoạt động từ thiện, hỗ trợ đối tượng cứu trợ xã hội sẽ được xem xét khen thưởng theo quy định của Nhà nước.
- Mọi hành vi vi phạm các quy định tại Nghị định này sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại vật chất hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi.
- Nghị định 07/2000/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 07/2000/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 09 tháng 3 năm 2000 |
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 07/2000/NĐ-CP NGÀY 09 THÁNG 3 NĂM 2000 VỀ CHÍNH SÁCH CỨU TRỢ XÃ HỘI
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước ngày 20 tháng 3 năm 1996;
Căn cứ Pháp lệnh phòng chống bão lụt ngày 08 tháng 3 năm 1993;
Căn cứ Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
NGHỊ ĐỊNH :
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trình Chính phủ ban hành "Quy chế thành lập và hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội.
CHẾ ĐỘ CỨU TRỢ XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN
Điều 6. Người thuộc diện cứu trợ xã hội thường xuyên tại xã, phường quản lý gồm:
1. Trẻ em mồ côi là trẻ em dưới 16 tuổi, mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích để nương tựa; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ, nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 88 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật;
2. Người già cô đơn không nơi nương tựa là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân. Người già còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, không có nguồn thu nhập. Trường hợp là phụ nữ cô đơn không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập, từ đủ 55 tuổi trở lên, hiện đang được hưởng trợ cấp cứu trợ xã hội vẫn tiếp tục được hưởng;
3. Người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không có nơi nương tựa; người tàn tật nặng tuy có người thân thích nhưng họ già yếu hoặc gia đình nghèo không đủ khả năng kinh tế để chăm sóc;
4. Người tâm thần mãn tính là người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện đói nghèo.
Ngân sách Nhà nước không hỗ trợ kinh phí cho đối tượng nói tại Điều này.
2. Trẻ em đã trưởng thành, người tàn tật đã phục hồi chức năng, người bệnh tâm thần đã ổn định, đang ở cơ sở bảo trợ xã hội thì được đưa trở về địa phương. Ủy ban nhân dân xã, phường, gia đình có trách nhiệm tiếp nhận và tạo điều kiện cho họ có việc làm và hoà nhập với cộng đồng.
2. Mức trợ cấp sinh hoạt phí nuôi dưỡng tối thiểu tại cơ sở bảo trợ xã hội của nhà nước bằng 100.000 đồng/người/tháng; riêng đối với trẻ em dưới 18 tháng tuổi phải ăn thêm sữa, mức trợ cấp bằng 150.000 đồng/người/tháng.
1. Trợ cấp để mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt đời sống thường ngày;
2. Trợ cấp mua thuốc chữa bệnh thông thường;
3. Trợ cấp mua sách giáo khoa và đồ dùng học tập đối với trẻ em đi học phổ thông, bổ túc văn hóa;
4. Trợ cấp hàng tháng vệ sinh cá nhân đối với đối tượng nữ trong độ tuổi sinh đẻ;
5. Trợ cấp mai táng phí.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định mức trợ cấp phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.
CHẾ ĐỘ CỨU TRỢ XÃ HỘI ĐỘT XUẤT
1. Hộ gia đình có người bị chết, mất tích;
2. Hộ gia đình có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng;
3. Hộ gia đình mất phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh bị thiếu đói;
4. Người bị thương nặng;
5. Người thiếu đói do giáp hạt;
6. Người gặp phải rủi ro ngoài vùng cư trú mà bị thương nặng hoặc chết, gia đình không biết để chăm sóc hoặc mai táng;
7. Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú.
Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú được trợ cấp 5.000 đồng/người/ngày, nhưng không quá 15 ngày.
