Nghị định 74-HĐBT do Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1982 quy định chi tiết về quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thống nhất trang phục, nâng cao tính chính quy, kỷ luật và danh dự của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam trong giai đoạn mới.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Các quy định về quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục tại Nghị định này được áp dụng thống nhất cho toàn bộ sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ đang tại ngũ, lực lượng dự bị, cũng như những sĩ quan đã chuyển ngành hoặc xuất ngũ nhưng được phép mặc quân phục theo quy định cụ thể của Bộ Quốc phòng.
Quy định chi tiết về Quân hiệu (Điều 1)
Quân hiệu của sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc các quân chủng, binh chủng và bộ đội biên phòng trong Quân đội nhân dân Việt Nam được thiết kế theo quy chuẩn thống nhất:
- Hình dáng và màu sắc: Quân hiệu hình tròn, ở giữa có ngôi sao năm cánh màu vàng nổi bật trên nền đỏ tươi. Xung quanh ngôi sao có hai bông lúa vàng ôm lấy, phía dưới nơi hai bông lúa giao nhau là hình nửa bánh xe màu vàng. Đường vành ngoài cùng của quân hiệu cũng có màu vàng.
- Kích thước tiêu chuẩn: Quân hiệu được sản xuất và sử dụng theo hai loại đường kính là 36 ly (36mm) và 26 ly (26mm).
Màu sắc nền phù hiệu và đường viền cấp hiệu (Điều 2)
Để phân biệt rõ ràng giữa các quân chủng, lực lượng và đối tượng quân nhân, màu nền của phù hiệu và màu đường viền của cấp hiệu được phân định cụ thể như sau:
- Lục quân: Sử dụng màu đỏ tươi.
- Không quân và Phòng không: Sử dụng màu xanh da trời.
- Hải quân: Sử dụng màu tím than.
- Bộ đội biên phòng: Sử dụng màu xanh lá cây.
- Quân nhân chuyên nghiệp: Sử dụng màu ghi sáng.
Hệ thống Cấp hiệu của Quân đội nhân dân Việt Nam (Điều 3)
Cấp hiệu là dấu hiệu nhận biết cấp bậc quân hàm của quân nhân, được quy định chi tiết cho từng nhóm đối tượng:
1. Cấp hiệu của sĩ quan và chuẩn úy:
Được đeo ở vai áo, nền cấp hiệu màu vàng tươi, có đường viền xung quanh theo màu sắc đặc trưng của từng quân chủng hoặc bộ đội biên phòng. Trên cấp hiệu bố trí sao và cúc để phân định cấp bậc:
- Cấp Thiếu (Thiếu úy, Thiếu tá, Thiếu tướng, Chuẩn đô đốc hải quân): Đeo 1 sao.
- Cấp Trung (Trung úy, Trung tá, Trung tướng, Phó đô đốc hải quân): Đeo 2 sao.
- Cấp Thượng (Thượng úy, Đại tá, Thượng tướng, Đô đốc hải quân): Đeo 3 sao.
- Cấp Đại (Đại úy, Đại tướng): Đeo 4 sao.
- Sao và cúc cấp tướng: Sao màu vàng, cúc dập nổi hình Quốc huy màu vàng.
- Sao và cúc cấp tá, cấp úy: Sao màu bạc, cúc dập nổi hình ngôi sao giữa hai bông lúa màu bạc.
- Vạch cấp hiệu: Cấp tá có 2 vạch ngang màu bạc; cấp úy có 1 vạch ngang màu bạc.
- Chuẩn úy: Cấp hiệu tương tự cấp úy nhưng không có sao trên nền.
2. Cấp hiệu của hạ sĩ quan và binh sĩ:
- Lục quân, Không quân, Phòng không, Hải quân đánh bộ và Bộ đội biên phòng: Đeo ở vai áo, nền cấp hiệu màu xám nhạt, viền theo màu quân chủng. Cúc màu bạc có hình sao giữa hai bông lúa. Cấp bậc được phân biệt bằng vạch ngang hoặc chữ V màu đỏ: Binh nhì (1 chữ V), Binh nhất (2 chữ V), Hạ sĩ (1 vạch ngang), Trung sĩ (2 vạch ngang), Thượng sĩ (3 vạch ngang).
- Hạ sĩ quan, binh sĩ Hải quân (khi mặc quân phục kiểu áo có yếm): Đeo ở bả vai, nền cấp hiệu màu tím than, sử dụng vạch màu vàng để phân biệt cấp bậc: Binh nhì (1 vạch ngang ở một đầu, giữa có phù hiệu hải quân), Binh nhất (2 vạch ngang ở hai đầu, giữa có phù hiệu hải quân), Hạ sĩ (1 vạch ngang ở giữa), Trung sĩ (2 vạch ngang cân đối ở giữa), Thượng sĩ (3 vạch ngang cân đối ở giữa).
3. Cấp hiệu của học viên quân sự:
- Học viên đã là sĩ quan hoặc chuẩn úy: Giữ nguyên cấp hiệu sĩ quan hoặc chuẩn úy đang có.
- Học viên chưa phải là sĩ quan: Nền cấp hiệu theo màu quân chủng, cúc màu bạc có hình sao giữa hai bông lúa. Trong đó, học viên các trường đào tạo sĩ quan sơ cấp có nền màu vàng; học viên các trường đào tạo hạ sĩ quan thì cấp hiệu không có đường viền.
Hệ thống Phù hiệu và hình phù hiệu các binh chủng, ngành nghề (Điều 4)
Phù hiệu được đeo ở ve cổ áo khi quân nhân đeo cấp hiệu ở vai áo. Nền phù hiệu có màu sắc tương ứng với quân chủng, bộ đội biên phòng hoặc quân nhân chuyên nghiệp. Riêng phù hiệu của cấp tướng có thêm đường viền màu vàng ở ba cạnh. Hình ảnh biểu tượng trên phù hiệu của từng binh chủng, ngành nghề chuyên môn được quy định cụ thể:
- Binh chủng hợp thành và Bộ binh: Hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo.
- Bộ binh cơ giới: Hình xe bọc thép đặt trên thanh kiếm và khẩu súng chéo.
- Đặc công: Hình dao găm đặt trên khối bộc phá, phía dưới có mũi tên vòng.
- Xe tăng, xe bọc thép: Hình xe tăng.
- Pháo binh và Phòng không: Hình hai khẩu pháo đặt chéo.
- Hóa học: Hình tia phóng xạ đè lên hình nhân ben-zen.
- Công binh: Hình cuốc, xẻng đặt trên nửa bánh xe.
- Thông tin: Hình sóng điện.
- Bộ đội biên phòng: Hình móng ngựa đặt trên thanh kiếm và khẩu súng chéo.
- Quân chủng không quân: Hình ngôi sao đặt trên đôi cánh chim.
- Bộ đội nhảy dù: Hình máy bay trên chiếc dù đang mở.
- Tên lửa: Hình tên lửa trên nền mây.
- Cao xạ: Hình khẩu pháo cao xạ.
- Ra đa: Hình thiết bị ra đa trên bệ đỡ.
- Quân chủng hải quân: Hình mỏ neo.
- Hải quân đánh bộ: Hình mỏ neo đặt trên thanh kiếm và khẩu súng chéo.
- Ngành hậu cần, tài vụ: Hình thanh kiếm và khẩu súng chéo, phía dưới có bông lúa.
- Quân y, thú y: Hình chữ thập đỏ nằm trong hình tròn.
- Ngành kỹ thuật: Hình com-pa đặt trên chiếc búa.
- Lái xe: Hình tay lái đặt trên díp xe.
- Quân pháp, kiểm soát quân sự: Hình chiếc mộc đặt trên hai thanh kiếm chéo.
- Quân nhạc: Hình chiếc kèn và sáo đặt chéo.
- Thể công: Hình cung tên.
- Văn công: Hình ký hiệu âm nhạc và cây đàn nguyệt.
Cấp hiệu kết hợp phù hiệu đeo ở ve cổ áo (Điều 5)
Trong trường hợp không đeo cấp hiệu ở vai áo, quân nhân sử dụng cấp hiệu kết hợp phù hiệu đeo trực tiếp ở ve cổ áo. Loại trang bị này tích hợp cả hình biểu tượng binh chủng, ngành nghề và các ký hiệu sao, vạch để nhận biết cấp bậc:
- Cấp tướng: Có đường viền màu vàng ở ba cạnh của phù hiệu.
- Cấp tá và cấp úy: Không có đường viền, phân biệt bằng vạch màu bạc (cấp tá có 2 vạch, cấp úy có 1 vạch).
- Hạ sĩ quan: Sử dụng vạch chỉ màu vàng để phân biệt.
- Binh sĩ: Không có vạch trên phù hiệu.
- Học viên sĩ quan sơ cấp: Có một vạch dọc màu vàng rộng 6 ly ở giữa, có hình binh chủng hoặc ngành nghề, không có sao.
- Học viên hạ sĩ quan: Có một vạch dọc màu vàng rộng 3 ly ở giữa, có hình binh chủng hoặc ngành nghề, không có sao.
Quy chuẩn Lễ phục của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (Điều 6)
Lễ phục được sử dụng trong các dịp trọng đại như ngày lễ lớn (1-5, 2-9, 22-12), Đại hội Đảng toàn quốc, các buổi lễ ngoại giao hoặc ngày Quốc tang. Sĩ quan cấp tướng và cấp tá mặc lễ phục theo quy chuẩn thống nhất (mùa hè màu xám nhạt, mùa đông màu cỏ úa thẫm):
1. Đối với cấp tướng:
- Mũ kê-pi: Có đường viền màu đỏ, quai tết màu vàng và hai cành tùng bao quanh quân hiệu.
- Áo ngoài: Thiết kế cổ mở, một hàng cúc màu vàng dập hình sao giữa hai bông lúa. Áo có hai túi dưới chìm, cổ áo viền theo màu quân chủng hoặc biên phòng. Ve cổ áo đính cành tùng và một ngôi sao vàng.
- Quần: Giữ nguyên như quân phục thường dùng.
- Áo sơ-mi bên trong: Màu trắng, dài tay, cổ đứng.
- Phụ kiện đi kèm: Cra-vát màu đen, tất tay màu trắng, giày da màu đen kèm tất.
2. Đối với cấp tá:
Lễ phục tương tự như cấp tướng, tuy nhiên có hai điểm khác biệt lớn để phân cấp:
- Mũ kê-pi không có hai cành tùng bao quanh quân hiệu.
- Ve cổ áo không có ngôi sao vàng, thay vào đó là hình phù hiệu quân chủng, binh chủng hoặc ngành nghề chuyên môn được đeo trực tiếp phía trong cành tùng.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng được giao thẩm quyền quy định chi tiết về lễ phục của cấp úy, việc sử dụng lễ phục trong các dịp khác và các loại trang phục thường dùng khác của quân đội.
Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp (Điều 7, 8, 9)
Nghị định 74-HĐBT năm 1982 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Nghị định này chính thức bãi bỏ Điều lệ quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục ban hành kèm theo Nghị định số 307-TTg ngày 20-6-1958, cùng tất cả các quy định trước đây trái với nội dung của Nghị định này. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra việc thi hành nghiêm túc các quy định tại Nghị định này trong toàn quân.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 74-HĐBT | Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 1982 |
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4-7-1981;
Căn cứ Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ngày 30 tháng 12 năm 1981;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
NGHỊ ĐỊNH :
Quân hiệu có hai loại đường kính 36 ly và 26 ly.
- Lục quân màu đỏ tươi.
- Không quân, phòng không màu xanh da trời.
- Hải quân màu tím than.
- Bội đội biên phòng màu xanh lá cây.
Điều 3.- Cấp hiệu của sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ và học viên thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam:
1. Cấp hiệu của các sĩ quan và chuẩn uý:
Cấp hiệu của sĩ quan đeo ở vai áo, nền cấp hiệu màu vàng tươi có viền theo màu quân chủng và bộ đội biên phòng như quy định ở Điều 2, trên cấp hiệu có sao và cúc:
Thiếu uý, thiếu tá, thiếu tướng, chuẩn đô đốc hải quân 1 sao.
Trung uý, trung tá, trung tướng, phó đô đốc hải quân 2 sao.
Thượng uý, đại tá, thượng tướng, đô đốc hải quân 3 sao.
Đại uý, đại tướng 4 sao.
Sao của các cấp tướng màu vàng, cúc có hình Quốc huy, màu vàng.
Sao của cấp tá và cấp uý màu bạc, cúc có hình sao giữa 2 bông lúa, màu bạc.
Cấp hiệu của cấp tá có 2 vạch ngang màu bạc; cấp uý 1 vạch.
2. Cấp hiệu của hạ sĩ quan, binh sĩ:
a) Cấp hiệu của hạ sĩ quan, binh sĩ lục quân, không quân, phòng không, hải quân đánh bộ và bộ đội biên phòng đeo ở vai áo, nền cấp hiệu màu xám nhạt có viền theo màu của từng quân chủng và bộ đội biên phòng như quy định ở điều 2, trên cấp hiệu có cúc màu bạc, có hình sao giữa 2 bông lúa màu bạc, có vạch ngang hoặc chữ V màu đỏ để phân biệt cấp bậc:
- Binh nhì 1chữ V.
- Binh nhất 2 chữ V.
- Hạ sĩ 1 vạch ngang.
- Trung sĩ 2 vạch ngang.
- Thượng sĩ 3 vạch ngang.
b) Cấp hiệu của hạ sĩ quan, binh sĩ hải quân khi mặc quân phục kiểu áo có yếm, đeo ở bả vai, nền cấp hiệu màu tím than, có vạch màu vàng để phân biệt cấp bậc:
- Binh nhì 1vạch ngang ở một đầu cấp hiệu, giữa có hình phù hiệu hải quân.
- Binh nhất 2 vạch ngang ở hai đầu cấp hiệu, giữa có hình phù hiệu hải quân.
- Hạ sĩ 1 vạch ngang ở giữa cấp hiệu.
- Trung sĩ 2 vạch ngang cân đối ở giữa cấp hiệu.
- Thượng sĩ 3 vạch ngang cân đối ở giữa cấp hiệu.
3. Cấp hiệu của học viên:
a) Cấp hiệu của học viên đã là sĩ quan và chuẩn uý như cấp hiệu của sĩ quan và chuẩn uý đã quy định ở điểm 1, Điều 3.
b) Cấp hiệu của học viên chưa phải là sĩ quan, nền cấp hiệu theo màu của từng quân chủng và bộ đội biên phòng, có cúc màu bạc, có hình sao giữa 2 bông lúa màu bạc.
- Học viên các trường đào tạo sĩ quan sơ cấp màu vàng.
- Học viên các trường đào tạo hạ sĩ quan không có viền.
Điều 4.- Phù hiệu của Quân đội nhân dân Việt Nam.
1. Khi đeo cấp hiệu ở vai áo, có phù hiệu đeo ở ve cổ áo, trên nền phù hiệu có hình quân chủng, binh chủng, ngành nghề chuyên môn. Nền phù hiệu theo màu của từng quân chủng, bộ đội biên phòng và quân nhân chuyên nghiệp như quy định ở điều 2. Phù hiệu cấp tướng có viền vàng ở 3 cạnh.
2. Hình phù hiệu của quân chủng, binh chủng, ngành nghề chuyên môn có:
- Binh chủng hợp thành, bộ binh: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo;
- Bộ binh cơ giới: hình xe bọc thép trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo;
- Đặc công: hình dao găm đặt trên một khối bộc phá dưới có mũi tên vòng;
- Xe tăng, xe bọc thép: hình xe tăng;
- Pháo binh: hình 2 khẩu pháo đặt chéo;
- Hoá học: hình tia phóng xạ trên hình nhân ben-zen.
- Công binh: hình cuốc, xẻng trên nửa bánh xe;
- Thông tin: hình sóng điện;
- Bộ đội biên phòng: hình móng ngựa trên thanh kiếm và khấu súng đặt chéo;
- Quân chủng không quân: hình sao trên đôi cánh chim;
- Bộ đội nhảy dù: hình máy bay trên dù đang mở;
- Quân chủng phòng không: hình 2 khẩu pháo đặt chéo;
- Tên lửa: hình tên lửa trên nền mây;
- Cao xạ: hình khẩu pháo cao xạ;
- Ra đa: hình ra đa trên bệ;
- Quân chủng hải quân: hình mỏ neo;
- Hải quân đánh bộ: hình mỏ neo trên thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo;
- Ngành hậu cần, tài vụ: hình thanh kiếm và khẩu súng đặt chéo, dưới có bông lúa;
- Quân y, thú y: hình chữ thập đỏ trên hình tròn;
- Ngành kỹ thuật: hình com-pa đặt trên chiếc búa.
- Lái xe: hình tay lái trên díp xe;
- Quân pháp, kiểm soát quân sự: hình mộc trên 2 thanh kiếm đặt chéo;
- Quân nhạc: hình chiếc kèn và sáo đặt chéo;
- Thể công: hình cung tên;
- Văn công: hình ký hiệu âm nhạc và đàn nguyệt.
Điều 5.- Cấp hiệu kết hợp phù hiệu của Quân đội nhân dân Việt Nam:
a) Cấp hiệu kết hợp phù hiệu đeo ở ve cổ áo (khi không đeo cấp hiệu ở vai), có hình quân chủng, binh chủng hoặc ngành nghề chuyên môn, có sao, vạch để phân biệt cấp bậc:
- Cấp tướng viền vàng ở 3 cạnh.
- Cấp tá và cấp uý không có viền, chỉ có vạch bạc: cấp tá 2 vạch, cấp uý một vạch.
- Hạ sĩ quan có vạch chỉ vàng.
- Binh sĩ không có vạch.
b) Cấp hiệu kết hợp phù hiệu của học viên các trường đào tạo sĩ quan sơ cấp có một vạch dọc màu vàng rộng 6 ly, ở giữa có hình quân chủng binh chủng hoặc ngành nghề chuyên môn, không có sao.
c) Cấp hiệu kết hợp phù hiệu của học viên các trường đào tạo hạ sĩ quan có 1 vạch dọc màu vàng 3 ly, ở giữa có hình quân chủng, binh chủng hoặc ngành nghề chuyên môn, không có sao.
Điều 6.- Lễ phục của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam:Sửa đổi, bổ sung
1. Khi dự các ngày lễ 1-5, 2-9, 22-12. Đại hội đảng toàn quốc hoặc đi dự lễ ngoại giao, ngày Quốc tang, sĩ quan cấp tướng và cấp tá mặc lễ phục mùa hè màu xám nhạt, mùa đông màu cỏ úa thẫm, theo kiểu thông nhất:
a) Cấp tướng:
- Mũ kê-pi có viền đỏ, có quai tết màu vàng, có hai cành tùng bao quanh quân hiệu.
- Áo ngoài cổ mở, một hàng cúc màu vàng có hình sao giữa hai bông lúa, hai túi dưới chìm, cổ áo viền theo màu của từng quân chủng và và bộ đội biên phòng, trên ve cổ áo có cành tùng và một ngôi sao vàng.
- Quần như quân phục thường.
- Áo sơ-mi màu trắng, dài tay, cổ đứng.
- Cra-vát đen, tất tay trắng.
- Giầy đen có tất.
b) Cấp tá: Lễ phục của cấp tá như của cấp tướng, chỉ khác:
- Mũ kê-pi không có cành tùng bao quanh quân hiệu;
- Ve cổ áo không có ngôi sao vàng, nhưng có hình quân chủng, binh chủng hoặc ngành nghề chuyên môn (đeo trực tiếp vào ve áo phía trong cành tùng).
2. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm quy định lễ phục của cấp uý, việc mặc lễ phục trong các ngày lễ khác và các trang phục thường dùng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Điều 7.- Các quy định về quân hiệu.
Cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục trong nghị định này áp dụng cho cả sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ, dự bị và những sĩ quan đã chuyển ra ngoài quân đội được phép mặc quân phục theo quy định của Bộ Quốc phòng.
Điều 9.- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.
| Tố Hữu (Đã ký) |
- 1Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam 1999
- 2Nghị định 52/2002/NĐ-CP quy định phân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam
- 3Nghị định 307-TTg năm 1958 về điều lệ quy định quân hiệu cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1Nghị định 78-HĐBT năm 1991 sửa đổi Nghị định 74-HĐBT năm 1982 quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam
- 2Nghị định 94-CP năm 1993 sửa đổi Nghị định 74-HĐBT năm 1982 quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của quân đội nhân dân Việt nam.
- 3Nghị định 61-CP năm 1996 sửa đổi quy định cấp hiệu, phù hiệu và quân hàm của quân nhân chuyên nghiệp
- 4Nghị định 52/2002/NĐ-CP quy định phân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam
- 5Nghị định 307-TTg năm 1958 về điều lệ quy định quân hiệu cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Nghị định 74-HĐBT năm 1982 quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 74-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 26/04/1982
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Tố Hữu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 25
- Ngày hiệu lực: 11/05/1982
- Ngày hết hiệu lực: 14/05/2002
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
