Nghị định 89/1999/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định về hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn và lành mạnh của hoạt động ngân hàng.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng và các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng có nhận tiền gửi bằng Đồng Việt Nam (VND) của cá nhân. Các tổ chức này có nghĩa vụ phải tham gia bảo hiểm tiền gửi bắt buộc và phải niêm yết công khai việc tham gia bảo hiểm tiền gửi tại trụ sở chính cũng như các địa điểm giao dịch.
Địa vị pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
- Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí.
- Tổ chức có tư cách pháp nhân, có bảng cân đối kế toán riêng, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại các ngân hàng trong nước và nước ngoài, được Nhà nước cấp vốn điều lệ và được miễn nộp các loại thuế.
- Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi, phê chuẩn Điều lệ tổ chức và hoạt động, đồng thời quyết định chế độ tài chính trên cơ sở đề nghị của Bộ Tài chính và ý kiến của Ngân hàng Nhà nước.
Hạn mức bảo hiểm tiền gửi
- Số tiền bảo hiểm được chi trả cho tất cả các khoản tiền gửi (bao gồm cả gốc và lãi) của một cá nhân tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi tối đa là 30 triệu đồng Việt Nam.
- Việc thay đổi số tiền bảo hiểm tối đa này do Thủ tướng Chính phủ xem xét và quyết định tùy theo tình hình thực tế.
Quy định về phí bảo hiểm tiền gửi và xử lý vi phạm
- Mức phí bảo hiểm: Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp phí bảo hiểm tiền gửi theo mức 0,15%/năm tính trên số dư tiền gửi bình quân của các cá nhân tại tổ chức đó. Khoản phí này được hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tham gia.
- Thời hạn nộp phí: Phí bảo hiểm tiền gửi được tính và nộp bốn lần trong năm tài chính theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
- Xử lý chậm nộp phí: Tổ chức vi phạm thời hạn nộp phí ngoài việc phải nộp đủ số phí còn thiếu thì phải chịu phạt 0,1% mỗi ngày trên số tiền chậm nộp.
- Biện pháp cưỡng chế: Nếu sau 30 ngày kể từ hạn nộp mà tổ chức chưa nộp phí và tiền phạt, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có quyền yêu cầu Ngân hàng Nhà nước trích tài khoản tiền gửi của tổ chức tín dụng đó, hoặc yêu cầu các tổ chức tín dụng, kho bạc nơi tổ chức tham gia mở tài khoản để trích tài khoản chuyển nộp phí và tiền phạt.
- Chấm dứt bảo hiểm tiền gửi: Nếu không nộp phí quá 3 tháng, tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ quyết định chấm dứt bảo hiểm, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ra quyết định ngừng huy động tiền gửi cá nhân của tổ chức đó. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi vẫn có trách nhiệm bảo hiểm đối với số tiền gửi đã được bảo hiểm trong vòng 6 tháng kể từ ngày có quyết định chấm dứt bảo hiểm.
Chế độ thông tin, báo cáo và giám sát rủi ro
- Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp các báo cáo định kỳ theo quy định, gửi báo cáo tài chính năm trong vòng 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính, và phải báo cáo ngay khi gặp khó khăn về khả năng chi trả hoặc khi thay đổi nhân sự chủ chốt (Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng Giám đốc/Giám đốc).
- Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có quyền kiểm tra việc chấp hành các quy định về bảo hiểm tiền gửi; yêu cầu tổ chức tham gia thực hiện các biện pháp chấn chỉnh khi phát hiện vi phạm an toàn hoạt động ngân hàng và báo cáo Ngân hàng Nhà nước để xử lý khẩn cấp khi có nguy cơ mất khả năng chi trả.
- Thanh tra Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm cung cấp kết quả thanh tra, giám sát cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi và phối hợp xử lý các tổ chức có nguy cơ mất khả năng chi trả. Trường hợp tổ chức tín dụng bị đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt, Ban Kiểm soát đặc biệt phải thông báo định kỳ tình hình hoạt động cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi để phối hợp xử lý.
Biện pháp hỗ trợ tài chính
- Trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nguy cơ mất khả năng chi trả nhưng chưa đến mức bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể hỗ trợ dưới các hình thức: cho vay hỗ trợ chi trả, bảo lãnh các khoản vay đặc biệt, hoặc mua lại nợ có tài sản bảo đảm.
- Việc hỗ trợ tài chính chỉ được tiến hành sau khi xác định rằng việc tiếp tục hoạt động của tổ chức gặp khó khăn đó có vai trò quan trọng đối với sự an toàn của toàn hệ thống ngân hàng và sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội. Quyết định hỗ trợ do Hội đồng quản trị tổ chức bảo hiểm tiền gửi xem xét và quyết định.
Quy trình chi trả tiền bảo hiểm và xử lý khi phá sản
- Điều kiện chi trả: Khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấm dứt hoạt động bằng văn bản và mất khả năng thanh toán, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền theo hạn mức quy định (tối đa 30 triệu đồng).
- Xử lý phần tiền gửi vượt hạn mức: Số tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) vượt quá mức tối đa được bảo hiểm sẽ được trả cho người gửi tiền trong quá trình thanh lý tài sản của tổ chức bị phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản.
