Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

Số: 14/2026/QĐ-TA
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ninh Bình, ngày 23 tháng 01 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

  1. Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đinh Thành Nam.
  2. Thư ký phiên họp: Bà Vũ Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình.

Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 08/2026/QĐ-TA, ngày 15 tháng 01 năm 2026, đối với:

Họ và tên: Phạm Văn T      Giới tính: Nam

Sinh ngày: 01/9/2001.

Căn cước công dân số: 038201013818; ngày cấp: 31/12/2024. Nơi cấp: Bộ Công an.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá : 09/12.

Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường Đ, tỉnh Ninh Bình.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án: Bản án số 94/2023/HS-ST ngày 18/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình) xử phạt 27 tháng tù về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma tuý’’. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/5/2025.

Tiền sự : Không.

Con ông Phạm Văn K và bà Ngọ Thị N.

Anh T có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

  1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Thanh T1 - Phó Trưởng công an phường Đ, tỉnh Ninh Bình.
  2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình: Bà Nguyễn Thị Thuý Tình - Kiểm sát viên.
  3. Những người khác được yêu cầu tham gia phiên họp: Không.

NHẬN THẤY

Theo hồ sơ và văn bản đề nghị của Trưởng công an phường Đ, tỉnh Ninh Bình đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T vì có hành vi vi phạm như sau:

Ngày 17/12/2025 cơ quan Công an phường Đ, tỉnh Ninh Bình có giấy mời Phạm Văn T đến trụ sở công an phường Đ để làm việc. Tại buổi làm việc, T thừa nhận bản thân có sử dụng ma tuý từ đầu năm 2022 đến nay, loại ma tuý thường sử dụng là M, hình thức sử dụng là hút ma tuý vào trong cơ thể, tần suất sử dụng là một tuần sử dụng một lần. Lần gần nhất T sử dụng ma tuý là vào sáng ngày 12/12/2025 tại khu đất trống gần Cầu G thuộc xã C, thành phố Hà Nội. Cùng ngày Công an phường Đ đã thực hiện xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể của Phạm Văn T, hình thức: Thử nước tiểu, cho kết quả dương tính với ma tuý. Cùng ngày, Công an phường Đ có Giấy đề nghị bệnh viện tâm thần Hà Nam xác định tình trạng nghiện ma tuý đối với Phạm Văn T. Ngày 22/12/2025, bệnh viện tâm thần Hà Nam có Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý, xác định Phạm Văn T có nghiện chất ma tuý, loại Methamphetamine.

Căn cứ quy định của pháp luật, ngày 22/12/2025 Công an phường Đ đã ra thông báo số 13/TB-CAP về thời hạn đăng ký cai nghiện tự nguyện và đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế cho Phạm Văn T. Cùng ngày, Phạm Văn T có đơn đề nghị không đăng ký cai nghiện tự nguyện mặc dù đã được Công an phường Đ giải thích quyền và nghĩa vụ. Hành vi nêu trên của Phạm Văn T đã vi phạm vào điểm a khoản 1 điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện. Ngày 31/12/2025 Công an phường Đ đã lập biên bản vi phạm số 04/BB-VPHC về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Phạm Văn T. Cùng ngày, Công an phường Đ đã lập hồ sơ, ban hành Thông báo số 18/TB-CAP về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Nghị định số 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện. Phạm Văn T tuy có nơi cư trú ổn định tại tổ dân phố C, phường Đ, tỉnh Ninh Bình nhưng đại diện gia đình là ông Phạm Văn K (bố của T) đã từ chối quản lý T trong thời gian làm thủ tục, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc.

Ngày 22/12/2025, Công an phường Đ đã ra Quyết định số 05/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma tuý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T. Ngày 12/01/2026, Trưởng Công an phường Đ, tỉnh Ninh Bình có văn bản số 02/ĐN-CNBB đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T theo Luật xử lý vi phạm hành chính và Luật phòng, chống ma tuý.

