Nghị định 66-CP được ban hành bởi Chính phủ do Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký, quy định tạm thời về chế độ bảo hiểm xã hội đối với lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Văn bản này thiết lập các chính sách bảo hiểm xã hội đặc thù nhằm bảo đảm quyền lợi cho quân nhân và công an nhân dân trong các trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.
Phạm vi và đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội
Nghị định quy định rõ đối tượng áp dụng bao gồm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc Quân đội nhân dân (gọi chung là quân nhân) và sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc Công an nhân dân (gọi chung là công an nhân dân). Tùy thuộc vào phương thức hưởng chế độ tài chính, các đối tượng được áp dụng các quyền lợi khác nhau:
- Đối với quân nhân và công an nhân dân thuộc diện hưởng lương: Được áp dụng đầy đủ cả 5 chế độ bảo hiểm xã hội bao gồm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.
- Đối với quân nhân và công an nhân dân thuộc diện hưởng sinh hoạt phí: Chỉ được áp dụng 2 chế độ là trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp và chế độ tử tuất.
- Điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội dựa trên thời gian đóng bảo hiểm xã hội, tuổi đời hoặc mức độ suy giảm khả năng lao động. Toàn bộ thời gian công tác của lực lượng vũ trang trước ngày ban hành Nghị định này đều được tính là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
- Quyền hưởng bảo hiểm xã hội sẽ bị tạm thời đình chỉ hoặc hủy bỏ trong các trường hợp: bị tù giam, có hành vi gian dối để trục lợi bảo hiểm, đào ngũ, hoặc ra nước ngoài/ở lại nước ngoài bất hợp pháp.
Chế độ trợ cấp ốm đau đối với lực lượng vũ trang
- Quân nhân và công an nhân dân hưởng lương khi gặp ốm đau, tai nạn rủi ro (không phải tai nạn lao động) và điều trị tại các cơ sở y tế được hưởng trợ cấp ốm đau thay thế tiền lương bằng 100% mức tiền lương hiện hưởng. Trường hợp điều trị tại bệnh viện dân y, Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Nội vụ sẽ thực hiện thanh toán viện phí theo quy định.
- Chế độ chăm sóc con ốm đau: Nữ quân nhân và nữ công an nhân dân có con thứ nhất hoặc thứ hai bị ốm đau (có xác nhận của cơ sở y tế) được nghỉ việc chăm con và hưởng trợ cấp bằng 85% mức lương. Thời gian hưởng tối đa là 15 ngày/năm đối với con dưới 36 tháng tuổi và 12 ngày/năm đối với con từ 36 đến 72 tháng tuổi. Trường hợp đặc biệt, người bố nghỉ việc chăm con cũng được hưởng quyền lợi tương tự.
Chế độ trợ cấp thai sản
- Nữ quân nhân và nữ công an nhân dân khi mang thai và sinh con thứ nhất, thứ hai được nghỉ việc khám thai 3 lần, mỗi lần 1 ngày (trường hợp đặc biệt được nghỉ 2 ngày).
- Trường hợp sẩy thai được nghỉ 20 ngày nếu thai dưới 3 tháng, nghỉ 30 ngày nếu thai từ 3 tháng trở lên.
- Thời gian nghỉ sinh con trước và sau khi sinh là 150 ngày. Nếu sinh đôi trở lên, từ con thứ hai trở đi, người mẹ được nghỉ thêm 30 ngày cho mỗi con.
- Trường hợp nuôi con nuôi sơ sinh hợp pháp được nghỉ việc hưởng trợ cấp cho đến khi con đủ 120 ngày tuổi.
- Mức trợ cấp thai sản bằng 100% mức tiền lương hiện hưởng. Ngoài ra, khi sinh con, nữ quân nhân, công an còn được nhận thêm một khoản trợ cấp bằng 1 tháng tiền lương.
- Quân nhân và công an nhân dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình được hưởng các chế độ theo quy định chung của Nhà nước.
Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
- Trong thời gian điều trị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, đối tượng được hưởng trợ cấp bằng 100% tiền lương; toàn bộ chi phí khám chữa bệnh do Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Nội vụ chi trả.
- Sau khi điều trị ổn định, tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động để giải quyết chế độ trợ cấp một lần hoặc hàng tháng:
- Trợ cấp một lần (suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 60%): Suy giảm 5% - 20% hưởng 2 tháng lương; từ 21% - 30% hưởng 4 tháng lương; từ 31% - 40% hưởng 6 tháng lương; từ 41% - 50% hưởng 9 tháng lương; từ 51% - 60% hưởng 12 tháng lương.
- Trợ cấp hàng tháng (suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 100%): Được xếp hạng từ hạng 4 đến hạng 1 với mức trợ cấp tương ứng từ 50% đến 80% mức tiền lương. Người xếp hạng 1 và hạng 2 không tự phục vụ được sinh hoạt cá nhân được hưởng thêm phụ cấp phục vụ. Người có mức lương cao hơn mức trung bình của viên chức Nhà nước được trợ cấp thêm một lần từ 1 đến 3 tháng lương hiện hưởng.
- Người hưởng trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp hàng tháng được đài thọ toàn bộ bảo hiểm y tế và được cấp phương tiện hỗ trợ phục hồi chức năng một lần. Khi thương tật hoặc bệnh tật tái phát, đối tượng được điều trị và giám định lại khả năng lao động.
- Trường hợp tử vong do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp khi làm nhiệm vụ, gia đình được hưởng chế độ tử tuất và nhận trợ cấp một lần bằng 12 tháng tiền lương trung bình của viên chức Nhà nước.
Chế độ hưu trí đối với lực lượng vũ trang
- Điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng: Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi và có từ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên. Đối với trường hợp có 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại hoặc 10 năm ở chiến trường thì độ tuổi giảm xuống còn nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi. Nam đủ 50 tuổi có 30 năm tuổi quân, nữ đủ 45 tuổi có 25 năm tuổi quân cũng đủ điều kiện hưởng chế độ này. Ngoài ra, các trường hợp đủ điều kiện theo Luật Sĩ quan, Điều lệ Quân nhân chuyên nghiệp và Pháp lệnh về Lực lượng An ninh, Cảnh sát cũng được giải quyết hưu trí.
- Quyền lợi hưu trí: Người nghỉ hưu được nhận một khoản trợ cấp một lần trước khi nghỉ hưu tùy thuộc vào thời gian đóng bảo hiểm. Lương hưu hàng tháng được tính dựa trên mức lương cấp hàm, lương chuyên nghiệp, phụ cấp thâm niên và phụ cấp chức vụ (nếu có), mức hưởng tối đa bằng 75% mức lương bình quân của 10 năm trước khi nghỉ hưu. Người hưởng lương hưu được đài thọ hoàn toàn bảo hiểm y tế.
- Đối với quân nhân và công an nhân dân hưởng chế độ hưu trí trước ngày ban hành Nghị định này thì được giữ nguyên chế độ đang hưởng và được điều chỉnh từng bước theo quy định mới của Chính phủ.
Chế độ tử tuất
- Trợ cấp mai táng: Khi quân nhân, công an nhân dân tại ngũ hoặc đang hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng qua đời, người lo mai táng được nhận khoản trợ cấp bằng 7 tháng tiền lương tối thiểu của viên chức Nhà nước.
- Trợ cấp tuất hàng tháng: Áp dụng cho thân nhân trực tiếp nuôi dưỡng (con dưới 16 tuổi, vợ hoặc chồng, bố mẹ đã hết tuổi lao động) của người chết thuộc diện đóng bảo hiểm xã hội từ 15 năm trở lên, người chết do tai nạn lao động/bệnh nghề nghiệp hoặc người đang hưởng lương hưu, trợ cấp hàng tháng.
- Trợ cấp tuất một lần: Áp dụng khi người chết không có thân nhân đủ điều kiện hưởng tuất hàng tháng hoặc chưa đóng đủ 15 năm bảo hiểm xã hội. Nếu chết khi đang tại ngũ, mức trợ cấp tính bằng mức lương hiện hưởng nhân với số năm đóng bảo hiểm xã hội (tối thiểu bằng 6 tháng lương tối thiểu). Nếu đang hưởng trợ cấp hàng tháng mà chết, mức trợ cấp một lần bằng từ 3 đến 12 tháng mức trợ cấp đang hưởng.
Nguồn tài chính bảo đảm và tổ chức thực hiện
- Nguồn kinh phí chi trả bảo hiểm xã hội được hình thành từ sự đóng góp của quân nhân, công an nhân dân hưởng lương với mức đóng bằng 5% tiền lương cấp hàm hoặc cấp bậc và phụ cấp thâm niên. Phần kinh phí còn lại do Ngân sách Nhà nước bảo đảm.
- Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý, chi trả và hướng dẫn thực hiện chi tiết các chế độ này.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 66-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 4 năm 1993. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 66-CP | Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 1993 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội.
NGHỊ ĐỊNH:
1. Chế độ trợ cấp ốm đau;
2. Chế độ trợ cấp thai sản;
3. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp;
4. Chế độ hưu trí;
5. Chế độ tử tuất.
Điều 2.- Các chế độ bảo hiểm xã hội quy định tại
1. Đối với quân nhân và công an nhân dân thuộc diện hưởng lương được áp dụng cả 5 chế độ bảo hiểm.
2. Đối với quân nhân và công an nhân dân thuộc diện hưởng sinh hoạt phí được hưởng 2 chế độ trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp và chế độ tử tuất.
Thời gian công tác của quân nhân và công an nhân dân trước ngày ban hành Nghị định này được coi là thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
Điều 4.- Quyền hưởng bảo hiểm xã hội bị tạm thời đình chỉ hoặc huỷ bỏ:
- Trong thời gian bị tù giam;
- Khi có hành vi giam dối để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội;
- Khi đào ngũ;
- Khi ra nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài không hợp pháp.
Nếu phải điều trị ở các bệnh viện dân y thì Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Nội vụ thanh toán viện phí theo chế độ thu một phần viện phí.
1. Thời gian được hưởng trợ cấp hàng năm khi con ốm đau:
- 15 ngày đối với con dưới 36 tháng tuổi;
- 12 ngày đối với con từ 36 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi.
2. Mức trợ cấp thay tiền lương bằng 85% mức tiền lương.
Trường hợp đặc biệt mà người bố phải nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau thì được hưởng trợ cấp như đối với người mẹ.
1. Thời gian hưởng trợ cấp thai sản:
a) Được nghỉ việc đi khám thai 3 lần, mỗi lần 1 ngày (trường hợp đặc biệt được nghỉ 2 ngày).
b) Sẩy thai được nghỉ 20 ngày nếu thai dưới 3 tháng, 30 ngày nếu thai từ 3 tháng trở lên.
c) Trước và sau khi sinh được nghỉ 150 ngày.
Nếu một lần sinh nhiều con thì tính từ con thứ hai trở đi, mỗi con người mẹ được nghỉ thêm 30 ngày.
d) Trường hợp nuôi con sơ sinh hợp pháp, được nghỉ việc đến khi con đủ 120 ngày tuổi và hưởng trợ cấp thay tiền lương.
2. Mức trợ cấp thai sản bằng 100% mức tiền lương.
Ngoài ra, khi sinh con còn được trợ cấp thêm một tháng tiền lương.
3. Quân nhân và công an nhân dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình, được hưởng chế độ theo quy định chung của Nhà nước.
