Nghị định 79/2021/NĐ-CP được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 97/2018/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2018 về cho vay lại vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ. Nghị định này tập trung điều chỉnh các quy định về tài sản bảo đảm, tỷ lệ cho vay lại đối với chính quyền địa phương, trách nhiệm của cơ quan được ủy quyền cho vay lại, chế độ báo cáo và các biện pháp xử lý nợ quá hạn nhằm tăng cường quản lý an toàn nợ công và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay nước ngoài.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình quản lý, sử dụng, cho vay lại và vay lại nguồn vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ. Đối tượng chịu tác động trực tiếp bao gồm Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập là bên vay lại; các cơ quan được ủy quyền cho vay lại và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ liên quan.
Quy định về tài sản bảo đảm tiền vay
Nghị định 79/2021/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến trị giá tài sản bảo đảm và các trường hợp miễn yêu cầu bảo đảm tiền vay như sau:
- Trị giá tài sản bảo đảm tối thiểu: Trị giá tài sản bảo đảm tiền vay phải đạt tối thiểu bằng 120% dư nợ của khoản vay lại đối với trường hợp bên vay lại là doanh nghiệp. Đối với bên vay lại là đơn vị sự nghiệp công lập, trị giá tài sản bảo đảm tối thiểu phải bằng 100% dư nợ của khoản vay lại.
- Trách nhiệm bổ sung tài sản bảo đảm: Trong quá trình thực hiện khoản vay lại, nếu giá trị của tài sản bảo đảm bị giảm xuống thấp hơn mức tối thiểu quy định nêu trên, bên vay lại có trách nhiệm phải bổ sung tài sản bảo đảm để duy trì đúng tỷ lệ quy định.
- Trường hợp không yêu cầu bảo đảm tiền vay: Việc bảo đảm tiền vay không áp dụng đối với hai trường hợp: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vay lại; hoặc các khoản vay do Ban quản lý dự án thuộc các Bộ nhận nợ, sau đó chuyển giao lại cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Tỷ lệ cho vay lại đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Tỷ lệ cho vay lại nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được xác định dựa trên khả năng cân đối ngân sách của từng địa phương, cụ thể:
- Tỷ lệ cho vay lại 10%: Áp dụng đối với các địa phương có tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương từ 70% trở lên.
- Tỷ lệ cho vay lại 30%: Áp dụng đối với các địa phương có tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương từ 50% đến dưới 70%.
- Tỷ lệ cho vay lại 50%: Áp dụng đối với các địa phương có tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương dưới 50%.
- Tỷ lệ cho vay lại 70%: Áp dụng đối với các địa phương có điều tiết về ngân sách trung ương (ngoại trừ thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh).
- Tỷ lệ cho vay lại 100%: Áp dụng riêng đối với thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Cơ chế đặc thù cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Đối với một số chương trình, dự án liên quan đến phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2021, Chính phủ sẽ quyết định tỷ lệ cho vay lại cụ thể nhưng không được thấp hơn 10%.
- Thẩm quyền quyết định tỷ lệ cho vay lại khác: Trường hợp cần áp dụng tỷ lệ cho vay lại khác cho các đối tượng đặc thù, Bộ Tài chính sẽ chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các cơ quan liên quan trình Chính phủ xem xét, quyết định đối với từng trường hợp cụ thể trên cơ sở đề nghị của cơ quan chủ quản và bên vay lại, đảm bảo tỷ lệ cho vay lại không thấp hơn 10%.
Trách nhiệm của cơ quan được ủy quyền cho vay lại không chịu rủi ro tín dụng
Nghị định bổ sung chi tiết các trách nhiệm của cơ quan được ủy quyền cho vay lại trong trường hợp không chịu rủi ro tín dụng, bao gồm:
- Thẩm định năng lực tài chính, phương án cho vay lại đối với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập và báo cáo kết quả thẩm định cho Bộ Tài chính, trong đó phải khẳng định rõ khả năng hoàn vốn của dự án và khả năng trả nợ của bên vay lại.
- Tổ chức, quản lý việc cho vay lại và thu hồi nợ đầy đủ, đúng hạn để hoàn trả cho Bộ Tài chính theo đúng hợp đồng ủy quyền và kết quả thẩm định.
- Thẩm định phương án bảo đảm tiền vay; thực hiện đăng ký, quản lý và xử lý tài sản thế chấp hoặc các tài sản bảo đảm khác theo quy định pháp luật.
- Kiểm tra việc sử dụng vốn vay thông qua hồ sơ giải ngân, trừ các khoản giải ngân đã được Kho bạc Nhà nước kiểm soát chi.
- Giám sát định kỳ và đột xuất khoản vay lại, tình hình tài chính của bên vay, cũng như tình hình khai thác, vận hành công trình đầu tư bằng vốn vay để báo cáo Bộ Tài chính.
- Thẩm định các đề xuất phương án xử lý nợ (nếu có) của bên vay lại và báo cáo kết quả thẩm định, kiến nghị phương án xử lý phù hợp gửi Bộ Tài chính trình cấp có thẩm quyền quyết định.
Thời hạn ký hợp đồng bảo đảm tiền vay và chế độ báo cáo
Để đảm bảo tính chặt chẽ trong quản lý dư nợ, Nghị định quy định rõ về thời hạn hoàn thành thủ tục bảo đảm và chế độ báo cáo định kỳ:
- Thời hạn ký hợp đồng bảo đảm: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng cho vay lại đối với bên vay lại là doanh nghiệp hoặc đơn vị sự nghiệp công lập, các bên phải hoàn thành việc ký kết hợp đồng bảo đảm tiền vay. Cơ quan được ủy quyền cho vay lại có trách nhiệm gửi bản sao hợp đồng bảo đảm tiền vay đã ký về Bộ Tài chính.
- Chế độ báo cáo của bên vay lại: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Tài chính; doanh nghiệp và đơn vị sự nghiệp công lập báo cáo cơ quan được ủy quyền cho vay lại định kỳ 02 lần/năm. Kỳ 1 báo cáo trước ngày 31/7 (cho giai đoạn từ 01/01 đến 30/6) và Kỳ 2 báo cáo trước ngày 15/02 năm sau (cho giai đoạn từ 01/7 đến 31/12). Nội dung báo cáo phải thể hiện rõ tình hình rút vốn, trả nợ, dư nợ, biến động tài sản bảo đảm, tình hình tài chính và tình hình vận hành dự án.
- Chế độ báo cáo của cơ quan được ủy quyền: Báo cáo Bộ Tài chính định kỳ 02 lần/năm. Kỳ 1 trước ngày 31/8 và Kỳ 2 trước ngày 28/02 năm sau, hoặc báo cáo đột xuất ngay khi phát sinh các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của dự án.
Biện pháp xử lý đối với nợ quá hạn
Đối với các khoản nợ quá hạn từ 02 kỳ đến 03 kỳ của bên vay lại là doanh nghiệp theo phương thức cơ quan được ủy quyền chịu rủi ro tín dụng, bên vay lại phải thực hiện duy trì số dư tài khoản tối thiểu chậm nhất 15 ngày trước kỳ trả nợ tiếp theo gần nhất:
- Duy trì số dư tài khoản tối thiểu bằng 02 kỳ trả nợ tiếp theo nếu khoản nợ bị quá hạn 02 kỳ.
- Duy trì số dư tài khoản tối thiểu bằng 03 kỳ trả nợ tiếp theo nếu khoản nợ bị quá hạn 03 kỳ.
Bãi bỏ quy định cũ
Nghị định 79/2021/NĐ-CP chính thức bãi bỏ khoản 3 Điều 17 của Nghị định số 97/2018/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2018.
Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp
- Hiệu lực thi hành: Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2021.
- Quy định chuyển tiếp đối với dự án mới: Các chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư, cơ chế tài chính và điều kiện cho vay lại trước ngày 01 tháng 10 năm 2021 được tiếp tục thực hiện theo các nội dung đã phê duyệt.
- Xử lý nợ quá hạn lịch sử: Đối với các khoản nợ vay lại quá hạn phát sinh trước ngày Luật Quản lý nợ công năm 2009 có hiệu lực mà đến nay chưa xử lý dứt điểm, cơ quan cho vay lại có trách nhiệm xây dựng phương án xử lý rủi ro cụ thể cho từng trường hợp, gửi Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 79/2021/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 16 tháng 8 năm 2021 |
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Luật Quản lý nợ công ngày 23 tháng 11 năm 2017;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 25 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Đầu tư công ngày 13 tháng 6 năm 2019;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 97/2018/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2018 về cho vay lại vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 97/2018/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2018 về cho vay lại vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ
1. Sửa đổi, bổ sung
“3. Trị giá tài sản bảo đảm tiền vay tối thiểu bằng 120% (một trăm hai mươi phần trăm) dư nợ của khoản vay lại trong trường hợp cho vay lại doanh nghiệp và bằng 100% (một trăm phần trăm) dư nợ của khoản vay lại trong trường hợp cho vay lại đơn vị sự nghiệp công lập. Trong quá trình thực hiện khoản vay lại, trường hợp giá trị của tài sản bảo đảm tiền vay giảm thấp hơn so với mức quy định nêu trên, bên vay lại có trách nhiệm bổ sung tài sản đảm bảo tiền vay nhằm đảm bảo mức tối thiểu.”
2. Sửa đổi, bổ sung
“4. Không yêu cầu bảo đảm tiền vay trong trường hợp sau:
a) Cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh vay lại;
b) Các khoản vay do Ban quản lý dự án thuộc các Bộ nhận nợ, sau đó chuyển cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.”
3. Sửa đổi
“1. Tỷ lệ cho vay lại đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
a) Địa phương có tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương từ 70% trở lên, tỷ lệ cho vay lại là 10% vốn vay ODA, vay ưu đãi;
b) Địa phương có tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương từ 50% đến dưới 70%, tỷ lệ cho vay lại là 30% vốn vay ODA, vay ưu đãi;
c) Địa phương có tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương dưới 50%, tỷ lệ cho vay lại là 50% vốn vay ODA, vay ưu đãi;
d) Địa phương có điều tiết về ngân sách trung ương (trừ thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh), tỷ lệ cho vay lại là 70% vốn vay ODA, vay ưu đãi;
đ) Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: tỷ lệ cho vay lại là 100% vốn vay ODA, vay ưu đãi;
e) Đối với một số chương trình, dự án liên quan đến phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu của một số địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long mà Chính phủ cần hỗ trợ theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2021 sẽ do Chính phủ quyết định tỷ lệ cho vay lại nhưng không thấp hơn 10%.”
4. Bổ sung
“c) Trường hợp áp dụng tỷ lệ cho vay lại khác cho các đối tượng quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều này, trong quá trình xây dựng cơ chế tài chính đối với nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi, trên cơ sở đề nghị của cơ quan chủ quản và bên vay lại, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan liên quan, trình Chính phủ xem xét, quyết định tỷ lệ cho vay lại đối với từng trường hợp cụ thể nhưng không thấp hơn 10%.”
5. Bổ sung
“3. Ngoài quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan được ủy quyền cho vay lại không chịu rủi ro tín dụng có trách nhiệm sau:
a) Thẩm định cho vay lại đối với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập và báo cáo kết quả thẩm định cho vay lại cho Bộ Tài chính, trong đó khẳng định khả năng hoàn vốn của dự án; khả năng trả nợ vốn vay lại của doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập;
b) Tổ chức, quản lý việc cho vay lại và thu hồi nợ cho vay lại, đảm bảo trả nợ đầy đủ, đúng hạn cho Bộ Tài chính theo kết quả thẩm định cho vay lại và hợp đồng ủy quyền cho vay lại;
c) Thẩm định phương án bảo đảm tiền vay, đăng ký, quản lý và xử lý tài sản thế chấp và các tài sản khác do bên vay lại dùng để bảo đảm tiền vay đối với khoản vay lại theo quy định của pháp luật về tài sản bảo đảm tiền vay;
d) Kiểm tra việc sử dụng vốn vay lại của Bên vay lại thông qua kiểm tra hồ sơ giải ngân vốn vay lại, trừ trường hợp khoản giải ngân đã được Kho bạc Nhà nước kiểm soát chi;
đ) Giám sát khoản vay lại, tình hình tài chính của Bên vay lại, tình hình khai thác, vận hành công trình được đầu tư bằng vốn vay lại, định kỳ và đột xuất thực hiện kiểm tra khoản vay lại, Bên vay lại và báo cáo kết quả cho Bộ Tài chính;
e) Thẩm định đối với đề xuất phương án xử lý nợ khoản vay lại (nếu có) của Bên vay lại và báo cáo kết quả thẩm định phương án xử lý nợ, kiến nghị rõ sự phù hợp hoặc không phù hợp của phương án xử lý nợ để gửi Bộ Tài chính báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét quyết định.”
6. Sửa đổi, bổ sung
“1. Trong vòng 30 ngày kể từ khi ký hợp đồng cho vay lại đối với bên vay lại là đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp, bên vay lại và cơ quan được ủy quyền cho vay lại ký kết hợp đồng bảo đảm tiền vay và cơ quan được ủy quyền cho vay lại gửi Bộ Tài chính bản sao Hợp đồng bảo đảm tiền vay đã ký kết.”
7. Sửa đổi, bổ sung
“1. Bên vay lại là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo cho Bộ Tài chính, bên vay lại là đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp báo cáo cho cơ quan được ủy quyền vay lại một năm hai lần, lần 1 không muộn hơn ngày 31/7 năm thực hiện cho kỳ báo cáo từ ngày 01/01 đến ngày 30/6 năm thực hiện và lần 2 không muộn hơn ngày 15/02 năm sau cho kỳ báo cáo từ ngày 01/7 đến ngày 31/12 năm thực hiện về tình hình cho vay lại với các nội dung sau:
a) Tình hình rút vốn, trả nợ, số dư nợ khoản vay lại;
b) Tình hình biến động tài sản đảm bảo tiền vay;
c) Tình hình tài chính, tình trạng nợ của bên vay lại bao gồm số dư nợ, số nợ quá hạn phát sinh (nếu có) với bất kỳ chủ nợ nào;
d) Tình hình thực hiện, vận hành, khai thác dự án đầu tư, tình hình quản lý, sử dụng tài sản của dự án đầu tư và tài sản hình thành từ vốn vay.”
8. Sửa đổi, bổ sung
“2. Cơ quan được ủy quyền cho vay lại báo cáo Bộ Tài chính một năm hai lần, lần 1 không muộn hơn ngày 31/8 năm thực hiện cho kỳ báo cáo từ ngày 01/01 đến ngày 30/6 năm thực hiện và lần 2 không muộn hơn ngày 28/02 năm sau cho kỳ báo cáo từ ngày 01/7 đến ngày 31/12 năm thực hiện hoặc ngay khi phát sinh vấn đề đột xuất ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của từng dự án vay lại, bên vay lại về các nội dung nêu tại khoản 1 Điều này.”
9. Sửa đổi, bổ sung
“b) Đối với nợ quá hạn từ 02 kỳ đến 03 kỳ: Bên vay lại là doanh nghiệp vay lại theo phương thức cơ quan được ủy quyền cho vay lại chịu rủi ro tín dụng, chậm nhất 15 ngày trước kỳ trả nợ tiếp theo gần nhất, phải duy trì số dư tài khoản với mức tối thiểu như sau:
- Bằng 02 kỳ trả nợ tiếp theo nếu nợ quá hạn 02 kỳ;
- Bằng 03 kỳ trả nợ tiếp theo nếu nợ quá hạn 03 kỳ.”
10. Sửa đổi, bổ sung
Điều 2. Bãi bỏ
1. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 2021.
2. Chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư, cơ chế tài chính, điều kiện cho vay lại trước ngày Nghị định này có hiệu lực được tiếp tục thực hiện theo phê duyệt của cấp có thẩm quyền.
3. Đối với các khoản nợ vay lại quá hạn của các chương trình, dự án vay vốn ODA và ưu đãi nước ngoài phát sinh trước ngày Luật Quản lý nợ công năm 2009 có hiệu lực nhưng đến nay vẫn chưa xử lý dứt điểm được, cơ quan cho vay lại xây dựng phương án xử lý rủi ro đối với từng trường hợp cụ thể, gửi Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp các cơ quan có liên quan để tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
- 1Công văn 8901/VPCP-QHQT năm 2020 về chuẩn bị Hội nghị trực tuyến toàn quốc về thực hiện, giải ngân ODA, vay ưu đãi nước ngoài do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 2Thông báo 385/TB-VPCP năm 2020 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về tình hình thực hiện, giải ngân các chương trình, dự án ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3Công văn 4898/VPCP-QHQT năm 2021 về báo cáo giải ngân vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài năm 2020 do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 1Luật Quản lý nợ công 2009
- 2Luật ngân sách nhà nước 2015
- 3Luật tổ chức Chính phủ 2015
- 4Luật Quản lý nợ công 2017
- 5Luật Đầu tư công 2019
- 6Luật Tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương sửa đổi 2019
- 7Công văn 8901/VPCP-QHQT năm 2020 về chuẩn bị Hội nghị trực tuyến toàn quốc về thực hiện, giải ngân ODA, vay ưu đãi nước ngoài do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 8Thông báo 385/TB-VPCP năm 2020 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về tình hình thực hiện, giải ngân các chương trình, dự án ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 9Nghị quyết 41/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 năm 2021
- 10Công văn 4898/VPCP-QHQT năm 2021 về báo cáo giải ngân vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài năm 2020 do Văn phòng Chính phủ ban hành
Nghị định 79/2021/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 97/2018/NĐ-CP về cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ
- Số hiệu: 79/2021/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 16/08/2021
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phạm Bình Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 725 đến số 726
- Ngày hiệu lực: 01/10/2021
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