Điều 16. Nguồn kinh phí để thực hiện cứu trợ đột xuất bao gồm :
1. Ngân sách Nhà nước cân đối hàng năm; Ngân sách tỉnh, huyện, xã tự cân đối;
2. Do các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ;
3. Trợ giúp của nước ngoài, tổ chức quốc tế hỗ trợ trực tiếp cho địa phương hoặc thông qua Chính phủ, các đoàn thể xã hội.
Trường hợp các nguồn kinh phí trên không đủ để thực hiện cứu trợ đột xuất thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
2. Bộ Y tế có trách nhiệm hướng dẫn việc phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh cho người thuộc diện cứu trợ xã hội và giám định tình trạng bệnh tật của người tâm thần, người tàn tật.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm hướng dẫn việc tổ chức học văn hóa; miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp khác cho học sinh là người thuộc diện cứu trợ xã hội theo chế độ hiện hành.
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xác định mức độ hậu quả thiên tai, mất mùa và đói giáp hạt để có biện pháp và hướng dẫn tổ chức thực hiện việc cứu trợ xã hội đột xuất.
Điều 19. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm:
1. Quản lý người thuộc diện cứu trợ xã hội và cơ sở bảo trợ xã hội thuộc địa phương;
2. Tổ chức thực hiện chế độ cứu trợ xã hội đối với từng nhóm người thuộc diện cứu trợ xã hội được quy định tại Nghị định này;
3. Chỉ đạo việc xây dựng, quản lý các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc địa phương;
4. Chỉ đạo cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội, các ngành chức năng hướng dẫn các tổ chức và cá nhân hỗ trợ người thuộc diện cứu trợ xã hội;
5. Hàng năm lập dự toán kinh phí cứu trợ xã hội thường xuyên, cứu trợ xã hội đột xuất theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn hiện hành; hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp dưới, cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành chức năng xây dựng và tổng hợp kế hoạch kinh phí cứu trợ xã hội thường xuyên, cứu trợ xã hội đột xuất.
Điều 22. Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
|
| Nguyễn Tấn Dũng (Đã ký) |
- 1Công văn 4189/LĐTBXH-BTXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc tổ chức cứu trợ xã hội dịp Tết năm 2006
- 2Công văn số 115/LĐTBXH-BTXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn thực hiện công điện 28 TTg-KTTH ngày 06/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ
- 3Công văn số 122/LĐTBXH-TBLS của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn thực hiện công tác xã hội trong dịp Tết theo Công điện của Thủ tướng Chính phủ
- 4Nghị định 67/2007/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội
- 5Công văn 470/LĐTBXH-BTXH của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc thực hiện cứu trợ xã hội thường xuyên và đột xuất
- 6Thông tư 09/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 67/2007/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xă hội do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành
- 1Công văn 4189/LĐTBXH-BTXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc tổ chức cứu trợ xã hội dịp Tết năm 2006
- 2Công văn số 115/LĐTBXH-BTXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn thực hiện công điện 28 TTg-KTTH ngày 06/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ
- 3Công văn số 122/LĐTBXH-TBLS của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn thực hiện công tác xã hội trong dịp Tết theo Công điện của Thủ tướng Chính phủ
- 4Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 5Pháp lệnh Phòng chống lụt bão năm 1993
- 6Luật ngân sách Nhà nước 1996
- 7Pháp lệnh người tàn tật năm 1998
- 8Thông tư 18/2000/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện Nghị định 07/2000/NĐ-CP về chính sách cứu trợ xã hội do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 9Thông tư 16/2004/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 168/2004/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 07/2000/NĐ-CP về chính sách cứu trợ xã hội do Bộ Lao động thương binh và xã hội ban hành
- 10Công văn 470/LĐTBXH-BTXH của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc thực hiện cứu trợ xã hội thường xuyên và đột xuất
- 11Thông tư 09/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 67/2007/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xă hội do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành
Nghị định 07/2000/NĐ-CP về chính sách cứu trợ xã hội
- Số hiệu: 07/2000/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 09/03/2000
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 13
- Ngày hiệu lực: 24/03/2000
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
