Thông tư 18/2010/TT-BTP do Bộ Tư pháp ban hành quy định chi tiết về đội ngũ Báo cáo viên pháp luật, bao gồm tiêu chuẩn, phạm vi hoạt động, thẩm quyền, thủ tục công nhận, cấp, đổi, thu hồi thẻ, cũng như quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm quản lý nhà nước đối với lực lượng này. Văn bản này áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các cá nhân tham gia vào hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi cả nước.
Phân loại và phạm vi hoạt động của Báo cáo viên pháp luật
Báo cáo viên pháp luật là những người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định công nhận để thực hiện nhiệm vụ phổ biến pháp luật. Đội ngũ này được phân chia thành ba cấp quản lý rõ rệt:
- Báo cáo viên pháp luật cấp Trung ương: Thuộc các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Trung ương.
- Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh: Thuộc các cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Báo cáo viên pháp luật cấp huyện: Thuộc các cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Về phạm vi hoạt động, Báo cáo viên pháp luật có trách nhiệm trực tiếp phổ biến pháp luật tại cơ quan, tổ chức nơi mình công tác, đồng thời tham gia phổ biến pháp luật cho các đối tượng khác khi có yêu cầu từ các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Tiêu chuẩn và yêu cầu đối với hoạt động phổ biến pháp luật
Để được công nhận là Báo cáo viên pháp luật, cá nhân phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn khắt khe sau:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật dân sự.
- Có lập trường chính trị vững vàng, đạo đức tốt và không có hành vi vi phạm pháp luật.
- Được cơ quan, tổ chức nơi cá nhân đang công tác chính thức giới thiệu.
- Về trình độ chuyên môn: Phải có trình độ Cử nhân luật đối với cấp Trung ương và cấp tỉnh; có trình độ trung cấp luật trở lên đối với cấp huyện. Trường hợp không có bằng đại học chuyên ngành Luật nhưng sở hữu bằng đại học chuyên ngành khác, cá nhân phải có thời gian công tác từ 05 năm trở lên (đối với cấp Trung ương) hoặc từ 03 năm trở lên (đối với cấp tỉnh) và phải am hiểu sâu sắc về lĩnh vực pháp luật cần phổ biến.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, hoạt động phổ biến pháp luật của Báo cáo viên phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu: bảo đảm tính thượng tôn pháp luật; nội dung thông tin truyền tải phải chính xác, trung thực; phương thức truyền đạt phải dễ hiểu, gần gũi và có sức thuyết phục cao đối với người nghe.
Quy định về Thẻ Báo cáo viên pháp luật
Thẻ Báo cáo viên pháp luật là công cụ xác định tư cách pháp lý của Báo cáo viên khi thực hiện nhiệm vụ phổ biến pháp luật. Mẫu thẻ này do Bộ Tư pháp thống nhất phát hành trên toàn quốc. Quy trình quản lý thẻ được quy định cụ thể như sau:
- Thẩm quyền công nhận và cấp thẻ: Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định công nhận và cấp thẻ cho Báo cáo viên cấp Trung ương. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện quyết định công nhận, cấp thẻ cho Báo cáo viên thuộc cấp mình quản lý.
- Thủ tục và hồ sơ đề nghị: Các cơ quan, tổ chức tiến hành lựa chọn cán bộ đủ tiêu chuẩn, lập danh sách gửi về cơ quan Tư pháp cùng cấp (Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật đối với cấp Trung ương; Sở Tư pháp đối với cấp tỉnh; Phòng Tư pháp đối với cấp huyện) để thẩm định và trình cấp có thẩm quyền quyết định. Hồ sơ bao gồm: Công văn đề nghị của cơ quan chủ quản, danh sách trích ngang của cá nhân được đề nghị và 02 ảnh màu chân dung cỡ 3x4. Thời hạn giải quyết là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
- Đổi và cấp lại thẻ: Trong trường hợp thẻ bị rách, hỏng hoặc bị mất trong quá trình sử dụng, Báo cáo viên sẽ được xem xét đổi hoặc cấp lại thẻ mới. Thời hạn giải quyết thủ tục này là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu của cá nhân và công văn đề nghị của cơ quan quản lý trực tiếp.
- Thu hồi thẻ: Thẻ Báo cáo viên pháp luật sẽ bị thu hồi trong các trường hợp: cá nhân vi phạm pháp luật đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; bị tước quyền sử dụng thẻ không thời hạn hoặc từ hai lần trở lên do vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp; hoặc vi phạm nghiêm trọng các nghĩa vụ về phát ngôn và hoạt động phổ biến pháp luật. Thẩm quyền thu hồi thuộc về người đã ra quyết định cấp thẻ, thời hạn ban hành quyết định thu hồi là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị hợp lệ.
