Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 15 – AN GIANG

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2026/HSST-QĐ

An Giang, ngày 09 tháng 01 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân;

Ông Đặng Tấn Phước

Căn cứ Điều 280 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ kết quả xét hỏi tại phiên tòa;

Xét thấy: Thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 mà không thể bổ sung tại phiên tòa được; có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

QUYẾT ĐỊNH:

Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2025/TLST - HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Văn Đ, sinh ngày 07/10/1989 tại A, An Giang; cư trú: Ấp V, xã P, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không.
  2. Huỳnh Tấn P, sinh ngày 26/3/1996 tại C, An Giang; cư trú: Ấp V, phường V, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không.

Cùng bị Viện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Để điều tra bổ sung những vấn đề sau đây:

- Thứ nhất, Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 21/3/2025 (bút lục 02, 03) cả L, P và Đây đều khai nhận vào lúc khoảng 02 giờ 00 phút ngày 21/3/2025 L và P đi đến nhà của Đ (khi đi P mang theo ma túy) và cùng sử dụng tại nhà Đây. Sau khi cả 03 (ba) sử dụng hết lượng ma túy mà P mang theo thì P tiếp tục đưa cho Đây 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để mua ma túy và cùng nhau sử dụng tiếp, lượng ma túy sử dụng còn dư lại bị Công an bắt quả tang. Ngoài ra Đây còn có lời khai “đến sáng L múc ma túy đá vào nỏ chuẩn bị cả ba người sử dụng” (bút lục 92, 94)

Liên tục các Biên bản lời khai của P trong nhiều ngày: 21/3/2025, 26/3/2025, 27/3/2025 và 11/4/2025 (các bút lục 125, 128, 130, 131, 133, 134, 137) đều thể hiện nội dung sau khi hút hết lượng ma túy P mang đến thì khoảng 02 (hai) tiếng sau P đưa 200.000₫ (hai trăm nghìn) cho Đ, anh em hùn tiền lấy đồ chơi, sau đó Đây ra ngoài khoảng 01 (một) tiếng và đem ma túy vào để cả 03 (ba) tiếp tục sử dụng, đến sáng thì bị bắt quả tang. Đến ngày 27/5/2025 P thay đổi lời khai, xác định đưa 200.000đ để nhờ Đây mua đồ ăn (bút lục 142).

Biên bản lời khai ngày 21/3/2025 (bút lục 151) L xác định khi L và P đến nhà Đây thì Đ đưa dụng cụ có sẵn ma túy trong đó cả 03 (ba) sử dụng, sử dụng hết thì tiếp tục sử dụng phần của P mang theo, đến Biên bản ngày 22/3/2025 (bút lục 155) L khai sử dụng hết phần ma túy của P mang theo thì P đưa Đây 200.000đ mua ma túy và tiếp tục sử dụng. Biên bản lời khai ngày 15/6/2025 (bút lục 159) L khai chỉ sử dụng ma túy đối với phần của P đem đến nhà Đ, sau đó đến sáng thì bị bắt quả tang.

Biên bản lời khai ngày 22/3/2025 (bút lục 170) H trình bày “nghe Đây, P, L cùng thừa nhận cùng sử dụng ma túy tại nhà Đây. Bộ D sử dụng ma túy là của Đây, còn ma túy là do P đưa Đ 200.000đ mua về để cả 03 (ba) cùng sử dụng, tuy nhiên sử dụng chưa hết thì bị bắt quả tang”. Theo nội dung hồ sơ H đã có mặt tại nhà Đây trước và trong thời điểm các bị cáo bị bắt quả tang, tuy không tham gia sử dụng ma túy (test âm tính, bút lục 173) nhưng nhìn thấy các bị cáo cùng sử dụng ma túy.

Như vậy, các biên bản lời khai của P, Đ, L và cả H tại thời điểm bắt quả tang thì có sự thống nhất (nhiều biên bản lời khai), tuy nhiên dần về thời gian sau thì thay đổi, mâu thuẫn, không còn phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang. Do L vắng mặt tại phiên tòa nên không thể đối chất, làm rõ lời khai của các bị cáo, làm rõ vai trò của L trong vụ án. Mặt khác tình tiết P đưa đây 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) mua ma túy thêm (nêu trong Biên bản bắt người phạm tội quả tang, cả L, P, Đây đều trình bày giống nhau) thì các bị cáo còn có thể bị áp dụng thêm tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó cần đấu tranh, làm rõ tình tiết P đưa Đây 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) mua ma túy thêm, nếu có tình tiết này thì cần điều tra làm rõ thêm nhân thân của đối tượng đã bán ma túy cho Đây.

- Thứ hai, các bút lục 97, 100 Đây khai dụng cụ sử dụng chất ma túy là của H gửi trước đó nhưng đến bút lục 109 Đây khai dụng cụ sử dụng ma túy là của Đ, tại phiên tòa Đây khai dụng cụ không phải của Đây, cách 08 (tám) ngày trước ngày bị bắt quả tang thì H có gửi dụng cụ sử dụng ma túy nhưng không biết có lấy về chưa, dụng cụ đó có phải của H không thì Đây không xác định (việc Đây không nhớ là do thời điểm bị bắt quả tang mới mổ ruột thừa). Tại phiên tòa P khai nhận khi đến nhà Đây thì dụng cụ sử dụng ma túy đã có tại nhà Đ và Đ đem ra để cả 03 (ba) sử dụng. Trong các biên bản lời khai của H (bút lục 167 – 174) cũng chưa lấy lời khai H về nội dung Đây từng có lời khai cho rằng dụng cụ sử dụng mà túy là của H gửi trước đó.

Lời khai các bị cáo thay đổi liên tục, mâu thuẫn các lời khai có trong hồ sơ vụ án, tuy nhiên do H vắng mặt nên không thể đối chất làm rõ tại phiên tòa và trong hồ sơ cũng chưa được đối chất, làm rõ. Như vậy cần làm rõ dụng cụ sử dụng mà túy là của ai, do ai cung cấp, các bị cáo có được dụng cụ đó từ thời gian nào, bằng cách thức gì có được, H có vai trò gì trong vụ án không. Các lời khai về dụng cụ sử dụng ma túy có sự mâu thuẫn cần tiến hành đối chất giữa các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và L, H.

- Thứ ba, Lý lịch bị can Huỳnh Tấn P (bút lục 118) thể hiện “3. Họ và T (Con): Trương Minh H, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2012” tuy nhiên Cáo trạng lại thể hiện bị cáo P “Vợ: không rõ; con có 01 người, sinh năm không rõ” và tại phiên tòa bị cáo khai trước lúc bị bắt đang sống cùng một người và có con đang mang thai được 03 (ba) tháng, còn Trương Minh H thể hiện trong Lý lịch bị can không phải con bị cáo, như vậy nội dung nào là đúng. Ngoài ra tại phiên tòa P còn khai anh em ruột có 03 (ba) người gồm Huỳnh Tấn T1 và Huỳnh Thị Thanh T2 và bị cáo, tuy nhiên Cáo trạng lại thể hiện “Anh, em: bị can là người duy nhất”. Như vậy hồ sơ vụ án chưa làm rõ nhân thân của bị cáo, do đó cần làm rõ việc bị cáo có đang sinh sống với ai, có đăng ký kết hôn không, con chung là ai cũng như anh chị em ruột của bị cáo có mấy người để xác định đúng nhân thân bị cáo Huỳnh Tấn P.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 15 – An Giang;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Chúc Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 01/2026/HSST-QĐ ngày 09/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG, TỈNH AN GIANG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số quyết định: 01/2026/HSST-QĐ
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QĐTHS Đây - Phát
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger