Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - LAI CHÂU

 

Số: 06/2026/QÐST-HNGĐ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Lai Châu, ngày 13 tháng 01 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Oanh.

Thư ký phiên họp: Ông Lò Văn Sơm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên họp: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025 về việc "Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật" theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 31/12/2025 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

  • Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
  • Ông Hà Văn À, sinh năm 1974, trú tại: Bản N, xã N, tỉnh Lai Châu (vắng mặt - có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Lò Thị T, sinh năm 2004 (vắng mặt - có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
    2. Anh Hà Văn T1, sinh năm 1997 (vắng mặt - có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

    Đều trú tại: Bản N, xã N, tỉnh Lai Châu.

    1. Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Lai Châu.

    Địa chỉ: Bản N, xã N, tỉnh Lai Châu.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Hữu M - Chức vụ: Chủ tịch ủy ban nhân dân xã N (vắng mặt - có đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và các lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu ông Hà Văn À đều trình bày:

Ông Hà Văn À có con trai là Hà Văn T1, sinh ngày 26/10/1997. Ngày 23/10/2020, anh Hà Văn T1 và chị Lò Thị T, sinh ngày 20/9/2004 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện, anh T1 và chị T đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào sổ đăng ký số 42/2020. Như vậy tại thời điểm kết hôn chị Lò Thị T chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Quá trình chung sống anh T1 và chị T phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, vì vậy ông À làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh T1 và chị T.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hà Văn T1 và chị Lò Thị T đều trình bày: Chị T và anh T1 đăng ký kết hôn vào ngày 23/10/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện. Tại thời điểm làm thủ tục đăng ký kết hôn, chị T chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nhưng ngày tháng năm sinh của chị T tại Giấy chứng minh nhân dân thể hiện chị T sinh ngày 20/9/2002, vì vậy chị T đã xuất trình Giấy chứng minh nhân dân và lấy ngày tháng năm sinh là ngày 20/9/2002 để đăng ký kết hôn. Sau đó Ủy ban nhân dân xã N đã cấp giấy chứng nhận kết hôn cho anh, chị ghi là Hà Văn T1, sinh ngày 26/10/1997 và Lò Thị T, sinh ngày 20/9/2002.

Sau khi kết hôn vợ chồng chị T, anh T1 chung sống với nhau không hạnh phúc do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng lẫn nhau và đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Do mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên anh T1 và chị T đều nhất trí với yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của ông À và đề nghị Tòa án hủy đăng ký kết hôn trái pháp luật giữa anh T1 và chị T.

Quá trình chung sống anh T1 và chị T có 02 con chung là cháu cháu Hà Đăng N, sinh ngày 27/5/2020 và cháu Hà Tuấn K, sinh ngày 30/9/2021. Từ khi anh T1, chị T ly thân đến nay thì cháu N ở với chị T còn cháu K ở với anh T1. Sau khi hủy kết hôn trái pháp luật, anh T1 và chị T thỏa thuận thống nhất anh Hà Văn T1 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hà Tuấn K, chị Lò Thị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hà Đăng N. Về cấp dưỡng nuôi con anh T1 và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Lai Châu, xác định: Chị Lò Thị T, sinh ngày 20/9/2002 và chị Lò Thị T, sinh ngày 20/9/2004 là cùng một người, ngày tháng năm sinh chính xác của chị Lò Thị T là ngày 20/9/2004.

* Ủy ban nhân dân xã N trình bày ý kiến: Bà Lò Thị T, cư trú tại: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu và ông Hà Văn T1, cư trú tại: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu có thực hiện việc đăng ký kết hôn tại UBND xã N vào năm 2020. Quá trình thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã N thì bà Lò Thị T và ông Hà Văn T1 đã cung cấp giấy chứng minh nhân dân thể hiện ngày tháng năm sinh của bà T và ông T1. Sau khi bà T và ông T1 cung cấp giấy tờ, nhận thấy các thông tin về ngày tháng năm sinh do bà T và ông T1 cung cấp đủ điều kiện để đăng ký kết hôn và việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, do đó UBND xã N đã tiến hành đăng ký kết hôn cho bà T và ông T1 theo quy định của pháp luật. Nay ông Hà Văn À là bố đẻ của ông Hà Văn T1 yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa bà Lò Thị T và ông Hà Văn T1 với lý do là tại thời điểm kết hôn thì Lò Thị T chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Sau khi kiểm tra lại thông tin khai sinh của bà Lò Thị T, UBND xã N nhận thấy tại thời điểm đăng ký kết hôn bà Lò Thị T không đủ tuổi đăng ký kết hôn, do vậy việc kết hôn giữa bà T và ông T1 là kết hôn trái pháp luật, yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của ông Hà Văn À là có căn cứ. UBND xã N nhất trí với yêu cầu của ông Hà Văn À về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa bà Lò Thị T và ông Hà Văn T1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu tham gia phiên họp, phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu áp dụng: khoản 1 Điều 29; Điều 35; Điều 149, khoản 2, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm a khoản 1 Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Thông tư liên tịch số 01 ngày 06/01/2016 để chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Hà Văn À: Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Hà Văn T1 và chị Lò Thị T, kiến nghị UBND xã N ghi chú vào sổ hộ tịch về việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị T và anh T1. Giao cháu Hà Đăng N, sinh ngày 27/5/2020 cho chị Lò Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Giao cháu Hà Tuấn K, sinh ngày 30/9/2021 cho anh Hà Văn T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung do các bên không yêu cầu nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của người liên quan và đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu tại phiên họp, Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu nhận định:

[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Đây là yêu cầu về hủy kết hôn trái pháp luật do việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu (nay là xã N, tỉnh Lai Châu) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 29; Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Tại phiên họp, người yêu cầu là ông Hà Văn À có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã N, anh Hà Văn T1, chị Lò Thị T đều xin vắng mặt tại phiên họp. Tòa án tiến hành mở phiên họp là đúng theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật: Anh Hà Văn T1, sinh ngày 26/10/1997 và chị Lò Thị T, sinh ngày 20/9/2004 đăng ký kết hôn ngày 23/10/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Tuy nhiên tại thời điểm kết hôn chị Lò Thị T mới được 16 tuổi 01 tháng 03 ngày, như vậy tại thời điểm đăng ký kết hôn chị T chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và là kết hôn trái pháp luật. Đến thời điểm hiện tại, chị T và anh T1 đều đã đủ tuổi kết hôn, tuy nhiên quá trình chung sống chị T, anh T1 có nhiều mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2023 đến nay, chị T, anh T1 cũng nhất trí với yêu cầu của ông Hà Văn À là đề nghị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh T1 và chị T. Do vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 8, Điều 10 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và điểm b, khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp cần chấp nhận yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật của ông Hà Văn À.

[3] Về hậu quả pháp lý của việc kết hôn trái pháp luật.

Do việc kết hôn giữa chị Lò Thị T và anh Hà Văn T1 vi phạm điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và là kết hôn trái pháp luật nên kể từ khi quyết định này có hiệu lực pháp luật, chị Lò Thị T và anh Hà Văn T1 phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị T, anh T1 có 02 con chung là cháu Hà Đăng N, sinh ngày 27/5/2020 và cháu Hà Tuấn K, sinh ngày 30/9/2021. Xét thấy: Từ lúc chị T anh T1 sống ly thân (năm 2023 đến nay) thì cháu N ở với chị T còn cháu K ở với anh T1, các con chung đều được chăm sóc, nuôi dưỡng, học hành đầy đủ. Quá trình giải quyết vụ việc anh T1 và chị T đã thống nhất được với nhau về việc nuôi dưỡng con chung để anh T1 là người trực tiếp nuôi cháu K và chị T là người trực tiếp nuôi cháu N. Vì vậy, để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho sự phát triển về thể chất cũng như tinh thần của các cháu, cần giao cháu Hà Đăng N cho chị Lò Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và giao cháu Hà Tuấn K cho anh Hà Văn T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hà Văn T1 và chị Lò Thị T đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

Về chia tài sản chung: Anh Hà Văn T1 và chị Lò Thị T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về kiến nghị: Kiến nghị Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Lai Châu thực hiện việc ghi vào sổ hộ tịch quyết định của Tòa án về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Lò Thị T và anh Hà Văn T1 theo quy định của pháp luật.

[5] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 11, Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBNTVH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Ông Hà Văn À không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự.

[6] Về quyền kháng cáo, quyền kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 29; Điều 35; điểm g khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 361; Điều 362; Điều 366; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm a khoản 1 Điều 8; Điều 10; Điều 11; Điều 12; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm d khoản 2 Điều 11, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Hà Văn À: Hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Lò Thị T và anh Hà Văn T1 theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào sổ đăng ký số 42/2020 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu (nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Lai Châu) cấp ngày 23/10/2020.
  2. Về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật:
  3. - Chị Lò Thị T và anh Hà Văn T1 phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng kể từ khi quyết định này có hiệu lực pháp luật.

    - Về con chung: Giao cho chị Lò Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hà Đăng N, sinh ngày 27/5/2020 cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Giao cho anh Hà Văn T1 là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hà Tuấn K, sinh ngày 30/9/2021 cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

    - Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hà Văn T1 và chị Lò Thị T đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  4. Kiến nghị Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Lai Châu thực hiện ghi chú vào sổ hộ tịch về việc hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Lò Thị T và anh Hà Văn T1 theo quy định của pháp luật.
  5. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Hà Văn À không phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
  6. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND Khu vực 2 – Lai Châu;
  • - Cơ quan THADS tỉnh Lai Châu;
  • - UBND xã Nậm Sỏ;
  • - Người yêu cầu;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVDS.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Nguyễn Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 06/2026/QÐST-HNGĐ ngày 13/01/2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU về yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

  • Số quyết định: 06/2026/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger