TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN Số: 06/2026/QĐ-TA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Thái Nguyên, ngày 20 tháng 01 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Đặng Thị Thu V;
- - Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thụ lý số 04/2026/XLHC ngày 09/01/2026 theo quyết định mở phiên họp số: 04/2026/QĐ-TA ngày 12/01/2026 đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: Ma Văn L sinh ngày 13/01/1983; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 04/12; nghề nghiệp: lao động tự do; nơi cư trú: Xóm Đ, xã Y, tỉnh Thái Nguyên;
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Năm 2017 bị Toà án nhân dân huyện Phú Lương xử phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” chấp hành xong năm 2019.
Con nông Ma Văn N và bà Nông Thị C; Vợ là Đăng Thị T có 02 con lớn sinh 2007 nhỏ sinh 2012.
(Ma Văn L đang được quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, tỉnh Thái Nguyên, có mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
- - Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nịnh Văn H, Chức vụ: Đại úy, cán bộ Công an xã Y, tỉnh Thái Nguyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên: Ông Triệu Đức Hoàng- Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 30/12/2025 và tại phiên họp, Ma Văn L thừa nhận: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2015, loại ma túy sử dụng là heroine, hình thức thường sử dụng là “hít”, tần suất sử dụng ma túy là mỗi ngày/01 lần; lần cuối cùng Ma Văn L sử dụng ma túy là ngày 29/12/2025.
Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Ma Văn L của Trạm Y tế Y, tỉnh Thái Nguyên ngày 30/12/2025. Kết quả: Ma Văn L nghiện ma túy, nhóm heroine.
Ngày 30/12/2025, Công an xã Y, tỉnh Thái Nguyên đã lập biên bản làm việc về nội dung Thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế Y đối với Ma Văn L, Ma Văn L nhất trí với kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy. Đồng thời, Công an xã Y đã thông báo và yêu cầu Ma Văn L trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy phải đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Nếu Ma Văn L không đăng ký sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/12/2025, Ma Văn L có đơn tự nguyện đăng ký cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cùng ngày, Công an xã Y ra Thông báo số 748/TB - CAYT về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn L.
Ngày 30/12/2025, Công an xã Y đã ra Quyết định số 749/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa và cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn L; đơn vị được giao quản lý Ma Văn L là Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 07/01/2026, Công an xã Y đã ra văn bản đề nghị số 15/ĐN-CNBB về việc xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn L.
Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản Thông báo thụ lý hồ sơ, Quyết định mở phiên họp theo quy định.
Tại phiên họp: Đại diện Công an xã Y vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 1, tỉnh Thái Nguyên đối với Ma Văn L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - T2 quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 3, Điều 8, Điều 9 và các Điều 10, 11, 12, 13, 17, 21 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn L là đúng đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1, Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ trưởng Bộ C1, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Hồ sơ có đầy đủ tài liệu theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với lỗi cố ý của Ma Văn L làm mất trật tự trị an tại địa phương, trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện nên cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm cải tạo, giáo dục để trở thành người có ích cho xã hội. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Ma Văn L được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người vi phạm thành khẩn khai báo quy định tại Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Từ các phân tích trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên đề nghị xét áp dụng đưa Ma Văn Lương vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 18 đến 20 tháng.
XÉT THẤY:
Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn L, thấy rằng:
- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2, Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn L thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên.
- Về thời hiệu: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Công an xã Y, tỉnh Thái Nguyên đối với Ma Văn L vẫn trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).
- Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai; điểm đ khoản 1, Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy Nhà nước. Bản thân Ma Văn L có đơn tự nguyện đăng ký cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc và đã đọc hồ sơ, không có ý kiến khiếu nại gì về trình tự, thủ tục.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị và của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên, Tòa án thấy rằng:
Ma Văn L là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Trong các bản tường trình, biên bản ghi lời khai trong hồ sơ, Ma Văn L đều thừa nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy đã nhiều năm, lần cuối cùng Ma Văn L sử dụng ma túy là ngày 29/12/2025. Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Ma Văn L ngày 30/12/2025 của Trạm Y tế Y là cơ quan có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy đã xác định: Ma Văn L có nghiện ma túy, loại ma tuý sử dụng là heroine.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Ma Văn L là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước nên cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Ma Văn L.
Ma Văn L là người nghiện ma túy, thuộc “trường hợp người nghiện ma túy tự đến Công an cấp xã để khai báo về tình trạng nghiện của mình và có đơn xin đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc”. Xét hồ sơ đề nghị gồm có: đơn tự nguyện xin đi cai nghiện; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại; bản tường trình của người nghiện ma túy (đều của Ma Văn L) và các tài liệu khác có liên quan theo đúng quy định tại điểm đ Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy Nhà nước.
Đối chiếu với quy định tại điểm đ khoản 1, Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, thấy rằng, Công an xã Y, tỉnh Thái Nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn L là có căn cứ.
Xét về nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị: Ma Văn L là người trưởng thành, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, không có ý thức cai nghiện ma túy, mắc nghiện ma tuý, không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu: Năm 2017 bị Toà án nhân dân huyện Phú Lương xử phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” chấp hành xong năm 2019, tại địa phương không có nghề nghiệp ổn định. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người bị đề nghị áp dụng: Ma Văn L được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính là tự nguyện khai báo, ý thức chấp hành trong thời gian bị quản lý để làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Xét thấy, có đủ căn cứ xác định Ma Văn L là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc “Trường hợp người nghiện ma túy tự đến Công an cấp xã để khai báo về tình trạng nghiện của mình và có đơn xin đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc”. Tại phiên họp, Ma Văn L đề nghị Tòa án xét cho Ma Văn L đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian hợp lý.
Xét đề nghị của đại diện Công an xã Y và đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Ma Văn L với thời gian từ 18 đến 20 tháng là phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 3, Điều 20, Điều 23, Điều 24; Điều 30 và Điều 31 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Luật phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân điểm đ khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy Nhà nước.
- Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Họ và tên: Ma Văn L, sinh năm 1983; nơi cư trú: Xóm Đ, xã Y, tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 19 (Mười chín) tháng, kể từ ngày 30/12/2025 ngày giao nhận người bị quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án. Ma Văn L có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về: Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
- Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
- Cơ quan thi hành quyết định này: Công an xã Y, tỉnh Thái Nguyên đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Đặng Thị Thu Vân |
Quyết định số 06/2026/QĐ-TA ngày 20/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Số quyết định: 06/2026/QĐ-TA
- Quan hệ pháp luật: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/01/2026
- Loại vụ/việc: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đi cai