- Phương thức chi trả: Việc chi trả được thực hiện thông qua các ngân hàng hoặc theo thỏa thuận với người gửi tiền, căn cứ vào danh sách người gửi tiền được lập và các chứng từ hợp lệ.
- Hỗ trợ nguồn vốn chi trả: Nếu vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi tạm thời không đủ để hỗ trợ hoặc chi trả, tổ chức bảo hiểm tiền gửi báo cáo Ngân hàng Nhà nước để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét cho phép vay từ các tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác dưới sự bảo lãnh của Chính phủ.
- Địa vị pháp lý khi thanh lý tài sản: Khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản, tổ chức bảo hiểm tiền gửi trở thành chủ nợ đối với tổ chức đó với số tiền đã chi trả cho người gửi tiền, đồng thời được quyền tham gia vào quá trình quản lý và thanh lý tài sản theo quy định của Luật Phá sản. Số tiền thu hồi được từ việc thanh lý tài sản sẽ được bổ sung vào nguồn vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm hướng dẫn
Nghị định 89/1999/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi chịu trách nhiệm thi hành Nghị định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 89/1999/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 01 tháng 9 năm 1999 |
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 89/1999/NĐ-CP NGÀY 01 THÁNG 9 NĂM 1999 VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12 tháng 12 năm 1997;
Theo đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 2.Sửa đổi, bổ sung
Điều 3.Tiền gửi được bảo hiểm là Đồng Việt Nam của các cá nhân gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.Sửa đổi, bổ sung
Điều 4.Sửa đổi, bổ sung
2. Việc thay đổi số tiền bảo hiểm tối đa quy định tại khoản 1 điều này do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
3. Chế độ tài chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở đề nghị của Bộ Tài chính và ý kiến của Ngân hàng Nhà nước.
Điều 6.Sửa đổi, bổ sung
2. Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi được hạch toán khoản phí bảo hiểm tiền gửi vào chi phí hoạt động.
1. Yêu cầu Ngân hàng Nhà nước trích tài khoản tiền gửi của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước để chuyển nộp phí bảo hiểm tiền gửi và tiền phạt nếu là các tổ chức tín dụng.
2. Yêu cầu các tổ chức tín dụng, kho bạc nơi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi mở tài khoản, trích tài khoản để chuyển nộp phí bảo hiểm và tiền phạt nếu là tổ chức khác được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng.
2. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm bảo hiểm đối với số tiền gửi đã được bảo hiểm của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trong vòng 06 tháng kể từ ngày có quyết định chấm dứt bảo hiểm tiền gửi.
MỤC 2: VIỆC GIÁM SÁT RỦI RO VÀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ
a) Gặp khó khăn về khả năng chi trả;
b) Khi thay đổi các thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng Giám đốc (Giám đốc).
4. Trường hợp tổ chức tín dụng bị đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt, Ban Kiểm soát đặc biệt có trách nhiệm thông báo định kỳ về tình hình hoạt động của tổ chức đó cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi để phối hợp xử lý.
MỤC 3: HỖ TRỢ ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC THAM GIA BẢO HIỂM TIỀN GỬI MẤT KHẢ NĂNG CHI TRẢ
Điều 14.Sửa đổi, bổ sung
a) Cho vay hỗ trợ để chi trả tiền gửi được bảo hiểm;
b) Bảo lãnh cho các khoản vay đặc biệt để có nguồn chi trả tiền gửi được bảo hiểm;
c) Mua lại nợ trong trường hợp khoản nợ đó có tài sản bảo đảm.
2. Việc hỗ trợ nêu tại khoản 1 điều này do Hội đồng quản trị tổ chức bảo hiểm tiền gửi xem xét quyết định.
MỤC 4: VIỆC CHI TRẢ CÁC KHOẢN TIỀN GỬI ĐƯỢC BẢO HIỂM
Điều 16.Sửa đổi, bổ sung
2. Số tiền gửi (gồm gốc và lãi) vượt quá mức tối đa được tổ chức bảo hiểm tiền gửi chi trả sẽ được trả cho người gửi tiền trong quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phù hợp với quy định của Luật Phá sản.
Điều 17.Việc chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền được thực hiện thông qua các ngân hàng, hoặc theo thoả thuận với người gửi tiền.Sửa đổi, bổ sung
MỤC 5: QUẢN LÝ VÀ THANH LÝ TÀI SẢN ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC THAM GIA BẢO HIỂM TIỀN GỬI BỊ PHÁ SẢN.
Điều 22. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Điều 23. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm hướng dẫn việc thi hành Nghị định này.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1Thông tư 03/2006/TT-NHNN hướng dẫn Nghị định 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi và Nghị định 109/2005/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 89/1999/NĐ-CP do Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 2Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 3Luật các Tổ chức tín dụng 1997
- 4Thông tư 03/2000/TT-NHNN5 hướng dẫn thi hành Nghị định 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 5Quyết Định 145/2000/QĐ-TTG về quy chế quản lý tài chính đối với bảo hiểm tiền gửi việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 6Thông tư 12/2003/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 03/2000/TT-NHNN5 hướng dẫn thi hành Nghị định 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 7Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012
- 8Lệnh công bố Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012
Nghị định 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi
- Số hiệu: 89/1999/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 01/09/1999
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 36
- Ngày hiệu lực: 16/09/1999
- Ngày hết hiệu lực: 19/08/2013
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
