Nghị định số 167-HĐBT được ban hành năm 1991 bởi Hội đồng Bộ trưởng nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50-HĐBT ngày 24 tháng 5 năm 1989 về chế độ nghĩa vụ phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng Công an nhân dân.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Văn bản này áp dụng đối với công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ, nữ công dân có chuyên môn kỹ thuật tự nguyện phục vụ, hạ sĩ quan và chiến sĩ nghĩa vụ trong lực lượng Công an nhân dân, cùng các cơ quan nhà nước, Ủy ban nhân dân các cấp và các đơn vị công an có liên quan trong công tác tuyển chọn, quản lý và thực hiện chế độ nghĩa vụ công an.
- Quy định về công tác tuyển chọn công dân vào lực lượng Công an nhân dân
- Hàng năm, căn cứ vào kế hoạch đã được Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt, Bộ Nội vụ thực hiện tuyển chọn thanh niên đã đăng ký nghĩa vụ quân sự và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn do Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định để bổ sung vào lực lượng Công an nhân dân.
- Thời gian tuyển chọn được tiến hành từ một đến hai lần trong năm, đồng thời với thời điểm gọi công dân nhập ngũ vào Quân đội nhân dân.
- Đối với nữ công dân có chuyên môn kỹ thuật cần thiết cho lực lượng Công an nhân dân, nếu tự nguyện thì có thể được tiếp nhận phục vụ tại ngũ.
- Trách nhiệm của các cơ quan, địa phương trong công tác tuyển quân
- Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ vào Công an nhân dân, bảo đảm đúng thời gian, đủ số lượng và đúng tiêu chuẩn theo quy định pháp luật.
- Các đơn vị Công an nhân dân được phân bổ chỉ tiêu tuyển quân có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân các cấp để hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyển chọn này.
- Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ trong thời bình
- Thời hạn phục vụ là 03 năm đối với: Hạ sĩ quan, chiến sĩ chuyên môn kỹ thuật do Công an nhân dân đào tạo phục vụ trong lực lượng Bộ đội biên phòng; hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ trong các lực lượng An ninh nhân dân và Cảnh sát nhân dân.
- Thời hạn phục vụ là 02 năm đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc lực lượng Bộ đội biên phòng (không thuộc diện đào tạo chuyên môn kỹ thuật nêu trên).
- Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Nội vụ có thẩm quyền quyết định kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ nhưng thời gian kéo dài không được quá 06 tháng so với thời hạn quy định.
- Cách tính thời gian phục vụ: Thời gian phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ được tính từ ngày có quyết định nhập ngũ cho đến ngày cấp có thẩm quyền ký quyết định xuất ngũ.
- Chế độ xuất ngũ và thẩm quyền quyết định xuất ngũ
- Hạ sĩ quan, chiến sĩ hoàn thành thời hạn phục vụ tại ngũ theo quy định sẽ được xuất ngũ và được hưởng các chế độ, chính sách xuất ngũ tương tự như hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc Quân đội nhân dân.
- Thẩm quyền ký quyết định xuất ngũ: Thực hiện theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, người lãnh đạo, chỉ huy đơn vị từ cấp Phó Cục trưởng, Phó Giám đốc Công an tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương trở lên có trách nhiệm thực hiện việc xuất ngũ cho hạ sĩ quan và chiến sĩ thuộc quyền quản lý.
- Trường hợp xuất ngũ trước thời hạn: Hạ sĩ quan, chiến sĩ không đủ điều kiện tiếp tục phục vụ tại ngũ do sức khỏe yếu hoặc hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn có thể được giải quyết xuất ngũ trước thời hạn theo quy định cụ thể của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm hướng dẫn: Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành chi tiết các nội dung của Nghị định. Các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành văn bản này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 167-HĐBT | Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 1989 |
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4-7-1981;
Căn cứ Luật Nghĩa vụ quân sự ngày 30-12-1981 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nghĩa vụ quân sự được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990;
Căn cứ điều 16 Pháp lệnh về lực lượng an ninh nhân dân Việt Nam ngày 2 tháng 11 năm 1987; điều 25 Pháp lệnh về lực lượng cảnh sát nhân dân Việt Nam ngày 28 tháng 1 năm 1989;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
NGHỊ ĐỊNH:
1. Điều 2: Hàng năm, theo kế hoạch đã được Hội đồng Bộ trưởng duyệt, Bộ Nội vụ được tuyển chọn thanh niên đã đăng ký nghĩa vụ quân sự có đủ các tiêu chuẩn do Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định để bổ sung vào lực lượng công an nhân dân từ một đến hai lần, cùng thời gian với việc gọi nhập ngũ vào quân đội nhân dân. Phụ nữ có chuyên môn cần cho lực lượng công an nhân dân đã đăng ký nghĩa vụ quân sự, nếu tự nguyện thì có thể được phục vụ tại ngũ trong công an nhân dân.
2. Điều 3: Uỷ ban Nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ vào công an nhân dân bảo đảm đúng thời gian, đủ số lượng, đúng tiêu chuẩn theo quy định. Các đơn vị công an nhân dân có chỉ tiêu tuyển quân có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ này.
3. Điều 6: Thời gian phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan,
chiến sĩ công an nhân dân như sau:
- Ba năm, đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ chuyên môn kỹ thuật do công an nhân dân đào tạo phục vụ trong bộ đội biên phòng; hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ trong các lực lượng an ninh nhân dân, cảnh sát nhân dân.
- Hai năm, đối với hạ sĩ quan, chiến sĩ bộ đội biên phòng.
Khi cần thiết, Bộ trưởng Bộ Nội vụ endashđược quyền kéo dài thời gian phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân không qua 6 tháng so với quy định trên.
Thời gian phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ câng an nhân dân được tính từ khi có quyết định nhập ngũ, đến ngày cấp có thẩm quyền ký quyết định xuất ngũ.
4. Điều 8: Hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ đủ thời hạn theo quy định tại điều 6 sửa đổi trên đây thì được xuất ngũ và hưởng chế độ xuất ngũ như hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân. Theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, người lãnh đạo, chỉ huy đơn vị từ cấp Phó Cục trưởng, Phó Giám đốc cơng an tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương trở lên có trách nhiệm thực hiện việc xuất ngũ cho hạ sĩ quan và chiến sĩ thuộc quyền.
Trong trường hợp không đủ điều kiện để tiếp tục phục vụ tại ngũ (sức khoẻ yếu, khó khăn...) hạ sĩ quan, chiến sĩ có thể được xuất ngũ trước thời hạn do Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định.
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
Nghị định 167-HĐBT năm 1991 sửa đổi Nghị định 50-HĐBT năm 1989 về chế độ nghĩa vụ phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng công an nhân dân do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 167-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 22/05/1991
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Võ Văn Kiệt
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 13
- Ngày hiệu lực: 22/05/1991
- Ngày hết hiệu lực: 14/02/2007
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
