Nghị định số 04/2011/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định về việc bãi bỏ việc sử dụng các khu phân lũ, làm chậm lũ thuộc hệ thống sông Hồng. Đây là một quyết sách quan trọng nhằm chuyển đổi phương thức phòng, chống lũ từ chủ động phân lũ, chậm lũ sang điều tiết dòng chảy bằng hệ thống hồ chứa thượng nguồn, đồng thời tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ổn định tại các vùng trước đây là khu vực chậm lũ, phân lũ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Nghị định áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước, Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương, các Bộ, ngành liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thuộc lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình, sông Đáy và các tổ chức, cá nhân tham gia vào công tác quy hoạch, vận hành công trình thủy điện, đê điều và phòng chống thiên tai.
Bãi bỏ việc sử dụng các khu phân lũ, làm chậm lũ thuộc hệ thống sông Hồng
- Chính thức bãi bỏ việc sử dụng các khu chậm lũ bao gồm: khu Tam Thanh thuộc tỉnh Phú Thọ, khu Lập Thạch thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, các khu Lương Phú – Quảng Oai và Ba Vì thuộc thành phố Hà Nội, cùng hệ thống phân lũ sông Đáy (được quy định trước đây tại Nghị định số 62/1999/NĐ-CP).
- Thời điểm áp dụng bãi bỏ được tính kể từ khi công trình thủy điện Sơn La chính thức tham gia cắt lũ cho hạ du.
- Các giải pháp phòng, chống lũ trên hệ thống sông Hồng phải được điều chỉnh đồng bộ nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho Thủ đô Hà Nội và vùng đồng bằng sông Hồng theo quy hoạch mới phù hợp với việc bãi bỏ này.
Các giải pháp công trình và vận hành liên hồ chứa thay thế
- Vận hành liên hồ chứa cắt lũ: Sử dụng công trình thủy điện Sơn La phối hợp chặt chẽ với các hồ chứa Hòa Bình, Tuyên Quang và Thác Bà để thực hiện điều tiết, cắt giảm lũ cho vùng hạ du.
- Phân bổ dung tích phòng lũ: Dành tổng dung tích phòng lũ cụ thể của các hồ chứa để điều tiết lũ bao gồm: hồ Sơn La và hồ Hòa Bình trên sông Đà là 07 tỷ m3; hồ Tuyên Quang là 01 tỷ m3; hồ Thác Bà là 450 triệu m3.
- Chỉ tiêu kiểm soát dòng chảy: Vận hành điều tiết liên hồ bảo đảm lưu lượng lũ trên sông Hồng tại trạm Thủy văn Sơn Tây nhỏ hơn hoặc bằng 28.000 m3/s; tại trạm Thủy văn Hà Nội nhỏ hơn hoặc bằng 20.000 m3/s và mực nước sông Hồng tại trạm Thủy văn Hà Nội không vượt quá 13,40 m.
- Xử lý tình huống khẩn cấp: Trong trường hợp xảy ra sự cố nghiêm trọng đối với hệ thống đê điều hoặc khi dự báo xuất hiện trận lũ lớn hơn chu kỳ 500 năm một lần (nhưng nhỏ hơn lũ thiết kế công trình hồ Sơn La là lũ 10.000 năm xuất hiện một lần), được phép sử dụng một phần dung tích chống lũ của công trình Sơn La để cắt giảm lũ cho hạ du nhưng phải bảo đảm an toàn tuyệt đối cho công trình đầu mối.
Quy hoạch, cải tạo hệ thống sông Đáy và đê điều
- Cải tạo sông Đáy: Quy hoạch xây dựng mới, cải tạo nâng cấp các công trình đầu mối, hệ thống đê sông Đáy và tiến hành nạo vét lòng dẫn sông Đáy. Mục tiêu là chủ động đưa nước từ sông Hồng vào sông Đáy với lưu lượng mùa kiệt từ 30 m3/s đến 100 m3/s, mùa lũ từ 600 m3/s đến 800 m3/s để phục vụ sinh hoạt, sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện môi trường.
- Năng lực thoát lũ dự phòng của sông Đáy: Đảm bảo sông Đáy có khả năng thoát được lưu lượng tối đa 2.500 m3/s để làm phương án dự phòng khi xuất hiện lũ có chu kỳ lặp lại lớn hơn 500 năm trên hệ thống sông Hồng hoặc khi xảy ra sự cố đê điều nghiêm trọng tại khu vực nội thành Hà Nội.
- Củng cố hệ thống đê: Tiến hành củng cố, nâng cấp các tuyến đê sông Hồng – sông Thái Bình và các tuyến đê bảo vệ khu vực Tam Thanh, Lập Thạch, Lương Phú – Quảng Oai, Ba Vì đạt tiêu chuẩn thiết kế theo quy hoạch phòng chống lũ và quy hoạch đê điều.
