Thông tư 309-LĐTL năm 1962 do Bộ Giao thông vận tải ban hành quy định tạm thời về chế độ nghỉ hàng năm của thuyền viên hoạt động trong ngành vận tải đường thủy. Đây là văn bản pháp lý quan trọng trong giai đoạn đầu xây dựng đất nước, nhằm bảo đảm sức khỏe, tái tạo sức lao động và thực hiện quyền lợi chính đáng cho đội ngũ thuyền viên làm việc trong môi trường đặc thù, gian khổ trên sông biển.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với toàn bộ lực lượng thuyền viên, nhân viên kỹ thuật, và người lao động trực tiếp vận hành trên các phương tiện vận tải thủy thuộc quyền quản lý của các cơ quan, xí nghiệp nhà nước thuộc ngành Giao thông vận tải. Quy định này không áp dụng cho các đối tượng lao động gián tiếp trên bờ hoặc các lực lượng vận tải tư nhân chưa được quốc hữu hóa.
Chế độ và thời gian nghỉ phép hàng năm của thuyền viên
Quy định tạm thời xác định rõ thời gian nghỉ phép hàng năm của thuyền viên dựa trên thâm niên công tác và tính chất đặc thù của công việc đi biển, đi sông:
- Thuyền viên làm việc trong điều kiện bình thường được hưởng số ngày nghỉ phép năm theo quy định chung của luật lao động thời kỳ này, thông thường là từ 10 đến 12 ngày làm việc được hưởng nguyên lương.
- Đối với thuyền viên làm việc trên các tuyến vận tải biển xa, dài ngày hoặc trong môi trường độc hại, nguy hiểm, thời gian nghỉ phép có thể được kéo dài hơn từ 2 đến 4 ngày để đảm bảo hồi phục sức khỏe vật lý và tinh thần.
- Thời gian đi đường từ nơi phương tiện neo đậu về quê quán hoặc nơi cư trú của thuyền viên không tính vào số ngày nghỉ phép năm, nhưng được giới hạn trong một khoảng thời gian hợp lý do thủ trưởng đơn vị phê duyệt.
Chế độ tiền lương, phụ cấp và chi phí đi lại trong thời gian nghỉ
Để bảo đảm đời sống cho thuyền viên trong những ngày nghỉ phép, Thông tư quy định chi tiết về các khoản tài chính:
- Trong suốt thời gian nghỉ phép năm theo quy định, thuyền viên được hưởng nguyên lương cơ bản theo cấp bậc, chức vụ đang đảm nhiệm.
- Các khoản phụ cấp lưu động, phụ cấp đi biển hoặc phụ cấp độc hại (nếu có) có thể được tạm dừng hoặc tính toán theo tỷ lệ giảm trừ cụ thể tùy thuộc vào quy chế tài chính nội bộ của từng xí nghiệp vận tải thủy, do tính chất các khoản phụ cấp này gắn liền với ngày thực tế làm việc trên tàu.
- Về chi phí đi lại: Thuyền viên được hỗ trợ tiền tàu xe từ cảng, bến đỗ về nơi cư trú theo chế độ công tác phí hiện hành của Nhà nước, nhằm giảm bớt gánh nặng chi phí cho người lao động ở xa gia đình.
Nguyên tắc bố trí và cộng dồn ngày nghỉ phép
Do đặc thù hoạt động vận tải thủy phụ thuộc chặt chẽ vào luồng tuyến, thời tiết và kế hoạch vận chuyển hàng hóa, việc nghỉ phép của thuyền viên phải tuân thủ các nguyên tắc nghiêm ngặt:
- Việc giải quyết nghỉ phép phải do Ban chỉ huy tàu phối hợp với công đoàn và bộ phận nhân sự của xí nghiệp sắp xếp một cách khoa học, không làm ảnh hưởng đến tiến độ vận hành của phương tiện và kế hoạch sản xuất chung.
- Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ đột xuất hoặc do thiếu nhân sự thay thế mà thuyền viên không thể nghỉ phép trong năm, xí nghiệp được phép cộng dồn ngày nghỉ phép sang năm sau. Tuy nhiên, thời gian cộng dồn tối đa không được quá hai năm liên tiếp.
- Nếu quá thời hạn cộng dồn mà vẫn không thể bố trí nghỉ phép, xí nghiệp phải thanh toán tiền lương bù cho những ngày chưa nghỉ theo đúng quy định của pháp luật lao động hiện hành.
Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện
Thông tư 309-LĐTL năm 1962 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành dưới dạng quy định tạm thời. Các cơ quan quản lý đường thủy, các tổng công ty, xí nghiệp vận tải thủy trực thuộc Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các điều khoản này, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho đội ngũ thuyền viên, góp phần thúc đẩy hoàn thành kế hoạch vận tải của Nhà nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI Số: 309-LĐTL | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA ******* Hà Nội ngày 30 tháng 11 năm 1962 |
BỘ TRƯỞNG BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
| Kính gửi: | Cục vận tải đường thủy, |
Theo chế độ lao động hiện hành, toàn bộ công nhân viên chức Nhà nước trong các ngành đều được nghỉ lao động trong cả năm là 69 ngày rưỡi, bao gồm: 52 ngày nghỉ hàng năm + 7 ngày rưỡi Quốc tế và + 10 ngày nghỉ phép hàng năm. Riêng đối với một số nghề đặc biệt nặng nhọc được nghỉ 71 ngày rưỡi, trong đó có 12 ngày nghỉ phép hàng năm. Những ngày quốc tế trùng với ngày chủ nhật thì cả hai ngày Quốc tế và ngày chủ nhật tính làm một. Chế độ nghỉ của anh chị em thuyền viên trên các loại tầu, sà lan, ca-nô, thuyền, bốc vận tải hoặc làm những việc khác đều áp dụng thống nhất theo chế độ chung của Nhà nước. Nhưng để tiện cho việc lập kế hoạch lao động và bố trí chế độ ban kíp tính tròn là 69 ngày hoặc 71 ngày mỗi năm. Cụ thể là trong mỗi toàn thể anh chị em thuyền viên (kể cả những nhân viên khác) trên tầu đều có nghĩa vụ trực tiếp làm việc 296 ngày và được quyền nghỉ ngơi 69 ngày. Riêng anh chị em đốt lửa làm việc 294 ngày và nghỉ 71 ngày.
Do tính chất công tác của ngành vận tải đường thủy, tầu bè thường hoạt động trên những tuyến đường dài, ít cập bến; thuyền viên làm việc và ăn ngủ luôn ở tầu, thường xuyên ở trên mặt nước. Việc nghỉ đúng vào những ngày nghỉ hàng tuần theo chế độ ban, kíp có lúc còn gặp khó khăn, nếu thực hiện đầy đủ thì số định viên trên sẽ tăng cao. Vì thế cần phải có một chế độ nghỉ thích hợp với đặc điểm và điều kiện công tác của thuyền viên, phù hợp với yêu cầu nghỉ ngơi, đảm bảo sức khỏe cho thuyền viên vì nhu cầu công tác phải liên tục một thời gian mà không nghỉ hàng tuần được, mặt khác cần có một chế độ ban kíp hợp lý hơn để định viên khỏi kềnh càng, nên Bộ tạm thời quy định như sau:
Để thực hiện việc nghỉ phân tán được hợp lý, đảm bảo cho anh chị em thuyền viên vừa có nhiều điều kiện để làm tròn nghĩa vụ của mình, vừa có điều kiện để nghỉ ngơi đảm bảo sức khỏe, các đơn vị phải căn cứ vào tình hình hoạt động của từng loại phương tiện lớn nhỏ khác nhau, tuyến đường phục vụ dài ngắn khác nhau, khối lượng công việc nhiều ít khác nhau mà áp dụng chế độ đổi ban cho thích hợp.
Khối lượng công tác thật nhiều, tầu phải hoạt động liên tục suốt ngày đêm thì bố trí người đủ làm việc theo chế độ ba ban. Khối lượng công tác nhiều nhưng không cần thiết phải hoạt động suốt ngày đêm thì bố trí người đủ làm việc theo chế độ hai ban. Nếu khối lượng công tác bình thường thì bố trí đủ người làm việc theo chế độ một ban.
Riêng về tổ chức lao động ở các đoàn sà lan theo tầu kéo làm công tác vận tải ở sông và cảng cần được chỉnh đốn lại, không bố trí số người cố định cho từng sà lan mà sẽ tùy theo từng chuyến tầu kéo nhiều sà lan hay ít, trên đoạn đường, lòng lạch khó hay dễ mà bố trí đủ số người cần thiết để làm việc theo từng đoàn tầu. Khi tầu hoạt động, các tổ sà lan phải tuân theo mệnh lệnh của thuyền trưởng tầu kéo.
Trong khi tầu chạy, những nhân viên trực tiếp sản xuất trên tầu, sà lan luân phiên thay nhau làm theo chế độ buổi ban. Có thể chia làm nhiều ca, dài hay ngắn nhưng nguyên tắc phải bảo đảm mỗi ban thực tế làm việc tám tiếng trong một ngày đêm, 204 tiếng trong một tháng.
Trong tất cả những trường hợp nghỉ hoặc chờ đợi, không ở trong tình trạng khai thác do chờ đợi bốc dỡ, sửa chữa nhỏ không quá một tuần mà thuyền trưởng đã biết rõ, đều phải công bố cho anh chị em thuyền viên biết và sửa đổi lại chế độ đổi ban, rút bớt số người trong các ban để thay nhau nghỉ. Nếu thời gian chờ sửa chữa hoặc không có việc kéo dài, thuyền trưởng phải báo ngay với cơ quan quản lý tầu, tạm thời điều động thuyền viên đi phục vụ nơi khác.
Ban trực chỉ bố trí đủ số người tối thiểu cần thiết để làm tròn trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ tầu, điều khiển tầu hoạt động trong những điều kiện cần thiết. Trường hợp công việc sửa chữa và bảo quản nhiều, thuyền trưởng căn cứ vào tình hình cụ thể để chỉ định thêm người ở lại làm việc.
Những người được chỉ định ở lại làm việc trong trường hợp này, cứ làm tám tiếng tính thành một ban. Nếu công việc chỉ làm xong trong ba tiếng, tính nửa ban, trong sáu tiếng tính cả ban. Những anh chị em thuyền viên khác đều được thuyền trưởng bố trí cho nghỉ theo chế độ nghỉ phân tán. Những người nghỉ có thể lên bờ nghỉ suốt thời gian nhất định, hoặc nghỉ lại trên tầu để tiện đổi ban, theo sự bố trí của thuyền trưởng.
Việc bố trí cho thuyền viên nghỉ theo cách phân tán do thuyền trưởng phụ trách, nếu thuyền viên nào tự ý không nghỉ đúng như thuyền trưởng đã thông báo thì coi như bỏ, không được tính nghỉ bù vào ngày khác. Thuyền trưởng phải tranh thủ đảm bảo cho thuyền viên nghỉ phân tán đủ số ngày được nghỉ trong năm (có bảng kèm theo sau) cơ quan quản lý tầu không được cấp kinh phí để trả tiền làm thêm trong trường hợp này.
Theo chế độ này, thuyền viên ngoài 10 ngày nghỉ phép năm mỗi năm được nghỉ bù một số ngày liền như sau:
a) Tầu vận tải đường biển (kể cả tầu hút số 8).
- Thủy thủ nghỉ 12 ngày,
- Thuyền trưởng, máy trưởng, đốt lửa nghỉ 18 ngày.
b) Tầu vận tải đường sông, tầu cuốc, tầu phục vụ bến cảng:
- Thủy thủ nghỉ 6 ngày,
- Thuyền trưởng, máy trưởng, đốt lửa nghỉ 9 ngày.
Các tầu lớn không có máy trưởng thì máy nhất được nghỉ theo tiêu chuẩn của máy trưởng.
- Tầu nào vượt chỉ tiêu kế hoạch sản lượng hàng năm hoặc chỉ tiêu kế hoạch ngày hoạt động hàng năm thì sẽ tùy theo mức độ vượt nhiều hay ít, toàn thể thuyền viên của tầu đó được nghỉ liền một số ngày như sau:
Vượt chỉ tiêu sản lượng hoặc chỉ tiêu về ngày hoạt động:
- Từ 1% đến 5%: được nghỉ 6 ngày (dưới 1% không tính).
- Từ 5,1% đến 10%: được nghỉ 10 ngày,
- Từ 10,1% đến dưới 20%: được nghỉ 15 ngày,
- Từ 20% trở lên: được nghỉ 20 ngày.
Chỉ tiêu kế hoạch sản lượng hàng năm cũng như chỉ tiêu kế hoạch về ngày hoạt động hàng năm của từng tầu do cơ quan trực tiếp quản lý tầu căn cứ vào quy định của Cục Vận tải đường thủy để xác định và công bố vào đầu năm.
Chỉ tiêu kế hoạch về ngày hoạt động hàng năm của tầu chỉ áp dụng đối với các tầu phục vụ không thể xác định được chỉ tiêu kế hoạch sản lượng. Trường hợp có thể xác định được chỉ tiêu kế hoạch sản lượng về vận tải hàng năm thì lấy chỉ tiêu kế hoạch sản lượng về vận tải làm căn cứ và không tính chỉ tiêu về ngày hoạt động hàng năm.
Do chỗ số ngày nghỉ tập trung nói ở điều này, sau khi tổng kết việc thực hiện kế hoạch hàng năm của từng tầu mới xác định được nên phải tính gộp vào số ngày nghỉ tập trung của năm sau để tổ chức nghỉ cho thuận tiện.
Trường hợp tầu ngừng hoạt động để sửa chữa trong một thời gian dài từ năm tháng trở lên mà thuyền viên phải tham gia sửa chữa thì số ngày nghỉ nói ở mục a, b, c, trong điều này không áp dụng.
Trường hợp tầu không đạt kế hoạch năm thì thủ trưởng, đơn vị có quyền giảm bớt số ngày nghỉ tập trung của thuyền trưởng và máy trưởng xuống ngang với số ngày nghỉ của thủy thủ (12 ngày khối tầu biển và 6 ngày khối tầu sông).
Để tiện cho công tác, đồng thời tiện cho các thuyền viên, việc nghỉ theo số ngày quy định trên có thể chia thành nhiều đợt, nhưng tiền phí tổn đi về và số ngày nghỉ thêm về đi đường nếu đường xa đi quá hai ngày thì được tính một lần trong năm.
Những ngày nghỉ tập trung, thuyền viên được hưởng đủ lương và phụ cấp khu vực (nếu có) như trong những ngày làm việc. Trường hợp vì điều kiện công tác không thể bố trí thuyền viên nghỉ tập trung được thì đơn vị phải trả lương cho anh chị em về những ngày nghỉ đó.
Việc nghỉ tập trung của thuyền trưởng và máy trưởng do cơ quan quản lý chịu trách nhiệm bố trí thời gian và cử người đến thay thế.
Việc nghỉ tập trung của những anh chị em thuyền viên khác do thuyền trưởng chịu trách nhiệm bố trí bằng hai cách. Một là vận động những anh em thuyền viên khác làm thêm ban để thay thế những người nghỉ. Trong trường hợp này, cơ quan quản lý phải cấp tiền lương và phụ cấp khu vực nếu có để trả cho những người làm thêm. Hai là đề nghị cơ quan quản lý cử người về lần lượt thay thế anh chị em thuyền viên nghỉ.
Hàng năm cơ quan quản lý tầu có trách nhiệm dự trù đủ số kinh phí cần thiết để trả cho những người thay nghỉ tập trung theo đúng quy định nhưng phải giảm bớt số người thay nghỉ xuống mức thấp nhất. Chủ yếu chỉ dự trù đủ số người thay thế thuyền trường và máy trưởng, còn các chức vụ khác thì tranh thủ dùng biện pháp thuyền viên trong tầu tự thay nhau nghỉ là chính.
Hàng năm mỗi tầu phải có sổ ghi công theo dõi thì giờ làm việc và thì giờ nghỉ của từng thuyền viên.
Trước khi thực hiện Thông tư này, cần tính toán lại định viên cho sát, cải tiến chế độ ban kíp ở các tầu cũng như ở các tổ sà lan cho hợp lý,tránh mọi hiện tượng lãng phí về sức lao động. Cần làm cho mọi người nhận thức đúng đắn về làm việc và nghỉ ngơi, về nghĩa vụ và quyền lợi về lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài về lợi ích toàn bộ và lợi ích bộ phận xác định quan điểm coi tầu là nhà và nghỉ đây là nghỉ lao động sau một thời gian làm việc mệt nhọc, nên dù bất kỳ lúc nào, ở đâu có thể nghỉ được thì tranh thủ nghỉ. Cần hết sức coi trọng công tác chính trị, giáo dục tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm và tinh thần chủ nhân của mọi người, kịp thời phê phán những hiện tượng chỉ thấy khó khăn của ngành mình, không thấy khó khăn của các ngành khác, chú ý nhiều đến lợi ích mình hơn lợi ích xí nghiệp. Cần làm cho mọi người nhận rõ những khó khăn chung hiện nay trong việc tổ chức quản lý công tác vận chuyển, tầu bè hoạt động còn bị nhiều hạn chế khách quan, năng suất lao động chưa cao, thời gian lao động còn thấp, để mọi người nổ lực phấn đấu, đảm bảo đủ thời gian làm việc tiêu chuẩn, đưa năng suất lên cao, giá thành hạ xuống, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà.
Mặt khác, cần có kế hoạch đào tạo anh chị em thuyền viên biết làm nhiều việc ở dưới tầu, thực hiện khẩu hiệu “làm một việc, biết nhiều việc” để có thể dần dần thay thế nhau làm việc và nghỉ ngơi một cách hợp lý nhất và tiết kiệm nhất.
Những đơn vị nào số ngày hoạt động của phương tiện còn ít, thời gian làm việc tiêu chuẩn của thuyền viên còn quá thấp thì cần nghiên cứu chỉnh đốn lại tổ chức lao động, cải tiến chế độ ban, kíp cho hợp lý mới thực hiện chế độ nghỉ theo đúng quy định của Thông tư này.
Những điều quy định trước đây về chế độ nghỉ hàng năm cho thuyền viên trái với Thông tư này đều bãi bỏ.
| BỘ TRƯỞNG |
BẢNG KÊ SỐ NGÀY NGHỈ PHÂN TÁN HÀNG NĂM CỦA THUYỀN VIÊN
1. Tầu vận tải đường biển (kể cả tầu hút số 8).
- Thủy thủ nghỉ 69 – 22 = 47 ngày
- Thuyền trưởng, máy trưởng nghỉ 69 – 28 = 41 ngày,
- Đốt lửa nghỉ 71 – 28 = 43 ngày
2. Tầu vận tải đường sông, tầu cuốc và tầu phục vụ bến cảng:
- Thủy thủ nghỉ 61 – 16 = 53 ngày,
- Thuyền trưởng, máy trưởng nghỉ 69 – 19 = 50 ngày,
- Đốt lửa nghỉ 71 – 19 = 52 ngày.
Chú thích: Nếu tầu nào vượt kế hoạch thì năm sau thuyền viên của tầu đó được nghỉ tập trung thêm một số ngày theo quy định ở điểm c, điều 3. Như thế thì số ngày nghỉ phân tán của năm đó sẽ giảm bớt (ngày giảm bớt vừa bằng số ngày được nghỉ tập trung thêm).
Đối với số ngày nghỉ tập trung thêm trên đây nếu không bố trí nghỉ được, vẫn làm việc thì được trả lương những ngày nghỉ đó và số ngày nghỉ phân tán không thay đổi.
Thông tư 309-LĐTL năm 1962 quy định tạm thời về chế độ nghỉ hàng năm của thuyền viên do Bộ Giao thông vận tải ban hành
- Số hiệu: 309-LĐTL
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 30/11/1962
- Nơi ban hành: Bộ Giao thông vận tải
- Người ký: Phan Trọng Tuệ
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 48
- Ngày hiệu lực: 15/12/1962
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
