Thông tư 63/1997/TT-BTC được Bộ Tài chính ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 52-TC/CSTC ngày 12/9/1996 hướng dẫn việc tổ chức thu và quản lý biên lai thu tiền phạt vi phạm hành chính.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thực hiện việc thu tiền phạt trực tiếp hoặc gián tiếp, và các cơ quan thuế các cấp chịu trách nhiệm in ấn, phát hành, quản lý biên lai thu tiền phạt trên phạm vi cả nước.
Sửa đổi quy định về việc in và phát hành biên lai thu tiền phạt
- Bộ Tài chính thống nhất quản lý việc thiết kế mẫu, in ấn và phát hành các loại biên lai thu tiền phạt vi phạm hành chính để áp dụng đồng bộ trong cả nước.
- Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tiếp nhận biên lai từ Tổng cục Thuế để thực hiện việc cấp phát cho các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử phạt tại địa phương.
Quy trình cấp phát và nhận biên lai thu tiền phạt
- Các cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính phải lập kế hoạch sử dụng biên lai theo định kỳ hàng quý gửi cơ quan thuế đồng cấp để được cấp phát kịp thời, bảo đảm không làm gián đoạn công tác xử phạt.
- Khi đến nhận biên lai, người được cử đi phải có giấy giới thiệu của thủ trưởng cơ quan trực tiếp sử dụng và xuất trình chứng minh nhân dân.
- Cơ quan thuế thực hiện cấp phát phải mở sổ theo dõi chi tiết số lượng, ký hiệu, số sê-ri của từng loại biên lai giao cho các đơn vị và yêu cầu người nhận ký nhận rõ ràng.
Chế độ quản lý, sử dụng và quyết toán biên lai
- Các đơn vị thụ hưởng biên lai phải mở sổ sách kế toán để theo dõi chặt chẽ quá trình sử dụng biên lai từ khâu nhận về, giao cho người trực tiếp đi thu tiền phạt, đến khâu nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước.
- Định kỳ hàng tháng hoặc hàng quý, các cơ quan sử dụng biên lai phải thực hiện báo cáo tình hình sử dụng biên lai và tiến hành thanh quyết toán số biên lai đã sử dụng với cơ quan thuế trực tiếp cấp phát.
- Nghiêm cấm mọi hành vi chuyển nhượng, cho mượn, bán hoặc sử dụng biên lai không đúng mục đích, hoặc sử dụng các loại biên lai tự in không do cơ quan thuế phát hành.
Xử lý đối với biên lai bị mất, hỏng hoặc không còn giá trị sử dụng
- Trường hợp xảy ra mất biên lai thu tiền phạt, đơn vị sử dụng phải lập biên bản xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm của cá nhân liên quan, đồng thời báo cáo ngay bằng văn bản cho cơ quan thuế cấp trên và cơ quan công an gần nhất để phối hợp xử lý và thông báo vô hiệu hóa tờ biên lai bị mất.
- Đối với các biên lai viết hỏng, viết sai, người thu tiền phạt phải gạch chéo và lưu đầy đủ các liên tại cuống biên lai, tuyệt đối không được xé rời khỏi quyển biên lai.
- Các biên lai không còn giá trị sử dụng do thay đổi mẫu mã hoặc do cơ quan ngừng hoạt động phải được kiểm kê, lập bảng kê chi tiết và tiến hành thủ tục tiêu hủy theo đúng quy định của pháp luật về quản lý ấn chỉ thuế.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 63/1997/TT-BTC có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Các nội dung khác liên quan đến việc tổ chức thu và quản lý biên lai thu tiền phạt không được sửa đổi, bổ sung tại văn bản này vẫn tiếp tục thực hiện theo quy định tại Thông tư số 52-TC/CSTC ngày 12/9/1996 của Bộ Tài chính.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 63-TC/CSTC | Hà Nội, ngày 11 tháng 9 năm 1997 |
Căn cứ Luật ngân sách Nhà nước ngày 20 tháng 03 năm 1996; căn cứ Thông tư số 14 TC/NSNN ngày 28 tháng 03 năm 1997 của Bộ Tài chính cho phép Ban tài chính xã có quyền thu một số khoản thu, trong đó có thu các khoản tiền phạt hành chính phát sinh trên địa bàn xã.
Để tránh ách tắc trong việc quản lý thu tiền phạt hành chính, Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi quy định của điểm 2b/, điểm 2d/ và bổ sung thêm điểm 2f/ vào Phần II, mục A của Thông tư số 52 TC/CSTC ngày 12 tháng 09 năm 1996 của Bộ Tài chính như sau:
"b/ Kho bạc Nhà nước có thể uỷ nhiệm việc thu tiền phạt cho các đơn vị có đủ tư cách pháp nhân, có khả năng thu và nộp kịp thời tiền thu phạt như cơ quan bưu điện, cơ quan thuế, ngân hàng và các đơn vị khác, nhưng phải đảm bảo nguyên tắc người xử phạt không trực tiếp thu tiền phạt.
Trong một số trường hợp đặc biệt, việc xử phạt cần phải thu tiền phạt ngay, Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm chỉ định đơn vị được uỷ quyền thu tiền phạt vào Kho bạc Nhà nước.
d. Tổng Cục thuế có trách nhiệm phát hành và quản lý thống nhất biên lai thu tiền phạt giao cho các cơ quan thuế địa phương để cấp phát cho các cơ quan Kho bạc Nhà nước trên địa bàn sử dụng theo kế hoạch.
Đối với các khoản thu phạt hành chính thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân xã, Ban Tài chính xã nhận biên lai thu tiền phạt từ Chi cục thuế huyện, quận và sử dụng thống nhất loại biên lai thu tiền phạt này cho tất cả các khoản thu phạt tại xã.
Trong trường hợp Kho bạc Nhà nước uỷ quyền thu phạt cho các tổ chức khác thì Kho bạc Nhà nước chịu trách nhiệm cấp biên lai cho đơn vị được uỷ quyền.
f. Việc uỷ quyền thu phạt phải có hợp đồng ký kết giữa đơn vị Kho bạc Nhà nước trực tiếp uỷ quyền với đơn vị được uỷ quyền. Trong hợp đồng uỷ quyền phải nêu cụ thể các quy định về trách nhiệm và quyền lợi của các bên như sau:
* Đối với đơn vị Kho bạc Nhà nước trực tiếp uỷ quyền:
- Giao đầy đủ biên lai và các chứng từ liên quan đến việc thu tiền phạt cho đơn vị được uỷ quyền. Việc giao nhận biên lai thu tiền phạt được thực hiện như quy định về việc giao biên lai cho các bàn thu tiền phạt được quy định tại điểm 3 mục II của Công văn số 527 KB/CĐ ngày 25/7/1995 của Kho bạc Nhà nước.
- Hướng dẫn các đơn vị được uỷ quyền sử dụng các liên biên lai và nộp tiền vào Kho bạc theo đúng chế độ quy định.
- Thanh toán đầy đủ phí uỷ quyền cho bên được uỷ quyền.
* Đối với cơ quan được uỷ quyền:
- Nhận, sử dụng, bảo quản và quyết toán biên lai thu tiền phạt theo đúng quy định của Kho bạc Nhà nước uỷ quyền.
- Chịu mọi trách nhiệm về vật chất như quy định tại tiết 6.1 điểm 6 mục II tại Công văn số 527 KB/CĐ ngày 25/7/1995 nếu làm hư hỏng, mất mát biên lai thu tiền phạt.
- Tuân thủ đúng quy định thu tiền phạt do Kho bạc Nhà nước quy định.
* Phí uỷ quyền do hai bên là đơn vị Kho bạc Nhà nước trực tiếp uỷ quyền và đơn vị được uỷ quyền trao đổi thống nhất và sử dụng trong số kinh phí do Sở Tài chính - Vật giá cấp để thanh toán cho đơn vị được uỷ quyền. Phí uỷ quyền được trích từ khoản thu về tiền phạt để lại cho ngân sách địa phương.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày ký; đồng thời quy định nêu tại phần II, mục A, điểm 2b/ và điểm 2c của Thông tư số 52 TC/CSTC ngày 12 tháng 09 năm 1996 của Bộ Tài chính hết hiệu lực thi hành.
| Vũ Mộng Giao (Đã Ký) |
- 1Thông tư 47/2006/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 124/2005/NĐ-CP quy định về biên lai thu tiền phạt và quản lý, sử dụng tiền nộp phạt vi phạm hành chính do Bộ Tài chính ban hành
- 2Thông tư 52-TC/CSTC-1996 hướng dẫn thu và sử dụng tiền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính do Bộ Tài chính ban hành
Thông tư 63/1997/TT-BTC sửa đổi Thông tư 52-TC/CSTC-1996 về việc tổ chức thu và quản lý biên lai thu tiền phạt hành chính do Bộ Tài chính ban hành
- Số hiệu: 63-TC/CSTC
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 11/09/1997
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Vũ Mộng Giao
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 21
- Ngày hiệu lực: 11/09/1997
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