Tại phiên họp:

Đại diện công an phường Đ đề nghị đưa Phạm Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2, tỉnh Ninh Bình thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình và các cơ quan chức năng đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án chấp nhận áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T theo đề nghị của đại diện công an phường Đ.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào lời trình bày của đại diện công an phường Đ, ý kiến Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình tại phiên họp, Thẩm phán phiên họp nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Ngày 12/01/2026 Trưởng Công an phường Đ có văn bản số 02/ĐN-CNBB đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa Phạm Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Luật phòng, chống ma túy năm 2021 và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2022.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Căn cứ bản tường trình và biên bản ghi lời khai về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Phạm Văn T ngày 17/12/2025, biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 31/12/2025 của Công an phường Đ thì Phạm Văn T là người nghiện ma tuý nhưng có đơn đề nghị không đăng ký cai nghiện tự nguyện, tính đến thời điểm Tòa án thụ lý hồ sơ và mở phiên họp, vụ việc còn thời hiệu luật định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về thủ tục: Phạm Văn T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và quyết định mở phiên họp đúng quy định của pháp luật nhưng T đã có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên Tòa án tiến hành phiên họp theo quy định tại Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2022.

Về nội dung: Căn cứ Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 31/12/2025 của Công an phường Đ; Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 22/12/2025 của bệnh viện tâm thần Hà Nam và lời khai của Phạm Văn T, thể hiện Phạm Văn T là người nghiện ma túy và không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Phạm Văn T có sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Xét thấy, Phạm Văn T là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, năng lực pháp luật hành chính nhưng có hành vi vi phạm pháp luật đó là: Sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên thuộc đối tượng cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 Luật phòng, chống ma túy. Do đó, Công an phường Đ, tỉnh Ninh Bình căn cứ vào các quy định của pháp luật đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T là có cơ sở chấp nhận.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

  • Về nhân thân: Phạm Văn T có 01 tiền án về tội phạm liên quan đến ma tuý.
  • Tình tiết giảm nhẹ: Phạm Văn T đã tự nguyện khai báo về việc nghiện ma túy - là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
  • Tình tiết tăng nặng: Phạm Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về thời hạn chấp hành cai nghiện bắt buộc: Phạm Văn T hiện nay không có việc làm ổn định, là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, có 01 tiền án về tội phạm liên quan đến ma tuý, đã được gia đình và chính quyền địa phương, đoàn thể nơi cư trú giáo dục nhiều lần nhưng không tiến bộ, đã vi phạm về việc đăng ký cai nghiện tự nguyện và đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Vì vậy, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối Phạm Văn T là cần thiết.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3; khoản 2 Điều 9; khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp đưa Phạm Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như đề nghị của Trưởng Công an phường Đ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và nhân thân của người bị đề nghị.

Về quyền khiếu nại: Phạm Văn T được quyền khiếu nại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 3, Điều 6, Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 105 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

- Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021; Nghị định 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện.

- Điều 3, Điều 20, Điều 23, Điều 24, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân năm 2022.

  1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T.
  2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày Phạm Văn T bị quản lý để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 22/12/2025.
  3. Cơ sở tiếp nhận: Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2, tỉnh Ninh Bình. Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho các cá nhân, tổ chức có liên quan biết.
  4. Người bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án, Công an phường Đ có quyền kiến nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình có quyền kháng nghị đối với Quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
  5. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
  6. Cơ quan thi hành Quyết định: Công an phường Đ, tỉnh Ninh Bình phối hợp với Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2, tỉnh Ninh Bình có trách nhiệm thi hành quyết định này.
Nơi nhận:
- VKSND Khu vực 6 - Ninh Bình;
- Công an phường Đồng Văn;
- Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2, tỉnh Ninh Bình;
- Người bị đề nghị;
- Lưu hồ sơ.
THẨM PHÁN

(đã ký)


Đinh Thành Nam
THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 14/2026/QĐ-TA ngày 23/01/2026 của Toà án nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

  • Số quyết định: 14/2026/QĐ-TA
  • Quan hệ pháp luật: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2026
  • Loại vụ/việc: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T có sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Xét thấy, Phạm Văn T là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, năng lực pháp luật hành chính nhưng có hành vi vi phạm pháp luật đó là: Sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên thuộc đối tượng cần thiết phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger