Quyết định 159/2002/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm phê duyệt Đề án thực hiện Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học trên phạm vi toàn quốc. Quyết định này tập trung vào việc cải thiện điều kiện cơ sở vật chất trường học, xóa bỏ phòng học tạm tranh tre nứa lá và giải quyết triệt để tình trạng học ca ba tại các cơ sở giáo dục.
Phạm vi áp dụng của Đề án bao gồm toàn bộ hệ thống trường, lớp học từ bậc giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông trong cả nước. Đối tượng được ưu tiên đầu tư hàng đầu là các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các xã nghèo thuộc vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền Trung, vùng thường xuyên bị ngập lũ, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số tại đồng bằng sông Cửu Long và các địa phương khó khăn khác.
Mục tiêu, yêu cầu và quy mô của Đề án kiên cố hóa trường, lớp học
- Mục tiêu cụ thể: Thực hiện kiên cố hóa trường, lớp học trên cả nước để đến cuối năm 2003 hoàn thành việc xóa bỏ tình trạng học ca ba, và đến năm 2005 xóa bỏ hoàn toàn các lớp học tạm thời làm bằng tranh, tre, nứa, lá.
- Yêu cầu thực hiện: Việc xây dựng mới các trường, lớp học phải tuân thủ nghiêm ngặt theo thiết kế mẫu được ban hành. Quá trình triển khai Chương trình kiên cố hóa phải được kết hợp chặt chẽ với lộ trình chuẩn hóa trường, lớp học.
- Quy mô xây dựng: Dự kiến tổng số phòng học được xây dựng mới trong toàn bộ chương trình là 67.500 phòng học.
- Thời gian thực hiện: Đề án được triển khai thực hiện từ khi ban hành cho đến hết năm 2005.
Nguồn vốn và cơ chế huy động tài chính
- Ngân sách Trung ương: Hỗ trợ trực tiếp cho các địa phương để thực hiện các mục tiêu xóa phòng học tạm và học ca ba. Nguồn vốn này được bố trí cụ thể trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm của từng địa phương.
- Ngân sách địa phương: Các địa phương có trách nhiệm tự cân đối và bố trí ngân sách hàng năm để phối hợp thực hiện.
- Nguồn vốn huy động xã hội hóa: Khuyến khích và huy động các khoản đóng góp tự nguyện dưới nhiều hình thức từ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các tổ chức quốc tế, cùng các nhà hảo tâm trong và ngoài nước.
Phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện ở cấp Trung ương
- Ban chỉ đạo Chương trình ở Trung ương: Được thành lập do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo làm Trưởng ban. Thành viên gồm đại diện lãnh đạo các Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Chính phủ, và Ban chỉ đạo đổi mới và Phát triển doanh nghiệp. Ban chỉ đạo có nhiệm vụ giúp Thủ tướng chỉ đạo, kiểm tra thực hiện và đề xuất khen thưởng các tập thể, cá nhân có đóng góp lớn.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo (Cơ quan thường trực): Chịu trách nhiệm xác định danh mục lớp học cần xây dựng mới trên cả nước và từng địa phương; lập kế hoạch tổng thể và kế hoạch thực hiện hàng năm; hướng dẫn huy động và sử dụng vốn đóng góp; xây dựng phương án phân bổ kinh phí trình Thủ tướng Chính phủ quyết định; đồng thời kiểm tra, đánh giá và báo cáo định kỳ 6 tháng, hàng năm lên Thủ tướng Chính phủ.
- Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp: Chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan để tổ chức vận động các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tự nguyện đóng góp vốn cho Chương trình.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo để cân đối nguồn vốn từ ngân sách Trung ương phục vụ Chương trình.
- Bộ Tài chính: Bố trí nguồn vốn ngân sách Trung ương theo kế hoạch; hướng dẫn quản lý và tiếp nhận nguồn vốn đóng góp tự nguyện; phối hợp xây dựng phương án phân bổ kinh phí hàng năm cho các tỉnh; chủ trì hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đơn giản về thủ tục nhưng bảo đảm quản lý chặt chẽ.
- Bộ Xây dựng: Chủ trì phối hợp ban hành các thiết kế mẫu cho từng loại lớp học, trường học và hướng dẫn thiết kế xây dựng phù hợp với đặc thù địa lý, khí hậu của từng vùng miền.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường: Chủ trì hướng dẫn các địa phương về quy hoạch và sử dụng quỹ đất để triển khai xây dựng trường, lớp học.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan địa phương
- Thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ban chỉ đạo riêng để điều hành Chương trình tại địa phương.
- Rà soát và lập kế hoạch: Tiến hành kiểm tra, xác định chính xác số lượng lớp học ca ba, lớp học tạm thời tranh, tre, nứa, lá chi tiết đến từng xã, thôn, bản, trường học. Trên cơ sở đó, lập kế hoạch thực hiện và dự toán kinh phí tổng thể đến năm 2005 cũng như kế hoạch hàng năm để báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh, Ban chỉ đạo Trung ương và các Bộ ngành liên quan.
- Huy động nguồn lực địa phương: Tổ chức vận động các nguồn đóng góp tự nguyện trên địa bàn để bổ sung kinh phí thực hiện.
- Giám sát và phòng chống tiêu cực: Chịu trách nhiệm toàn diện về tiến độ, chất lượng công trình, bảo đảm chống thất thoát, lãng phí và tiêu cực. Quá trình triển khai phải chịu sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân các cấp. Định kỳ tổ chức giao ban và báo cáo kết quả về Ban chỉ đạo Trung ương.
Công tác phối hợp và thông tin tuyên truyền
- Phối hợp đoàn thể: Ban chỉ đạo Trung ương phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội để vận động toàn dân tích cực hưởng ứng tham gia Chương trình.
- Tuyên truyền đại chúng: Các cơ quan thông tin đại chúng ở cả Trung ương và địa phương có trách nhiệm tuyên truyền rộng rãi về mục đích, ý nghĩa của Chương trình nhằm khuyến khích xã hội tham gia giám sát, kiểm tra quá trình thực hiện.
Quyết định 159/2002/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 159/2002/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2002 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08 tháng 7 năm 1999 và Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2000 của Chính phủ về Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tại tờ trình số 9250/KHTC ngày 15 tháng 10 năm 2002 về việc phê duyệt Đề án thực hiện Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tên đề án: Đề án thực hiện Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học.
2. Mục tiêu:
Thực hiện chương trình kiên cố hoá các trường, lớp học trong cả nước từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông để đến cuối năm 2003 xoá bỏ tình trạng học cả 3 ca và đến năm 2005 không còn lớp học tạm thời tranh, tre, nứa, lá.
3. Yêu cầu:
a. Xây dựng các trường, lớp học theo thiết kế mẫu.
b. Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học được triển khai trong cả nước; ưu tiên đầu tư để thực hiện trước hết đối với các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các xã nghèo ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền Trung, vùng hay ngập lũ, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long và các địa phương khác.
c. Kết hợp Chương trình này với việc chuẩn hoá trường, lớp học.
4. Quy mô xây dựng:
Tổng số phòng học dự kiến xây dựng mới là: 67.500 phòng học.
5. Nguồn vốn:
a. Ngân sách Trung ương hỗ trợ cho các địa phương để thực hiện mục tiêu quy định tại
b. Ngân sách địa phương hàng năm.
c. Huy động đóng góp tự nguyện bằng nhiều hình thức của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các tổ chức quốc tế, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước.
6. Thời gian thực hiện: đến năm 2005.
7. Cơ quan quản lý: Bộ Giáo dục và đào tạo.
8. Cơ quan thực hiện: Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
1. Thành lập Ban chỉ đạo Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học ở Trung ương do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo là Trưởng Ban, Uỷ viên gồm đại diện lãnh đạo các cơ quan: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Chính phủ, Ban chỉ đạo đổi mới và Phát triển doanh nghiệp.
Ban chỉ đạo có trách nhiệm giúp Thủ tướng chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình, nghiên cứu đề xuất các hình thức ghi công, biểu dương, khen thưởng các tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp trong việc thực hiện Chương trình.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan thường trực Chương trình có nhiệm vụ:
a. Xác định cụ thể danh mục lớp học cần xây dựng mới thuộc Chương trình này trong cả nước và từng địa phương;
b. Xây dựng kế hoạch tổng thể triển khai Chương trình và kế hoạch thực hiện hàng năm trong cả nước (cụ thể cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương);
c. Chỉ đạo việc tổ chức huy động, tiếp nhận và sử dụng vốn huy động đóng góp.
d. Trên cơ sở nguồn vốn quy định tại khoản 5 Điều 1, căn cứ kế hoạch thực hiện hàng năm để xác định nhu cầu và phương án phân bổ kinh phí cụ thể cho từng địa phương, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
e. Chỉ đạo các địa phương triển khai Chương trình. Tổ chức kiểm tra, đánh giá tiến độ thực hiện Chương trình ở các địa phương. Định kỳ 6 tháng và hàng năm đánh giá việc thực hiện chương trình, báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ.
3. Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp chủ trì, cùng Văn phòng Chính phủ phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam, các Bộ và các cơ quan có liên quan tổ chức vận động các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tự nguyện đóng góp vốn để thực hiện Chương trình.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo cân đối nguồn vốn từ ngân sách Trung ương để thực hiện Chương trình.
5. Bộ Tài chính có nhiệm vụ:
a. Bố trí nguồn vốn ngân sách Trưng ương để thực hiện Chương trình theo kế hoạch triển khai.
b. Hướng dẫn, chỉ đạo việc tiếp nhận và quản lý vốn đóng góp được quy định tại mục c, khoản 5, Điều 1 của Quyết định này;
c. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng phương án, kế hoạch và dự kiến phân bổ kinh phí hàng năm cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;
6. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành thiết kế mẫu từng loại lớp học, trường học, hướng dẫn thiết kế xây dựng phù hợp với điều kiện của từng vùng.
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn các địa phương về việc sử dụng đất để triển khai Chương trình.
8. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ:
a. Thành lập Ban chỉ đạo Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học của địa phương;
b. Kiểm tra, xác định cụ thể số lượng lớp học 3 ca, lớp học tạm thời tranh, tre, nứa, lá của địa phương (cụ thể đến từng xã, thôn, bản, trường học).
Tổ chức vận động trên địa bàn việc tự nguyện đóng góp vốn để thực hiện Chương trình.
c. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình đến năm 2005, kế hoạch thực hiện hàng năm (cụ thể đến từng xã, thôn, bản, trường học), kế hoạch dự toán kinh phí tổng thể và hành năm để thực hiện Chương trình (trong đó có đề xuất cụ thể phần vốn hỗ trợ từ Trung ương), báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh, Ban chỉ đạo Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính.
d. Chịu trách nhiệm chỉ đạo, triển khai, kiểm tra thực hiện Chương trình trên địa bàn theo đúng kế hoạch, đúng quy định, bảo đảm chất lượng, chống thất thoát và tiêu cực. Tổ chức giao ban định kỳ để đánh giá và báo cáo Ban chỉ đạo Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Việc triển khai thực hiện Chương trình cần có sự giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp.
9. Ban chỉ đạo Trung ương phối hợp với các cơ quan Trung ương của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong việc vận động tích cực hưởng ứng tham gia Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
10. Các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương có nhiệm vụ tuyên truyền rộng rãi để toàn xã hội cùng tham gia hưởng ứng, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình kiên cố hoá trường, lớp học.
|
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1Thông tư 58/2003/TT-BTC hướng dẫn quản lý tài chính thực hiện Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học do Bộ Tài chính ban hành
- 2Nghị định 52/1999/NĐ-CP ban hành Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng
- 3Nghị định 12/2000/NĐ-CP sửa đổi Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định 52/1999/NĐ-Cp
Quyết định 159/2002/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thực hiện Chương trình kiên cố hoá trường, lớp học do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 159/2002/QĐ-TTg
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 15/11/2002
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 62
- Ngày hiệu lực: 15/11/2002
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