1. Tuỳ theo mức độ thương tật hoặc bệnh tật được trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hàng tháng, mức trợ cấp này được tính trên cơ sở mức tiền lương trung bình của viên chức Nhà nước.
a) Bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 60% thì được trợ cấp một lần theo các mức sau:
Mức suy giảm khả năng lao động Mức trợ cấp một lần
Từ 5% đến 20% 2 tháng tiền lương
Từ 21% đến 30% 4 tháng tiền lương
Từ 31% đến 40% 6 tháng tiền lương
Từ 41% đến 50% 9 tháng tiền lương
Từ 51% đến 60% 12 tháng tiền lương.
b) Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 100% thì được xếp vào hạng và được trợ cấp hàng tháng như sau:
Mức suy giảm khả năng lao động Xếp hạng Mức trợ cấp hàng tháng
Từ 61% đến 70% 4 50% mức tiền lương
Từ 71% đến 80% 3 60% mức tiền lương
Từ 81% đến 90% 2 70% mức tiền lương
Từ 91% đến 100% 1 80% mức tiền lương
Người được xếp hạng 1 và hạng 2 mà không tự bảo đảm được sinh hoạt cá nhân thì còn được hưởng phụ cấp phục vụ.
Đối với những người có mức lương cao hơn mức tiền lương trung bình của viên chức Nhà nước được trợ cấp thêm một lần một khoản tiền bằng từ 1 tháng đến 3 tháng tiền lương hiện hưởng.
2. Quân nhân và công an nhân dân bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp được cấp một lần phương tiện để khắc phục một phần chức năng bị tổn thương.
Khi thương tật hoặc bệnh tật tái phát được điều trị và giám định lại khả năng lao động.
1. Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi, đã đóng bảo hiểm xã hội 20 năm trở lên.
2. Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi, đã đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên trong đó có từ 15 năm làm công việc nặng nhọc độc hại trong lực lượng vũ trang, hoặc có từ 10 năm ở các chiến trường trở lên.
3. Nam đủ 50 tuổi có 30 năm tuổi quân, nữ đủ 45 tuổi có 25 năm tuổi quân trở lên.
4. Đủ điều kiện quy định tại Điều 42 Luật về Sĩ quân Quân đội nhân dân Việt Nam; Điều lệ Quân nhân chuyên nghiệp; Pháp lệnh về Lực lượng An ninh, Lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam.
Điều 14.- Quân nhân và công an nhân dân thuộc diện chế độ hưu hàng tháng được hưởng:
- Một khoản trợ cấp trước khi nghỉ hưu tuỳ theo thời gian và mức đóng góp bảo hiểm xã hội;
- Lương hưu hàng tháng được tính trên mức lương cấp hàm hoặc lương chuyên nghiệp, phụ cấp thâm niên và phụ cấp chức vụ (nếu có), cao nhất bằng 75% mức lương bình quân của 10 năm trước khi người đó nghỉ hưu;
- Được đài thọ về bảo hiểm y tế.
Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội và Bộ Tài chính quy định cụ thể các mức lương hưu hàng tháng, trợ cấp một lần trước khi nghỉ hưu.
- Thuộc diện đang tại ngũ mà chết thì mức trợ cấp được tính bằng cách lấy mức lương tháng của người đó đang hưởng nhân với số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, nhưng mức thấp nhất cũng bằng 6 tháng lương tối thiểu của viên chức Nhà nước.
- Thuộc diện hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng mà chết thì được trợ cấp bằng từ 3 tháng đến 12 tháng trợ cấp của người đó đang hưởng.
- Quân nhân và công an nhân dân hưởng lương hàng tháng đóng 5% tiền lương cấp hàm hoặc lương cấp bậc và phụ cấp thâm niên.
- Ngân sách Nhà nước bảo đảm phần còn lại.
Điều 21.- Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 4 năm 1993.
Những quy định trước đây trái với những quy định của Nghị định này đều bãi bỏ.
|
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
Nghị định 66-CP năm 1993 quy định tạm thời chế độ bảo hiểm xã hội đối với lực lượng vũ trang
- Số hiệu: 66-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 30/09/1993
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Võ Văn Kiệt
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 23
- Ngày hiệu lực: 01/04/1993
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