Quyền và nghĩa vụ của Báo cáo viên pháp luật
Báo cáo viên pháp luật được bảo đảm các quyền lợi thiết thực nhằm hỗ trợ tối đa cho công tác chuyên môn, đồng thời phải gánh vác các nghĩa vụ pháp lý tương ứng:
- Quyền của Báo cáo viên pháp luật: Được cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu pháp luật cần thiết; được tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ; được sử dụng thẻ để thực hiện nhiệm vụ; được hưởng thù lao theo quy định của nhà nước hoặc theo thỏa thuận hợp pháp; và được hưởng các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật.
- Nghĩa vụ của Báo cáo viên pháp luật: Phải phát ngôn đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và truyền đạt chính xác nội dung văn bản quy phạm pháp luật; tuyệt đối không tiết lộ bí mật nhà nước; không lợi dụng danh nghĩa Báo cáo viên để thực hiện các hành vi ngoài nhiệm vụ nhằm mục đích vụ lợi hoặc kích động, gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, truyền thống văn hóa và đạo đức dân tộc; bảo đảm chất lượng và tiến độ kế hoạch phổ biến pháp luật; tích cực học tập, trau dồi kỹ năng; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ 6 tháng một lần cho cơ quan quản lý trực tiếp và cơ quan Tư pháp cùng cấp; có nghĩa vụ hoàn trả lại thẻ khi có quyết định thu hồi.
Nhiệm vụ của cơ quan Tư pháp và Tổ chức pháp chế các cấp
Để bảo đảm hoạt động của đội ngũ Báo cáo viên pháp luật đi vào nề nếp và đạt hiệu quả cao, cơ quan Tư pháp và Tổ chức pháp chế các cấp có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu cho lãnh đạo cơ quan và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc xây dựng, củng cố và kiện toàn đội ngũ Báo cáo viên pháp luật.
- Xây dựng kế hoạch hoạt động chi tiết, dự trù kinh phí cho công tác bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ và biên soạn tài liệu phục vụ tuyên truyền.
- Quản lý, hướng dẫn, định kỳ tổ chức bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ Báo cáo viên.
- Cung cấp kịp thời các thông tin, tài liệu pháp luật cần thiết; phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý trực tiếp của Báo cáo viên để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho họ hoàn thành nhiệm vụ.
- Chủ trì tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá hiệu quả hoạt động và thực hiện công tác thi đua, khen thưởng kịp thời đối với các cá nhân có thành tích xuất sắc.
- Thực hiện công bố công khai danh sách Báo cáo viên pháp luật trên trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để người dân và các tổ chức dễ dàng tiếp cận, liên hệ.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện
Thông tư 18/2010/TT-BTP có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký ban hành. Kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực, Quyết định số 210/1999/QĐ-BTP ngày 09 tháng 7 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quy chế Báo cáo viên pháp luật chính thức hết hiệu lực thi hành.
Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cùng các đơn vị, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định tại Thông tư này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 18/2010/TT-BTP | Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2010 |
Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân;
Bộ Tư pháp quy định về Báo cáo viên pháp luật như sau:
Điều 1. Báo cáo viên pháp luật
Báo cáo viên pháp luật là những người được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định tại Thông tư này ra quyết định công nhận để thực hiện nhiệm vụ phổ biến pháp luật.
Báo cáo viên pháp luật gồm:
1. Báo cáo viên pháp luật của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Trung ương (sau đây gọi là Báo cáo viên pháp luật cấp Trung ương).
2. Báo cáo viên pháp luật của các cơ quan Nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh).
3. Báo cáo viên pháp luật của các cơ quan Nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Báo cáo viên pháp luật cấp huyện).
Điều 2. Tiêu chuẩn của Báo cáo viên pháp luật
1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
2. Có lập trường chính trị vững vàng, đạo đức tốt, không vi phạm pháp luật.
3. Được cơ quan, tổ chức nơi công tác giới thiệu.
4. Có trình độ Cử nhân luật đối với Báo cáo viên pháp luật cấp Trung ương và cấp tỉnh; có trình độ trung cấp luật trở lên đối với Báo cáo viên pháp luật cấp huyện.
Trường hợp cá nhân không có bằng đại học Luật, nhưng có bằng đại học khác thì cần có thời gian công tác từ 05 năm trở lên đối với Báo cáo viên pháp luật cấp Trung ương và từ 03 năm trở lên đối với Báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh và am hiểu pháp luật về lĩnh vực cần phổ biến.
Điều 3. Yêu cầu hoạt động phổ biến pháp luật của Báo cáo viên pháp luật
Hoạt động phổ biến pháp luật của Báo cáo viên pháp luật phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
1. Tuân thủ pháp luật;
2. Nội dung phổ biến pháp luật phải chính xác;
3. Dễ hiểu và có sức thuyết phục.
Điều 4. Phạm vi hoạt động của Báo cáo viên pháp luật
Báo cáo viên pháp luật trực tiếp phổ biến pháp luật tại cơ quan, tổ chức nơi mình công tác và tham gia phổ biến pháp luật cho các đối tượng khác khi có yêu cầu.
Điều 5. Thẻ Báo cáo viên pháp luật
1. Thẻ Báo cáo viên pháp luật xác định tư cách pháp lý của Báo cáo viên khi thực thi nhiệm vụ phổ biến pháp luật.
2. Mẫu Thẻ Báo cáo viên pháp luật do Bộ Tư pháp thống nhất phát hành.
Điều 6. Thẩm quyền công nhận và cấp Thẻ Báo cáo viên pháp luật
1. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định công nhận và cấp Thẻ cho Báo cáo viên pháp luật cấp Trung ương.
2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quyết định công nhận và cấp Thẻ cho Báo cáo viên pháp luật cùng cấp.
Điều 7. Thủ tục, hồ sơ công nhận và cấp Thẻ Báo cáo viên pháp luật
1. Thủ tục công nhận và cấp Thẻ Báo cáo viên pháp luật:
a) Các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp lựa chọn công chức của đơn vị mình có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Thông tư này, lập danh sách và gửi Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật để trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét, quyết định công nhận và cấp Thẻ Báo cáo viên pháp luật.
b) Tổ chức pháp chế của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; các đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý, tổ chức thực hiện công tác phổ biến pháp luật của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Trung ương chủ trì, hướng dẫn các đơn vị, tổ chức thuộc cơ quan mình lựa chọn cán bộ, công chức có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Thông tư này, lập danh sách trình Lãnh đạo Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Trung ương xem xét, có văn bản đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định công nhận và cấp Thẻ Báo cáo viên pháp luật.
c) Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm chủ trì, hướng dẫn các cơ quan Nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp cùng cấp lựa chọn, lập danh sách cán bộ, công chức thuộc cơ quan, đơn vị mình có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Thông tư này báo cáo Lãnh đạo cơ quan, đơn vị xem xét, có văn bản gửi về cơ quan Tư pháp cùng cấp, để cơ quan Tư pháp trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quyết định công nhận và cấp Thẻ Báo cáo viên pháp luật.
2. Hồ sơ đề nghị công nhận Báo cáo viên pháp luật, bao gồm:
a) Công văn đề nghị của các cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Danh sách trích ngang cá nhân được đề nghị công nhận Báo cáo viên pháp luật;
c) 02 ảnh màu chân dung (khổ 3 x 4).
3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định của Thông tư này Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ra quyết định công nhận và cấp Thẻ Báo cáo viên pháp luật.
Điều 8. Đổi và cấp lại Thẻ Báo cáo viên pháp luật
Trong trường hợp Thẻ Báo cáo viên pháp luật bị rách, hỏng do quá trình sử dụng hoặc bị mất thì người được cấp Thẻ được đổi hoặc cấp lại Thẻ.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu của người được cấp Thẻ, công văn đề nghị của cơ quan quản lý trực tiếp Báo cáo viên pháp luật, Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp, cơ quan Tư pháp cấp tỉnh, cấp huyện xem xét và trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện đổi hoặc cấp lại Thẻ Báo cáo viên pháp luật.
Điều 9. Thu hồi Thẻ Báo cáo viên pháp luật
1. Thẻ Báo cáo viên pháp luật bị thu hồi trong các trường hợp sau:
a) Người được cấp Thẻ vi phạm pháp luật đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Bị tước quyền sử dụng Thẻ báo cáo viên pháp luật không thời hạn hoặc có thời hạn từ hai lần trở lên theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Nghị định số 60/2009/NĐ - CP ngày 23 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp;
c) Vi phạm quy định tại
2. Thẩm quyền thu hồi Thẻ Báo cáo viên pháp luật
a) Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra quyết định thu hồi Thẻ Báo cáo viên pháp luật cấp Trung ương theo đề nghị của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ở Trung ương và Vụ trưởng Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp;
b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ra quyết định thu hồi Thẻ Báo cáo viên pháp luật theo đề nghị của cơ quan Tư pháp cùng cấp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 Điều này Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ra quyết định thu hồi Thẻ Báo cáo viên pháp luật theo thẩm quyền được quy định tại Thông tư này.
Điều 10. Quyền của Báo cáo viên pháp luật
1. Được cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật cần thiết phục vụ cho hoạt động phổ biến pháp luật.
2. Được tham dự các khoá bồi dưỡng để nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ.
3. Được sử dụng Thẻ Báo cáo viên pháp luật để thực hiện các hoạt động phổ biến pháp luật.
4. Được hưởng thù lao từ hoạt động phổ biến pháp luật theo quy định hoặc theo thoả thuận.
5. Các quyền lợi khác trong trường hợp pháp luật có quy định.
Điều 11. Nghĩa vụ của Báo cáo viên pháp luật
1. Phát ngôn đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng; truyền đạt đúng nội dung văn bản quy phạm pháp luật; không tiết lộ bí mật nhà nước trong quá trình phổ biến pháp luật.
2. Không lợi dụng danh nghĩa Báo cáo viên để thực hiện các hoạt động không thuộc nhiệm vụ được giao, nhằm mục đích vụ lợi hoặc lợi dụng hoạt động phổ biến pháp luật để kích động, gây phương hại đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, truyền thống văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc.
3. Thực hiện có chất lượng các hoạt động phổ biến pháp luật; bảo đảm kế hoạch phổ biến pháp luật đã đề ra.
4. Học tập chuyên môn, trau dồi kỹ năng, tìm hiểu thực tiễn và thu thập thông tin để nâng cao nghiệp vụ phổ biến pháp luật.
5. Định kỳ 6 tháng, Báo cáo viên pháp luật có trách nhiệm báo cáo với cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp, cơ quan Tư pháp cùng cấp về tình hình hoạt động phổ biến pháp luật của mình.
6. Có nghĩa vụ trả lại Thẻ Báo cáo viên pháp luật trong các trường hợp quy định tại
Cơ quan Tư pháp, Tổ chức pháp chế, các đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý, thực hiện công tác phổ biến pháp luật của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp các cấp có nhiệm vụ:
1. Chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị, tổ chức hữu quan tham mưu giúp lãnh đạo cấp mình và Uỷ ban nhân dân các cấp xây dựng, củng cố, kiện toàn đội ngũ Báo cáo viên pháp luật;
2. Chủ trì xây dựng kế hoạch công tác, dự trù kinh phí cho hoạt động bồi dưỡng, tập huấn, biên soạn tài liệu của đội ngũ Báo cáo viên pháp luật;
3. Quản lý hoạt động phổ biến pháp luật của Báo cáo viên pháp luật;
4. Hướng dẫn, định kỳ bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho Báo cáo viên pháp luật;
5. Cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho Báo cáo viên pháp luật;
6. Trao đổi, thống nhất ý kiến với các cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý Báo cáo viên pháp luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Báo cáo viên pháp luật thực hiện nhiệm vụ phổ biến pháp luật;
7. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan tiến hành sơ kết, tổng kết và thực hiện công tác thi đua, khen thưởng đối với hoạt động phổ biến pháp luật của Báo cáo viên pháp luật;
8. Công bố công khai danh sách Báo cáo viên pháp luật trên trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày, kể từ ngày ký.
Quyết định số 210/1999/QĐ – BTP ngày 09 tháng 7 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Quy chế Báo cáo viên pháp luật hết hiệu lực từ ngày Thông tư này có hiệu lực.
Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Vụ trưởng Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp; Lãnh đạo Tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Giám đốc Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Thông tư này./.
|
Nơi nhận: | BỘ TRƯỞNG |
- 1Quyết định 210/1999/QĐ-BTP ban hành quy chế báo cáo viên pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 2Quyết định 41/QĐ-BTP năm 2011 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thi hành do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 3Thông tư 21/2013/TT-BTP quy định trình tự, thủ tục công nhận, miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật; công nhận, cho thôi làm tuyên truyền pháp luật và biện pháp bảo đảm hoạt động của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 4Quyết định 480/QĐ-BTP công bố kết quả hệ thống hóa văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp đến hết ngày 31/12/2013
- 5Quyết định 229/QĐ-BTP năm 2015 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp năm 2014
- 1Quyết định 210/1999/QĐ-BTP ban hành quy chế báo cáo viên pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 2Quyết định 41/QĐ-BTP năm 2011 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thi hành do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 3Thông tư 21/2013/TT-BTP quy định trình tự, thủ tục công nhận, miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật; công nhận, cho thôi làm tuyên truyền pháp luật và biện pháp bảo đảm hoạt động của báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
- 4Quyết định 480/QĐ-BTP công bố kết quả hệ thống hóa văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp đến hết ngày 31/12/2013
- 5Quyết định 229/QĐ-BTP năm 2015 công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp năm 2014
- 1Nghị định 178/2007/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ
- 2Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 Ủy ban Bí thư trung ương đảng (khoá IX) về tăng cường sự lãnh đạo của đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân do Chính phủ ban hành
- 3Nghị định 93/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp
- 4Nghị định 60/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp
Thông tư 18/2010/TT-BTP quy định về Báo cáo viên pháp luật do Bộ Tư pháp ban hành
- Số hiệu: 18/2010/TT-BTP
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 05/11/2010
- Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
- Người ký: Hà Hùng Cường
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 688 đến số 689
- Ngày hiệu lực: 20/12/2010
- Ngày hết hiệu lực: 01/02/2014
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