Phân công trách nhiệm của các cơ quan, Bộ, ngành Trung ương
- Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương: Chỉ đạo theo dõi sát diễn biến lũ; chỉ đạo thực hiện Quy trình vận hành liên hồ chứa theo phân công của Thủ tướng Chính phủ; trình Thủ tướng Chính phủ quyết định lệnh vận hành công trình đầu mối sông Đáy khi xuất hiện lũ lớn hơn chu kỳ 500 năm hoặc xảy ra sự cố đê điều nghiêm trọng tại nội thành Hà Nội.
- Bộ Công thương: Đôn đốc tiến độ xây dựng và công bố thời điểm hoàn thành, đưa công trình thủy điện Sơn La vào tham gia cắt lũ; giám sát việc vận hành các hồ chứa Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang theo đúng quy trình liên hồ được phê duyệt.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường: Chỉ đạo công tác dự báo, cảnh báo thiên tai, cung cấp kịp thời số liệu mưa, lũ theo giờ cho Ban Chỉ đạo và các cơ quan liên quan để phục vụ công tác tham mưu điều hành.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Chủ trì điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình; phối hợp với các tỉnh liên quan lập điều chỉnh quy hoạch tổng thể hệ thống đê sông Đáy; khảo sát, quyết định phương án cải tạo hoặc xây mới công trình đầu mối phân lũ sông Đáy; chỉ đạo kiểm tra việc nâng cấp các tuyến đê bảo vệ các khu vực chậm lũ cũ.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các địa phương liên quan xây dựng cơ chế đầu tư, tạo nguồn vốn thực hiện các giải pháp nâng cấp đê điều và cải tạo sông Đáy để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các địa phương
- Các tỉnh, thành phố Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình: Tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết và quy hoạch đê điều sông Đáy thuộc phạm vi quản lý; điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, bố trí sắp xếp lại dân cư và xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với quy hoạch mới; quản lý và triển khai các dự án đầu tư theo quy hoạch.
- Các tỉnh, thành phố Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc: Chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc củng cố, nâng cấp các tuyến đê bảo vệ khu vực Tam Thanh, Lập Thạch, Lương Phú – Quảng Oai, Ba Vì đạt tiêu chuẩn thiết kế.
- Các địa phương có đê thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình: Tổ chức thực hiện củng cố, nâng cấp các tuyến đê sông theo Chương trình nâng cấp hệ thống đê sông đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Hiệu lực thi hành và điều khoản bãi bỏ
- Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 3 năm 2011.
- Nghị định này thay thế hoàn toàn cho Nghị định số 62/1999/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ ban hành quy chế về phân lũ, chậm lũ thuộc hệ thống sông Hồng để bảo vệ an toàn cho Thủ đô Hà Nội.
- Bãi bỏ quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 08/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão (đã được sửa đổi, bổ sung ngày 24 tháng 8 năm 2000).
- Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 04/2011/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 14 tháng 01 năm 2011 |
THỰC HIỆN BÃI BỎ VIỆC SỬ DỤNG CÁC KHU PHÂN LŨ, LÀM CHẬM LŨ THUỘC HỆ THỐNG SÔNG HỒNG
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Tài nguyên nước ngày 20 tháng 5 năm 1998;
Căn cứ Luật Đê điều ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Căn cứ Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão ngày 08 tháng 3 năm 1993 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão ngày 24 tháng 8 năm 2000;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Bãi bỏ việc sử dụng các khu phân lũ, làm chậm lũ thuộc hệ thống sông Hồng
1. Bãi bỏ việc sử dụng các khu chậm lũ Tam Thanh thuộc tỉnh Phú Thọ, Lập Thạch thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, Lương Phú – Quảng Oai, Ba Vì thuộc thành phố Hà Nội và hệ thống phân lũ sông Đáy (được quy định tại Quy chế về phân lũ, chậm lũ thuộc hệ thống sông Hồng để bảo vệ an toàn cho Thủ đô Hà Nội ban hành theo Nghị định số 62/1999/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 1999) kể từ khi công trình thủy điện Sơn La chính thức tham gia cắt lũ cho hạ du.
2. Các giải pháp phòng, chống lũ hệ thống sông Hồng phải được điều chỉnh nhằm đảm bảo an toàn cho Thủ đô Hà Nội và đồng bằng sông Hồng theo quy hoạch phòng, chống lũ phù hợp với quy định tại khoản 1.
Điều 2. Những giải pháp để thực hiện bãi bỏ việc sử dụng các khu phân lũ, làm chậm lũ
1. Sử dụng công trình thủy điện Sơn La, phối hợp với các hồ Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà tham gia điều tiết liên hồ cắt lũ cho hạ du.
2. Dành dung tích phòng lũ của các hồ để điều tiết, cắt giảm lũ cho hạ du: hồ Sơn La và hồ Hòa Bình trên sông Đà là 07 tỷ m3, hồ Tuyên Quang là 01 tỷ m3, hồ Thác Bà là 450 triệu m3. Vận hành điều tiết liên hồ, đảm bảo lưu lượng lũ trên sông Hồng tại trạm Thủy văn Sơn Tây nhỏ hơn hoặc bằng 28.000 m3/s; tại trạm thủy văn Hà Nội nhỏ hơn hoặc bằng 20.000 m3/s và mực nước sông Hồng tại trạm thủy văn Hà Nội không vượt quá 13,40 m. Trường hợp xảy ra sự cố nghiêm trọng đối với hệ thống đê điều hoặc dự báo xuất hiện trận lũ lớn hơn lũ 500 năm xuất hiện một lần, nhưng nhỏ hơn lũ thiết kế công trình hồ Sơn La (lũ 10.000 năm xuất hiện một lần) được sử dụng một phần dung tích chống lũ cho công trình để cắt giảm lũ cho hạ du nhưng phải đảm bảo an toàn công trình.
4. Củng cố, nâng cấp các tuyến đê sông Hồng – sông Thái Bình, đê bảo vệ khu vực Tam Thanh, Lập Thạch, Lương Phú – Quảng Oai, Ba Vì đạt tiêu chuẩn thiết kế theo quy hoạch phòng chống lũ và quy hoạch đê điều.
Điều 3. Trách nhiệm của Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương và các Bộ, ngành, địa phương
1. Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương:
a) Chỉ đạo theo dõi chặt chẽ diễn biến của lũ; chỉ đạo thực hiện Quy trình vận hành liên hồ chống lũ theo phân công của Thủ tướng Chính phủ.
b) Khi xuất hiện lũ có chu kỳ lặp lại lớn hơn 500 năm trên hệ thống sông Hồng, hoặc xảy ra sự cố nghiêm trọng đối với hệ thống đê điều khu vực nội thành Hà Nội: trình Thủ tướng Chính phủ quyết định công bố lệnh vận hành công trình đầu mối sông Đáy theo quy định tại khoản 3 Điều 2.
2. Bộ Công thương:
a) Kiểm tra, đôn đốc việc đảm bảo tiến độ xây dựng công trình thủy điện Sơn La; báo cáo Thủ tướng Chính phủ, công bố thời điểm công trình thủy điện Sơn La chính thức hoàn thành, tham gia cắt lũ cho hạ du.
b) Kiểm tra, giám sát đơn vị quản lý vận hành các công trình thủy điện: Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang thực hiện vận hành công trình theo Quy trình vận hành liên hồ chứa Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà và Tuyên Quang được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường:
Chỉ đạo công tác dự báo, cảnh báo và cung cấp kịp thời số liệu về mưa, lũ (theo giờ) cho Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương và các cơ quan liên quan để tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ra lệnh vận hành công trình đầu mối sông Đáy khi dự báo xuất hiện lũ có chu kỳ lặp lại lớn hơn 500 năm trên hệ thống sông Hồng, hoặc xảy ra sự cố nghiêm trọng đối với hệ thống đê điều khu vực nội thành Hà Nội.
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương lập điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
c) Chỉ đạo khảo sát, đánh giá các công trình đầu mối phân lũ sông Đáy hiện có; quyết định phương án cải tạo hoặc xây dựng mới và quản lý thực hiện đầu tư các công trình đầu mối đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ được quy định tại
d) Chỉ đạo, kiểm tra việc củng cố, nâng cấp các tuyến đê bảo vệ khu vực Tam Thanh, Lập Thạch, Lương Phú – Quảng Oai, Ba Vì, công tác lập quy hoạch và quản lý quy hoạch phòng chống lũ và quy hoạch đê điều sông Đáy.
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ: Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình xây dựng cơ chế đầu tư tạo nguồn vốn thực hiện các giải pháp quy định tại
6. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình:
a) Tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết, quy hoạch đê điều sông Đáy thuộc phạm vi quản lý của địa phương phù hợp với quy hoạch phòng, chống lũ sông Hồng – sông Thái Bình, quy hoạch tổng thể hệ thống đê sông Đáy.
b) Chỉ đạo việc lập, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, bố trí sắp xếp lại dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch chi tiết đê điều sông Đáy.
c) Tổ chức quản lý và thực hiện quy hoạch theo quy định; triển khai thực hiện đầu tư các dự án theo quy hoạch.
7. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc chỉ đạo, tổ chức thực hiện củng cố, nâng cấp các tuyến đê bảo vệ khu vực Tam Thanh, Lập Thạch, Lương Phú – Quảng Oai, Ba Vì theo tiêu chuẩn thiết kế.
8. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có đê thuộc hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình chỉ đạo, tổ chức thực hiện củng cố, nâng cấp các tuyến đê sông theo Chương trình nâng cấp hệ thống đê sông đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 3 năm 2011 và thay thế Nghị định số 62/1999/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 1999 ban hành quy chế về phân lũ, chậm lũ thuộc hệ thống sông Hồng để bảo vệ an toàn cho Thủ đô Hà Nội.
2. Bãi bỏ quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 08/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão được sửa đổi bổ sung ngày 24 tháng 8 năm 2000.
3. Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
Nghị định 04/2011/NĐ-CP bãi bỏ việc sử dụng khu phân lũ, làm chậm lũ thuộc hệ thống sông Hồng
- Số hiệu: 04/2011/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 14/01/2011
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 71 đến số 72
- Ngày hiệu lực: 10/03/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
