Lệnh của Chủ tịch nước công bố Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 (Lệnh số 04/2013/L-CTN) là văn bản pháp lý quan trọng nhằm chính thức ban hành và triển khai áp dụng Luật hòa giải ở cơ sở được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2013. Văn bản này đánh dấu bước phát triển mới trong việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về tăng cường công tác hòa giải tại cộng đồng dân cư, góp phần giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 xác định rõ phạm vi điều chỉnh bao gồm các quy định về nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở; quy chuẩn về hòa giải viên, tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải; quy trình thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở; cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong công tác này. Đối tượng áp dụng của Luật bao gồm các hòa giải viên, tổ hòa giải, các bên tranh chấp hoặc có mâu thuẫn cần hòa giải, cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động hòa giải tại địa bàn cơ sở.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
1. Phạm vi điều chỉnh của Luật (Điều 1)
- Quy định toàn diện về các nguyên tắc cơ bản và chính sách phát triển của Nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở.
- Xác định rõ địa vị pháp lý, tiêu chuẩn của hòa giải viên và cơ cấu tổ chức, hoạt động của tổ hòa giải tại thôn, tổ dân phố.
- Quy định trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải và phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc hỗ trợ, quản lý hoạt động hòa giải.
2. Giải thích từ ngữ chuyên ngành (Điều 2)
- Hòa giải ở cơ sở: Được định nghĩa là hoạt động do hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật thuộc phạm vi hòa giải theo quy định của Luật này.
- Cơ sở: Được xác định cụ thể là phạm vi thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố và các cộng đồng dân cư tương đương khác.
3. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở (Điều 3)
- Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không được ép buộc, áp đặt ý chí của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào lên các bên tranh chấp trong quá trình hòa giải.
- Tiến hành hòa giải phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân.
- Bảo đảm tính khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.
- Không lợi dụng hoạt động hòa giải ở cơ sở để ngăn cản các bên khởi kiện ra Tòa án hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
4. Chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở (Điều 4)
- Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hòa giải ở cơ sở phát triển, phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các tranh chấp nhỏ phát sinh.
- Hỗ trợ kinh phí cho hoạt động hòa giải ở cơ sở, bao gồm chi hỗ trợ cho tổ hòa giải và hòa giải viên khi thực hiện vụ việc hòa giải cụ thể theo quy định của pháp luật.
- Khuyến khích Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác và mọi công dân tham gia, hỗ trợ tích cực cho công tác hòa giải ở cơ sở.
- Thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải cho đội ngũ hòa giải viên nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thực tế.
Hiệu lực thi hành
Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, thay thế cho Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998, tạo lập hành lang pháp lý vững chắc và đồng bộ hơn cho công tác hòa giải tại Việt Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 08/2013/L-CTN | Hà Nội, ngày 28 tháng 06 năm 2013 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ Điều 91 của Luật tổ chức Quốc hội;
Căn cứ Điều 57 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ
Luật hòa giải ở cơ sở
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2013.
|
| CHỦ TỊCH |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Luật Tổ chức Quốc hội 2001
- 4Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008
- 5Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013
- 6Lệnh công bố Luật khoa học và công nghệ năm 2013
- 7Lệnh công bố Luật giáo dục quốc phòng và an ninh năm 2013
- 8Lệnh công bố Luật sửa đổi Luật thuế giá trị gia tăng năm 2013
- 9Lệnh công bố Luật phòng, chống thiên tai năm 2013
Lệnh công bố Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013
- Số hiệu: 08/2013/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 28/06/2013
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trương Tấn Sang
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 407 đến số 408
- Ngày hiệu lực: 28/06/2013
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
