TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI Số:09/2025/QÐST-VHNGĐ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
V/v: Huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân và gia đình gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Việt Cường.
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tuyền – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 499/2025/TLST- VHNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2025, về việc: “Huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân”, theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân và gia đình số: 09/2025/QÐST- VHNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu:
- Ông Nguyễn Văn N, Sinh ngày 02/9/1972. Số căn cước công dân: [...].
- Bà Nguyễn Thị D, Sinh ngày 23/12/1973. Số căn cước công dân: [...]
Đều đăng ký thường trú: thôn L, xã P, thành phố Hà Nội (Địa chỉ cũ: thôn L, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân xã P, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trọng V – Chức vụ: Chủ tịch UBND xã P, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Quang H – Phó chủ tịch UBND xã P, thành phố Hà Nội
Tại phiên họp ông N và bà D có mặt; Đại diện theo uỷ quyền của UBND xã P vắng mặt có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai và tại phiên họp người yêu cầu ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D đều thống nhất trình bày:
Ngày 31/12/1990 ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D lấy nhau có tổ chức lễ cưới và đến Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Hà Sơn Bình (Nay là xã P, thành phố Hà Nội) để đăng ký kết hôn theo Đăng ký kết hôn số 51 ngày 31/12/1990. Tại thời điểm đăng ký kết hôn do ông Nguyễn Văn N, sinh ngày 02/9/1972 chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nên đã khai là Nguyễn Ngọc N1, sinh ngày 10/02/1970 và đồng thời không có sự trùng khớp với ngày tháng năm sinh của bà Nguyễn Thị D trong đăng ký kết hôn với căn cước công dân và các giấy tờ tùy thân khác (trong giấy chứng nhận kết hôn là Nguyễn Ngọc N1, sinh ngày 10/02/1970 và Nguyễn Thị D, sinh tháng 11 năm 1972; còn trong giấy khai sinh, căn cước công dân ông Nguyễn Văn N, sinh ngày 02/9/1972 và bà Nguyễn Thị D, sinh ngày 23/12/1973), sự việc trên gây nhiều khó khăn cho vợ chồng ông, bà trong cuộc sống và khi tiến hành làm các thủ tục giấy tờ liên quan khác.
Vì vậy, vợ chồng ông bà đề nghị Tòa án giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật giữa vợ chồng ông, bà đồng thời ông, bà mong muốn được tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của ông, bà kể từ ngày đủ kiện kết hôn theo pháp luật. Về con chung: Ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D xác định vợ chồng có ba người con chung là: Nguyễn Thị D1, sinh ngày 07/4/1992; Nguyễn Thị H1, sinh ngày 18/4/1994 và Nguyễn Văn C, sinh ngày 28/9/1998, các con đều khoẻ mạnh, đã thành niên.
Ý kiến của Ủy ban nhân dân xã P trình bày tại Công văn số:1154/UBND ngày 06/12/2025:
- Căn cứ sổ hộ tịch hiện đang lưu giữ tại UBND xã và Phần mềm hộ tịch được số hóa phục vụ cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn, có thể hiện tại sổ Đăng ký kết hôn năm 1990 của UBND xã P, huyện P, tỉnh Hà Sơn Bình ( nay là xã P, thành phố Hà Nội) tại số thứ tự 51, ngày 31/12/1990 UBND xã P có Đăng ký kết hôn cho Ông Nguyễn Ngọc N1 -Sinh ngày: 10/02/1970 và bà Nguyễn Thị D - Sinh tháng: 11/1972 (Có bàn photocopy kèm theo). Trong sổ chỉ thể hiện các nội dung thông tin về hai vợ chồng là ông Nguyễn Ngọc N1 - Sinh ngày: 10/02/1970, Dân tộc: K, Quốc tịch: V N, Nghề nghiệp: N2, Nơi thường trú: Lưu Thượng, PT, Kết hôn lần thứ 1, chữ ký của vợ chồng là Nhận và Nguyễn Thị D - Sinh tháng: 11/1972, Dân tộc: K, Quốc tịch: V, Nghề nghiệp: N2, Nơi thường trú: Lưu Thượng, PT, Kết hôn lần thứ 1, chữ ký của vợ chồng là D, ngoài ra phần ghi số giấy chứng minh hoặc hộ chiếu và phần ghi Họ tên, chức vụ người ký giấy kết hôn đều để trống, việc cán bộ đăng ký tại thời điểm đó có kiểm tra giấy tờ tùy thân hay không để xác định điều kiện kết hôn, UBND xã P không xác định được.
- Quá trình giải quyết tại Tòa, nếu hai vợ chồng ông N1 bà D đề nghị Tòa án công nhận ngày xác lập quan hệ hôn nhân đề phù hợp với quy định pháp luật Hôn nhân và gia đình thì UBND xã đề nghị Toà án nhân dân khu vực 12 – Hà Nội căn cứ các quy định của pháp luật công nhận cho trường hợp trên để UBND xã ghi chú vào Sổ đăng ký kết hôn làm cơ sở quản lý và cấp trích lục kết hôn cho công dân.
Việc tham gia tố tụng tại toà án: Do yêu cầu nhiệm vụ của xã sau khi sáp nhập rất nhiêu công việc phải giải quyết nên đại diện UBND xã đề nghị Toà án cho đại diện UBND xã được vắng mặt.
Tại phiên họp, ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như trình bày trên.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết việc Hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội (Thẩm phán, Thư ký tòa án) đã thụ lý, thu thập chứng cứ và mở phiên họp theo đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên họp hôm nay, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đại diện ủy ban nhân dân xã P vắng mặt có văn bản và đơn đề nghị vắng mặt nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng theo quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết việc Hôn nhân và gia đình: Đề nghị Tòa án Tòa án căn cứ Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; các Điều 10, 11, 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 4 Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao-Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao -Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D kể từ ngày ông Nguyễn Văn N đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là ngày 02/9/1992.
- Về lệ phí việc Hôn nhân và gia đình: ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D phải chịu lệ phí yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân khu vực A - Hà Nội nhân định:
- [1]. Về thủ tục tố tụng:
- [1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn yêu cầu của người yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định yêu cầu của đương sự là việc: “Yêu cầu việc huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu của ông N và bà D thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 12 – Hà Nội.
- [1.2]. Về việc mở phiên họp vắng mặt: Tại phiên họp vắng mặt Đại diện theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân xã P có văn bản và đơn xin vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành phiên họp giải quyết việc Hôn nhân và gia đình vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân xã P theo thủ tục chung là phù hợp.
- [2]. Xét yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật:
- [2.1]. Về về quan hệ hôn nhân: Theo sổ đăng ký kết hôn năm 1990, số thứ tự 51 ngày 31/12/1990 và trích lục đăng ký kết hôn của Ủy ban nhân xã P, huyện P, tỉnh Hà Sơn Bình (Nay là xã P, thành phố Hà Nội) thể hiện bà Nguyễn Thị D, sinh tháng 11/1972 và ông Nguyễn Ngọc N1, sinh ngày 10/02/1970 có đăng ký kết hôn ngày 31/12/1990. Ông N1 cung cấp giấy khai sinh và căn cước công dân, giấy khai sinh các con của ông Nguyễn Văn N đều thể hiện tên là Nguyễn Văn N, sinh ngày 02/9/1972. Bà D cung cấp giấy khai sinh và căn cước công dân, giấy khai sinh các con của bà Nguyễn Thị D là Nguyễn Thị D, sinh ngày 23/12/1973. Do đó có đủ căn cứ xác định là ông Nguyễn Ngọc N1, sinh ngày 10/02/1970 và ông Nguyễn Văn N, sinh ngày 02/9/1972 là cùng một người. Bà Nguyễn Thị D, sinh tháng 11/1972 và bà Nguyễn Thị D, sinh ngày 23/12/1973 là cùng một người và có đăng ký kết hôn vào ngày 31/12/1990.
- [2.2]. Về xác định ngày tháng năm sinh, tên đệm của ông Nguyễn Văn N và ngày tháng năm sinh của bà Nguyễn Thị D không trùng khớp: Quá trình giải quyết vụ việc Ủy ban nhân dân xã P cung cấp về thủ tục kê khai đăng ký kết hôn và sao lục hồ sơ liên quan đến việc cấp trích lục kết hôn cho ông N và bà D. Trong sổ lưu đăng ký kết hôn năm 1990 số thứ tự 51 ngày 31/12/1990 của Ủy ban nhân xã P, huyện P, tỉnh Hà Sơn Bình (Nay là xã P, thành phố Hà Nội) thể hiện phần phần họ và tên chồng ghi tắt Ng Ngọc N2, sinh ngày 10/02/1970; phần họ tên vợ ghi là Nguyễn Thị D, sinh tháng 11/1972 chỉ ghi tháng và năm sinh. Không có có giấy CMND/Giấy tờ hợp lệ thay thế của ông N2 và bà D để xác định đúng họ tên và ngày tháng năm sinh của ông N2 và D.
Theo các giấy tờ của ông Nguyễn Văn N cung cấp: Giấy khai sinh số 16 đăng ký ngày 07/01/2021 ghi Nguyễn Văn N, sinh ngày 02/9/1972, họ tên mẹ Nguyễn Thị T, họ tên cha Nguyễn Văn C1, giấy tờ tuỳ thân theo khai sinh là Giấy CMND số 11990256 cấp ngày 01/8/2012; căn cước công dân số [...], giấy khai sinh các con của ông Nguyễn Văn N là Nguyễn Thị D1, sinh ngày 07/4/1992; Nguyễn Thị H1, sinh ngày 18/4/1994 và Nguyễn Văn C, sinh ngày 28/9/1998 đều thể hiện tên là Nguyễn Văn N, sinh năm 1972. Bà Nguyễn Thị D cung cấp giấy khai sinh số 144/2024 đăng ký ngày 19/11/2024 có ghi tên Nguyễn Thị D, sinh ngày 23/12/1973, họ tên mẹ Nguyễn Thị L, họ tên cha Nguyễn Văn Â, giấy tờ tuỳ thân theo khai sinh là căn cước công dân số [...] cấp ngày 12/7/2021, giấy khai sinh các con của bà Nguyễn Thị D là Nguyễn Thị D1, sinh ngày 07/4/1992; Nguyễn Thị H1, sinh ngày 18/4/1994 và Nguyễn Văn C, sinh ngày 28/9/1998 đều thể hiện tên Nguyễn Thị D, sinh 1973.
Căn cứ khoản 1 Điều 2 về căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật và Điều 6 Nghị định 123/20215/NĐ-CP quy định về giá trị pháp lý của giấy khai sinh:
- 1. Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của cá nhân.
- 2. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó.
- 3. Trường hợp nội dung trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân khác với nội dung trong Giấy khai sinh của người đó thì Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý hồ sơ hoặc cấp giấy tờ có trách nhiệm điều chỉnh hồ sơ, giấy tờ theo đúng nội dung trong Giấy khai sinh".
Như vậy, ngày 02/9/1972 được xác định là ngày tháng năm sinh của ông Nguyễn Văn N. Ngày 23/12/1973 được xác định là ngày tháng năm sinh của bà Nguyễn Thị D.
- [2.3]. Về xác định điều kiện kết hôn: Theo sổ đăng ký kết hôn năm 1990, số thứ tự 51 ngày 31/12/1990 và trích lục đăng ký kết hôn của Ủy ban nhân xã P, huyện P, tỉnh Hà Sơn Bình (Nay là xã P, thành phố Hà Nội). Như vậy, bà Nguyễn Thị D, sinh ngày 23/12/1973 tại thời điểm đăng ký kết hôn 17 tuổi 08 ngày và ông Nguyễn Văn N, sinh ngày 02/9/1972 tại thời điểm kết hôn ông N mới 18 tuổi 03 tháng 29 ngày. Như vậy, tại thời điểm đăng ký kết hôn bà D đã đủ tuổi kết hôn, ông N mới 18 tuổi 03 tháng 29 ngày tuổi đã vi phạm về độ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 thì: “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn”. Ngoài vi phạm về độ tuổi đăng ký kết hôn, hai bên không vi phạm điều kiện kết hôn nào khác quy định tại Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986.
- [3]. Về việc công nhận quan hệ hôn:
Do việc kết hôn giữa ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D là kết hôn trái pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa ông N và bà D phải chấm dứt theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, ông N, bà D đều xác định vợ chồng chung sống hòa thuận, cũng đã có với nhau 03 người con, đều đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân. Xét thấy, khi kết hôn, ông N và bà D chỉ vi phạm về độ tuổi kết hôn; do vậy việc ông N, bà D đề nghị Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm ông N đủ 20 tuổi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 2 Điều 4 Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Xác định thời điểm công nhận quan hệ hôn nhân của ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D là ngày 02/9/1992.
[4]. Về lệ phí giải quyết việc Hôn nhân và gia đình: ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D phải chịu lệ phí giải quyết việc Hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 11 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 149; khoản 2, khoản 3 Điều 367; Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986;
- - Căn cứ Điều 10, Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ khoản 5 Điều 2; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình về việc: “Hủy kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân” của ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D.
- + Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D theo Đăng ký kết hôn số 51 ngày 31/12/1990 của Ủy ban nhân xã P, huyện P, tỉnh Hà Sơn Bình (Nay là xã P, thành phố Hà Nội).
- + Công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn N, sinh ngày 02/9/1972 và bà Nguyễn Thị D, sinh ngày 23/12/1973 kể từ ngày 02 tháng 9 năm 1992.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc Hôn nhân và gia đình: ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc Hôn nhân và gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017692 ngày 26/11/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 – Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc Hôn nhân và gia đình trong hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc Hôn nhân và gia đình có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc Hôn nhân và gia đình trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc Hôn nhân và gia đình này trong hạn 10 ngày. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc Hôn nhân và gia đình này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Nơi nhận:
- - TAND TP Hà Nội;
- - VKSND khu vực 12 – Hà Nội;
- - Phòng THADS khu vực 12 – Hà Nội; ;
- - UBND xã Phượng Dực;
- - Người yêu cầu;
- - Lưu hồ sơ.
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Việt Cường |
Quyết định số 09/2025/QÐST-VHNGĐ ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI về huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân
- Số quyết định: 09/2025/QÐST-VHNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân
