Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965 được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa III, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 10 tháng 4 năm 1965, nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự để đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội và tác chiến trong tình hình mới.
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh, hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ, quân nhân dự bị, cùng các cán bộ, công nhân và nhân viên kỹ thuật có liên quan.
Sửa đổi chế độ phục vụ tình nguyện và thời hạn phục vụ tại ngũ
Luật đã thực hiện sửa đổi Điều 8 và Điều 10 của Luật Nghĩa vụ quân sự hiện hành với các nội dung trọng tâm sau:
- Về chế độ tình nguyện (Điều 8 mới): Các quân nhân đang phục vụ theo chế độ tình nguyện sẽ dần dần được phục viên và chuyển sang ngạch dự bị hoặc giải ngạch nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, để đáp ứng các yêu cầu đặc biệt về xây dựng quân đội và thực hiện nhiệm vụ tác chiến, Bộ Quốc phòng được phép tiếp tục thực hiện chế độ tình nguyện đối với một số hạ sĩ quan và binh sĩ cụ thể.
- Về thời hạn phục vụ tại ngũ (Điều 10 mới): Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ được phân định cụ thể theo từng lực lượng và binh chủng:
- Thời hạn là 4 năm đối với hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụ trong bộ đội lục quân.
- Thời hạn là 5 năm đối với hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc bộ đội phòng không - không quân, bộ đội hải quân, cũng như hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân.
- Đối với hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật trong lực lượng Công an nhân dân vũ trang, thời hạn phục vụ tại ngũ được áp dụng tương đương với thời hạn phục vụ của các binh chủng, quân chủng tương ứng trong Quân đội nhân dân.
- Về thẩm quyền kéo dài thời hạn phục vụ: Trong các trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an có quyền quyết định kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân thuộc quyền quản lý của mình. Giới hạn cho mỗi lần kéo dài thời hạn phục vụ không được quá 1 năm.
Bổ sung quy định về huy động lực lượng trong tình hình khẩn trương
Luật bổ sung thêm Điều 34c vào sau Điều 34b của Luật Nghĩa vụ quân sự nhằm thiết lập cơ chế phản ứng nhanh trong điều kiện khẩn cấp:
- Điều kiện áp dụng: Quy định được áp dụng trong thời bình, khi xuất hiện tình hình khẩn trương nhưng chưa đến mức cần phải ra lệnh động viên toàn diện.
- Mục đích huy động: Nhằm kịp thời tăng cường sức mạnh cho các lực lượng vũ trang và bảo đảm trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất.
- Thẩm quyền và đối tượng huy động: Căn cứ vào quyết định của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền gọi nhập ngũ trở lại đối với một số quân nhân đã xuất ngũ, một số cán bộ cùng nam nữ công nhân và nhân viên kỹ thuật để ra phục vụ tại ngũ.
Hiệu lực thi hành
Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965 đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá III, kỳ họp thứ 2 chính thức thông qua vào ngày 10 tháng 4 năm 1965 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày thông qua.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, nay quy định những điều sửa đổi và bổ sung sau đây về Luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 đã được sửa đổi và bổ sung lần thứ nhất bằng Luật ngày 26 tháng 10 năm 1962.
1. Điều 8 (mới) - Những quân nhân đang phục vụ theo chế độ tình nguyện sẽ dần dần được phục viên và chuyển sang dự bị, hoặc giải ngạch nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, để đáp ứng những yêu cầu đặc biệt về xây dựng quân đội và tác chiến, Bộ quốc phòng được phép thực hiện chế độ tình nguyện đối với một số hạ sĩ quan và binh sĩ.
2. Điều 10 (mới) - Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là 4 năm.
Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội phòng không - không quân, của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội hải quân, của hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân là 5 năm.
Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật trong Công an nhân dân vũ trang theo như thời hạn phục vụ tại ngũ của các binh chủng, quân chủng trong Quân đội nhân dân.
Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ công an có thể kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân thuộc quyền mình; mỗi lần kéo dài thời hạn phục vụ không được quá 1 năm.
Điều 34c - Trong thời bình, khi có tình hình khẩn trương nhưng chưa cần ra lệnh động viên, để kịp thời tăng cường các lực lượng vũ trang và bảo đảm cho các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng được quyền gọi một số quân nhân đã xuất ngũ, một số cán bộ và nam nữ công nhân, nhân viên kỹ thuật ra phục vụ tại ngũ.
Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá III, kỳ họp thứ 2, thông qua ngày 10 tháng 4 năm 1965.
| Hoàng Văn Hoan (Đã ký) |
- 1Thông tư liên tịch 74/2006/TTLT-BQP-BTC-BKH&ĐT hướng dẫn Nghị định 123/2003/NĐ-CP quy định về tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với quân nhân tại ngũ do Bộ quốc phòng, Bộ tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành
- 2Luật nghĩa vụ quân sự 1981
- 3Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1990
- 4Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1994
- 1Thông tư liên tịch 74/2006/TTLT-BQP-BTC-BKH&ĐT hướng dẫn Nghị định 123/2003/NĐ-CP quy định về tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với quân nhân tại ngũ do Bộ quốc phòng, Bộ tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành
- 2Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1994
- 3Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1990
- 4Hiến pháp năm 1959
Luật Nghĩa vụ quân sự sửa đổi 1965
- Số hiệu: 45/LCT
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 10/04/1965
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Hoàng Văn Hoan
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 6
- Ngày hiệu lực: 25/04/1965
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/1982
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
