Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG

Số: 02/2026/QĐ-TA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hải Phòng, ngày 16 tháng 01 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

  1. Thẩm phán: Ông Trần Văn H.
  2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Tất Thành – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Hải Phòng.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 02/QĐ-TA, ngày 12 tháng 01 năm 2026 đối với:

Họ và tên: Lê Đức TGiới tính: Nam
Sinh ngày 04 tháng 9 năm 1976

Căn cước công dân số: 031076027369; ngày cấp 24/8/2022; nơi cấp: Cục C về TTXH.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 4/12

Nơi cư trú: Thôn A C, đặc khu C, thành phố Hải Phòng.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2012, Toà án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Con ông Lê Đức T1 và bà Bùi Thị X.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

  1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hữu H1 – Cán bộ Công an đặc khu C1, thành phố Hải Phòng (Đại diện theo văn bản ủy quyền ngày 08/01/2026).
  2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Người bị đề nghị Lê Đức T nghiện ma túy từ năm 2010, loại ma túy thường sử dụng là H2 và chưa đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Ngày 31/10/2025, Công an đặc khu C1 phát hiện đưa Tình đi xét nghiệm, kết quả dương tính với ma tuý loại Heroine. Bản thân Lê Đức T thừa nhận nghiện ma tuý từ năm 2010, chưa đăng ký cai nghiện tự nguyện, lần sử dụng ma tuý gần nhất vào ngày 31/10/2025. Ngày 04/11/2025 Ủy ban nhân dân Đ ra Thông báo số 405/TB-UBND về việc đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện, hết thời hạn đăng ký nhưng Lê Đức T không thực hiện.

Tại phiên họp, đại diện Công an đặc khu C1 đề nghị: Lê Đức T là người nghiện ma tuý, có nơi cư trú ổn định, nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy nên đủ điều kiện để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và cần phải đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì mới đảm bảo được việc cai nghiện. Từ những lý do trên, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Lê Đức T vào Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2, thành phố Hải Phòng với thời gian từ 21 đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng phát biểu ý kiến: Việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đức T kể từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ cho đến trước thời điểm Thẩm phán công bố quyết định, đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Hồ sơ xem xét trên đã đủ điều kiện đưa Lê Đức T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xét Lê Đức Tình nhân T2 có 01 tiền án, tuy nhiên khi phát hiện vi phạm đã khai báo thành khẩn, nên đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 21 tháng đến 24 tháng đối với Lê Đức T.

XÉT THẤY:

  1. Về trình tự, thủ tục: Người bị đề nghị là Lê Đức T vắng mặt tại phiên họp và có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
  2. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Lê Đức T đã đầy đủ theo Điều 103, 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 13 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
  3. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: Lê Đức T là người trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, là người nghiện ma túy từ năm 2010, có nơi cư trú ổn định, chưa thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Lê Đức T thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  4. Về nhân thân: Lê Đức T có 01 tiền án thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Hành vi sử dụng ma túy trái phép của Lê Đức T là nghiêm trọng, vi phạm pháp luật hành chính, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương, bản thân Học không thể tự giác cai nghiện được.
  5. Xét tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị phát hiện Lê Đức T đã khai báo thành khẩn, nhận thức rõ về hành vi, vi phạm của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
  6. Xét đề nghị của Công an đặc khu C1 là có căn cứ, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đức T theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính để có cơ hội được điều trị cai nghiện, được học tập, học nghề để trở thành người công dân có ích, tái hòa nhập với cộng đồng, với gia đình. Song cũng xét Lê Đức T thành khẩn khai báo nên chỉ cần áp dụng mức khởi điểm theo đề nghị của cơ quan đề nghị và Kiểm sát viên tại phiên họp là phù hợp.
  7. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96, Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ khoản 1 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy;

Căn cứ các điều 3, 31 và Điều 32 của Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đức T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, thành phố Hải Phòng (địa chỉ: Thôn G, xã Q, thành phố Hải Phòng).
  2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:
    • Lê Đức T có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.
    • Công an đặc khu C1 có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
  4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
  5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an đặc khu C1 đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hải Phòng biết kết quả.

Nơi nhận:

  • - Người bị áp dụng;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - VKSND khu vực 4 – Hải Phòng;
  • - Công an đặc khu Cát Hải;
  • - Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, TP Hải Phòng;
  • - UBND đặc khu Cát Hải;
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN

Trần Văn Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 02/2026/QĐ-TA ngày 16/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

  • Số quyết định: 02/2026/QĐ-TA
  • Quan hệ pháp luật: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/01/2026
  • Loại vụ/việc: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger