Nghị định số 62/2002/NĐ-CP do Chính phủ ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 1999 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo. Văn bản này tập trung điều chỉnh các quy trình tiếp nhận, phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; đồng thời thiết lập cơ chế kiểm soát, xem xét lại các quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng và các biện pháp bảo vệ người tố cáo.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo từ trung ương đến địa phương, cùng các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo hoặc có quyền và nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Quy trình tiếp nhận và xử lý đơn khiếu nại của cơ quan Nhà nước
Nghị định sửa đổi Điều 5 của Nghị định 67/1999/NĐ-CP, quy định chi tiết cách thức xử lý đơn khiếu nại khi cơ quan nhà nước tiếp nhận:
- Đơn thuộc thẩm quyền và đủ điều kiện: Cơ quan nhận đơn phải thụ lý để giải quyết. Trường hợp đơn có chữ ký của nhiều người thì cơ quan có trách nhiệm hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn riêng để thực hiện khiếu nại.
- Đơn thuộc thẩm quyền nhưng không đủ điều kiện thụ lý: Cơ quan nhận đơn có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho người khiếu nại và nêu rõ lý do không thụ lý.
- Đơn hỗn hợp (vừa khiếu nại vừa tố cáo): Cơ quan tiếp nhận có trách nhiệm tách biệt để xử lý; nội dung khiếu nại được xử lý theo quy trình khiếu nại thông thường, còn nội dung tố cáo được xử lý theo quy định tại Điều 43 của Nghị định này.
- Đơn thuộc thẩm quyền cấp dưới nhưng quá hạn chưa giải quyết: Cơ quan cấp trên trực tiếp có trách nhiệm xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều 17 của Nghị định này để đôn đốc, chỉ đạo cấp dưới thực hiện.
- Đơn không thuộc thẩm quyền hoặc đã có quyết định giải quyết cuối cùng: Cơ quan nhận đơn không có trách nhiệm thụ lý mà phải thông báo và chỉ dẫn bằng văn bản cho người khiếu nại. Việc thông báo này chỉ thực hiện một lần duy nhất đối với một vụ việc khiếu nại. Trường hợp người khiếu nại gửi kèm giấy tờ, tài liệu bản gốc thì cơ quan nhận đơn phải trả lại các giấy tờ, tài liệu đó cho người khiếu nại.
Thẩm quyền và trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Sửa đổi, bổ sung Điều 12 về quy trình giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
- Phân công xác minh và kết luận: Đối với khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của chính mình, Chủ tịch tỉnh giao cho Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Chánh Thanh tra cấp tỉnh xem xét, kết luận và kiến nghị việc giải quyết. Đối với khiếu nại mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Giám đốc Sở đã giải quyết nhưng tiếp tục bị khiếu nại, Chủ tịch tỉnh giao cho Chánh Thanh tra cấp tỉnh tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị giải quyết.
- Ban hành quyết định giải quyết: Căn cứ vào báo cáo xác minh, Chủ tịch tỉnh ra quyết định giải quyết hoặc ủy quyền cho Chánh Thanh tra cấp tỉnh ra quyết định giải quyết. Quyết định giải quyết đối với khiếu nại quyết định/hành vi của chính Chủ tịch tỉnh là quyết định giải quyết lần đầu; quyết định giải quyết đối với khiếu nại đã được cấp dưới giải quyết là quyết định giải quyết cuối cùng.
- Tham khảo ý kiến phối hợp: Đối với những vụ việc phức tạp, trước khi ký quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng, Chủ tịch tỉnh phải tham khảo ý kiến của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về những nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của Bộ, ngành đó. Cơ quan được tham khảo ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị.
- Gửi và công bố quyết định: Quyết định giải quyết phải được gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại và người có quyền, lợi ích liên quan. Nếu là quyết định cuối cùng thì gửi Tổng Thanh tra Nhà nước; nếu là quyết định lần đầu thì gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương có thẩm quyền giải quyết tiếp theo. Đối với vụ việc phức tạp, phải mời các bên liên quan đến để công bố công khai quyết định.
- Tổ chức đối thoại trực tiếp: Trước khi ký quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với vụ việc phức tạp, có nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung, Chủ tịch tỉnh phải trực tiếp đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết trước đó và người có quyền lợi liên quan. Buổi đối thoại phải công bố kết quả xác minh, chứng cứ, căn cứ pháp luật và phải được lập thành biên bản.
- Thi hành quyết định: Chủ tịch tỉnh có trách nhiệm thi hành, tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật trong phạm vi trách nhiệm của mình; kiểm tra, đôn đốc cấp dưới thi hành.
Thẩm quyền và trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
Sửa đổi, bổ sung Điều 13 về quy trình giải quyết khiếu nại cấp Bộ:
- Phân công xác minh: Đối với khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình hoặc của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp, Bộ trưởng giao cho Thủ trưởng Cục, Vụ, đơn vị chức năng hoặc Chánh Thanh tra cùng cấp xem xét, kết luận. Đối với khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc Sở đã giải quyết nhưng còn khiếu nại thuộc thẩm quyền của Bộ, Bộ trưởng giao Chánh Thanh tra cùng cấp tiến hành xác minh, kết luận.
- Tính chất quyết định giải quyết: Quyết định giải quyết đối với quyết định/hành vi của chính Bộ trưởng là quyết định giải quyết lần đầu; quyết định giải quyết đối với vụ việc đã được cấp dưới hoặc Chủ tịch tỉnh giải quyết là quyết định giải quyết cuối cùng.
- Tham khảo ý kiến phối hợp: Đối với vụ việc phức tạp, trước khi ký quyết định giải quyết cuối cùng, Bộ trưởng phải tham khảo ý kiến của các Bộ, ngành liên quan và của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra vụ việc khiếu nại. Cơ quan nhận được đề nghị phải trả lời trong thời hạn 15 ngày.
- Gửi quyết định và đối thoại: Quyết định giải quyết phải được gửi cho các bên liên quan và Tổng Thanh tra Nhà nước. Bộ trưởng phải trực tiếp đối thoại với các bên trước khi ký quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với các vụ việc phức tạp, đông người khiếu nại về một nội dung. Buổi đối thoại phải được lập thành biên bản cụ thể.
- Tổ chức thi hành: Bộ trưởng có trách nhiệm thi hành, tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật trong phạm vi trách nhiệm của mình; kiểm tra, đôn đốc cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý.
Cơ chế xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng
Sửa đổi Điều 15 nhằm thiết lập cơ chế kiểm soát, giám sát và xử lý sai sót đối với các quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng:
- Nguyên tắc chung: Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thi hành nghiêm chỉnh. Quyết định này chỉ được xem xét lại khi phát hiện có tình tiết mới hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
- Trách nhiệm tự xem xét lại: Người đã ra quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng khi phát hiện có tình tiết mới hoặc quyết định đó có vi phạm pháp luật thì phải tự xem xét lại để ban hành quyết định mới thay thế quyết định có vi phạm pháp luật.
- Thẩm quyền kiến nghị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ: Khi phát hiện quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của Bộ, ngành mình có tình tiết mới hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật, Bộ trưởng yêu cầu người đã ban hành quyết định đó xem xét lại. Trong thời hạn 30 ngày, nếu yêu cầu không được thực hiện thì tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
- Thẩm quyền kiến nghị của Tổng Thanh tra Nhà nước: Khi phát hiện quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có tình tiết mới hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật, Tổng Thanh tra Nhà nước yêu cầu người đã ban hành quyết định đó xem xét lại. Trong thời hạn 30 ngày, nếu yêu cầu không được thực hiện thì tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
- Thời hiệu yêu cầu xem xét lại: Thời hiệu yêu cầu xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với các trường hợp kiến nghị nêu trên là 12 tháng, kể từ ngày quyết định đó có hiệu lực thi hành.
Trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra của Thủ trưởng cơ quan Nhà nước
Sửa đổi Điều 17 về trách nhiệm đôn đốc, giám sát việc giải quyết khiếu nại của cấp dưới:
- Thủ trưởng cơ quan Nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan, đơn vị cấp dưới giải quyết kịp thời các khiếu nại thuộc thẩm quyền.
- Khi nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền của cấp dưới trực tiếp nhưng quá thời hạn quy định mà chưa được giải quyết, thủ trưởng cấp trên phải yêu cầu cấp dưới giải quyết, đồng thời có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc và áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử lý đối với người thiếu trách nhiệm hoặc cố tình trì hoãn việc giải quyết khiếu nại đó. Trường hợp cần áp dụng biện pháp vượt quá thẩm quyền thì kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xử lý.
Quy trình phân loại, xử lý đơn tố cáo và bảo vệ người tố cáo
Sửa đổi Điều 43 quy định chi tiết về công tác tiếp nhận, phân loại và xử lý tố cáo:
- Phân loại và xử lý đơn tố cáo: Nếu tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải thụ lý để giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục. Nếu tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì chậm nhất là trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được phải chuyển đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo và các tài liệu, chứng cứ liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết.
- Các trường hợp không xem xét, giải quyết: Không giải quyết những tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký, hoặc những tố cáo đã được cấp có thẩm quyền xem xét, kết luận nay tố cáo lại nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ mới.
- Tố cáo hành vi phạm tội: Nếu tố cáo hành vi phạm tội thì chuyển cho cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát xử lý theo quy định tại Điều 71 của Luật Khiếu nại, tố cáo.
- Biện pháp ngăn chặn khẩn cấp: Trong trường hợp hành vi bị tố cáo gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, tính mạng, tài sản của công dân thì cơ quan nhận được phải báo ngay cho cơ quan chức năng để có biện pháp ngăn chặn kịp thời.
- Bảo vệ người tố cáo: Trường hợp Thủ trưởng cơ quan Nhà nước các cấp, các ngành nhận được thông tin người tố cáo bị đe doạ, trù dập, trả thù thì phải có trách nhiệm chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan chức năng liên quan làm rõ, có biện pháp bảo vệ người tố cáo, ngăn chặn và đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với người có hành vi đe doạ, trù dập, trả thù người tố cáo.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
Nghị định quy định rõ về điều khoản thi hành như sau:
- Trách nhiệm thực hiện: Tổng Thanh tra Nhà nước, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị định này.
- Hiệu lực pháp luật: Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 62/2002/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 14 tháng 6 năm 2002 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998;
Theo đề nghị của Tổng Thanh tra Nhà nước,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Nay sửa đổi, bổ sung các điều:
1.
"Điều 5. Cơ quan Nhà nước khi nhận được đơn khiếu nại thì xử lý như sau:
1. Đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và có đủ các điều kiện quy định tại Điều 1 của Nghị định này thì cơ quan nhận được phải thụ lý để giải quyết; trong trường hợp đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người thì có trách nhiệm hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn riêng để thực hiện việc khiếu nại;
2. Đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình nhưng không đủ các điều kiện thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 1 của Nghị định này thì có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho người khiếu nại biết rõ lý do;
3. Đối với đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo thì cơ quan nhận được có trách nhiệm xử lý nội dung khiếu nại theo quy định tại điểm 1, điểm 2 và điểm 5 của Điều này, còn nội dung tố cáo thì xử lý theo quy định tại Điều 43 của Nghị định này;
4. Đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp dưới nhưng quá thời hạn quy định mà chưa được giải quyết thì cơ quan cấp trên trực tiếp xử lý như quy định tại khoản 2 Điều 17 của Nghị định này;
5. Đối với đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, đơn khiếu nại về vụ việc đã có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng thì cơ quan nhận được đơn không có trách nhiệm thụ lý mà thông báo và chỉ dẫn cho người khiếu nại bằng văn bản. Việc thông báo chỉ thực hiện một lần đối với một vụ việc khiếu nại; trong trường hợp người khiếu nại gửi kèm giấy tờ, tài liệu là bản gốc liên quan đến vụ việc khiếu nại thì cơ quan nhận được đơn trả lại các giấy tờ, tài liệu đó cho người khiếu nại".
2.
"Điều 12.
1. Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Khiếu nại, tố cáo.
a) Đối với khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình thì Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cho Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Chánh Thanh tra cấp tỉnh xem xét, kết luận và kiến nghị việc giải quyết;
b) Đối với khiếu nại mà Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại, khiếu nại mà Giám đốc Sở đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại mà nội dung thuộc phạm vi quản lý của mình thì Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cho Chánh Thanh tra cấp tỉnh tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị việc giải quyết;
c) Căn cứ vào báo cáo xác minh, kết luận và kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định giải quyết hoặc uỷ quyền cho Chánh Thanh tra cấp tỉnh ra quyết định giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 20 của Nghị định này và theo thời hạn quy định tại Luật Khiếu nại, tố cáo. Quyết định giải quyết đối với khiếu nại nêu tại điểm a khoản 1 Điều này là quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu; quyết định giải quyết đối với khiếu nại nêu tại điểm b khoản 1 Điều này là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng.
Đối với những vụ việc phức tạp thì trước khi ký quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải tham khảo ý kiến của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về những nội dung có liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của Bộ, ngành đó.
Khi tham khảo ý kiến phải nêu rõ nội dung vụ việc và những nội dung cần tham khảo ý kiến. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ nhận được đề nghị tham khảo ý kiến có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị.
2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Chánh Thanh tra cấp tỉnh được uỷ quyền ra quyết định giải quyết có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan; nếu là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng thì gửi Tổng Thanh tra Nhà nước; nếu là quyết định giải quyết lần đầu thì gửi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền giải quyết tiếp theo đối với vụ việc khiếu nại đó; đối với những vụ việc phức tạp thì mời người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan, đại diện cơ quan có liên quan đến để công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại.
3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thi hành, tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật trong phạm vi trách nhiệm của mình; kiểm tra, đôn đốc cơ quan, đơn vị cấp dưới trong việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
4. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trước khi ký quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với những vụ việc phức tạp, có nhiều người khiếu nại về một nội dung, phải trực tiếp đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại trước đó, người có quyền và lợi ích liên quan.
Khi tổ chức đối thoại, người giải quyết khiếu nại phải công bố báo cáo kết quả thẩm tra xác minh vụ việc, những chứng cứ, căn cứ pháp luật liên quan đến giải quyết vụ việc và thông báo dự kiến xử lý vụ việc đó. Những người tham gia đối thoại có quyền phát biểu ý kiến, đưa ra bằng chứng liên quan đến vụ việc và những yêu cầu của mình. Việc đối thoại phải được lập thành biên bản".
3.
"Điều 13.
1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Khiếu nại, tố cáo.
a) Đối với khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ giao cho Thủ trưởng Cục, Vụ, đơn vị chức năng hoặc Chánh Thanh tra cùng cấp xem xét, kết luận và kiến nghị việc giải quyết;
b) Đối với khiếu nại mà Thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc Sở đã giải quyết nhưng còn có khiếu nại mà thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì giao cho Chánh Thanh tra cùng cấp tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị việc giải quyết;
c) Căn cứ vào báo cáo xác minh, kết luận và kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ ra quyết định giải quyết trong thời hạn quy định tại Luật Khiếu nại, tố cáo. Quyết định giải quyết khiếu nại nêu tại điểm a khoản 1 Điều này là quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu; quyết định giải quyết khiếu nại nêu tại điểm b khoản 1 Điều này của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng.
Đối với những vụ việc phức tạp thì trước khi ký quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ phải tham khảo ý kiến của Bộ, ngành về những nội dung có liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, ngành đó và của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra vụ việc khiếu nại.
Khi tham khảo ý kiến phải nêu rõ nội dung vụ việc và những nội dung cần tham khảo ý kiến. Cơ quan nhận được đề nghị tham khảo ý kiến có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị.
2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích có liên quan và Tổng Thanh tra Nhà nước; đối với những vụ việc phức tạp thì mời người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan, đại diện cơ quan có liên quan đến để công bố công khai quyết định giải quyết khiếu nại.
3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm thi hành, tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật trong phạm vi trách nhiệm của mình; kiểm tra, đôn đốc cơ quan, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của mình trong việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
4. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trước khi ký quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với những vụ việc phức tạp, có nhiều người khiếu nại về một nội dung, phải trực tiếp đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại trước đó, người có quyền và lợi ích liên quan.
Khi tổ chức đối thoại, người giải quyết khiếu nại phải công bố báo cáo kết quả thẩm tra xác minh vụ việc, những chứng cứ, căn cứ pháp luật liên quan đến giải quyết vụ việc và thông báo dự kiến xử lý vụ việc đó. Những người tham gia đối thoại có quyền phát biểu ý kiến, đưa ra bằng chứng liên quan đến vụ việc và những yêu cầu của mình. Việc đối thoại phải được lập thành biên bản".
4.
"Điều 15.
1. Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thi hành nghiêm chỉnh.
Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng chỉ được xem xét lại khi phát hiện có tình tiết mới hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Người đã ra quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng khi phát hiện có tình tiết mới hoặc quyết định giải quyết khiếu nại đó có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, hoặc có yêu cầu của những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này thì phải tự xem xét lại để ban hành quyết định mới thay thế quyết định giải quyết khiếu nại có vi phạm pháp luật.
2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ khi phát hiện quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nội dung liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của Bộ, ngành mình có tình tiết mới hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì yêu cầu người đã ban hành quyết định đó xem xét lại; trong thời hạn 30 ngày, nếu yêu cầu đó không được thực hiện thì tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
3. Tổng Thanh tra Nhà nước khi phát hiện quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có tình tiết mới hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì yêu cầu người đã ban hành quyết định đó xem xét lại; trong thời hạn 30 ngày, nếu yêu cầu đó không được thực hiện thì tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
4. Thời hiệu yêu cầu xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng quy định tại khoản 2, khoản 3 của Điều này là 12 tháng, kể từ ngày quyết định đó có hiệu lực thi hành".
5.
"Điều 17.
1. Thủ trưởng cơ quan Nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan, đơn vị cấp dưới giải quyết kịp thời các khiếu nại thuộc thẩm quyền.
2. Thủ trưởng cơ quan Nhà nước khi nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền của cấp dưới trực tiếp nhưng quá thời hạn quy định mà chưa được giải quyết thì yêu cầu cấp dưới phải giải quyết, đồng thời có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc giải quyết của cấp dưới và áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử lý đối với người thiếu trách nhiệm hoặc cố tình trì hoãn việc giải quyết khiếu nại đó. Trong trường hợp cần áp dụng biện pháp vượt quá thẩm quyền của mình thì kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xử lý".
6.
"Điều 43.
1. Cơ quan Nhà nước nhận được đơn tố cáo có trách nhiệm phân loại và xử lý như sau:
a) Nếu tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải thụ lý để giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo và Nghị định này.
b) Nếu tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì chậm nhất là trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được phải chuyển đơn tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo và các tài liệu, chứng cứ liên quan (nếu có) cho người có thẩm quyền giải quyết.
c) Không xem xét, giải quyết những tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ, không có chữ ký trực tiếp mà sao chụp chữ ký hoặc những tố cáo đã được cấp có thẩm quyền xem xét, kết luận nay tố cáo lại nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ mới.
d) Nếu tố cáo hành vi phạm tội thì chuyển cho cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát xử lý theo quy định tại Điều 71 của Luật Khiếu nại, tố cáo.
2. Trong trường hợp hành vi bị tố cáo gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, tính mạng, tài sản của công dân thì cơ quan nhận được phải báo ngay cho cơ quan chức năng để có biện pháp ngăn chặn.
3. Trong trường hợp Thủ trưởng cơ quan Nhà nước các cấp, các ngành nhận được thông tin người tố cáo bị đe doạ, trù dập, trả thù thì phải có trách nhiệm chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan chức năng liên quan làm rõ, có biện pháp bảo vệ người tố cáo, ngăn chặn và đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật người có hành vi đe doạ, trù dập, trả thù người tố cáo".
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
Nghị định 62/2002/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 67/1999/NĐ-Cp Hướng dẫn Luật Khiếu nại, tố cáo
- Số hiệu: 62/2002/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 14/06/2002
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 33
- Ngày hiệu lực: 29/06/2002
- Ngày hết hiệu lực: 09/05/2005
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
