Nghị định 132-CP được Hội đồng Chính phủ ban hành năm 1961 nhằm quy định chi tiết về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Công an. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng vững chắc cho việc tổ chức, hoạt động và phát triển của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam.
Nghị định này áp dụng đối với Bộ Công an, các cơ quan công an các cấp, cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng Công an nhân dân, cũng như các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị quân đội và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc phối hợp thực hiện công tác bảo vệ an ninh Tổ quốc và giữ gìn trật tự trị an.
Vị trí và vai trò của Bộ Công anTheo quy định tại Nghị định, Bộ Công an là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với công tác công an theo đúng đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Bộ Công an gánh vác trọng trách đấu tranh tiêu diệt mọi âm mưu, hoạt động và tổ chức của bọn phản cách mạng cùng các loại tội phạm hình sự khác. Mục tiêu tối cao là giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ quân đội, bảo vệ nhân dân, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng và bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Bộ Công anBộ Công an được giao phó 12 nhóm nhiệm vụ và quyền hạn cốt lõi sau đây:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện thể chế: Nghiên cứu, xây dựng và trình Hội đồng Chính phủ ban hành các chính sách, chế độ, thể lệ về công tác công an; đồng thời tổ chức, chỉ đạo thực hiện thống nhất các quy định này trên phạm vi cả nước.
- Đấu tranh chống gián điệp và phản động: Chỉ đạo công tác phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và trấn áp mọi âm mưu, hoạt động phá hoại của bọn gián điệp, các tổ chức và phần tử phản động ẩn nấp trong nhân dân, trong các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang (bao gồm quân đội thường trực, các tổ chức vũ trang và bán vũ trang địa phương) và các cơ sở thuộc các ngành kinh tế, tài chính, văn hóa, khoa học, kỹ thuật.
- Phòng chống tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội: Chỉ đạo công tác đấu tranh chống các loại tội phạm hình sự khác; thực hiện các biện pháp ngăn ngừa tai nạn trị an; phối hợp với các cơ quan liên quan để nghiên cứu và thi hành các biện pháp thích hợp nhằm bài trừ tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự trị an.
- Bảo vệ tiếp cận và các mục tiêu trọng yếu: Chỉ đạo công tác bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các cán bộ lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, các đoàn khách nước ngoài đến thăm Việt Nam, các đoàn ngoại giao và chuyên gia nước ngoài đang công tác tại Việt Nam.
- Bảo vệ cơ quan đầu não và cơ sở hạ tầng: Chỉ đạo công tác bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não từ Trung ương đến địa phương và các cơ sở kinh tế, tài chính, văn hóa, khoa học, kỹ thuật; tổ chức lực lượng vũ trang bảo vệ các địa điểm quan trọng.
- Bảo vệ biên giới và nội địa: Chỉ đạo công tác vũ trang trấn áp bọn phản cách mạng trong nước và từ nước ngoài xâm nhập hoạt động phá hoại nhằm bảo vệ vững chắc an ninh biên giới, bờ biển, giới tuyến và nội địa.
- Quản lý trại giam và cải tạo: Chỉ đạo công tác quản lý các trại giam, trại cải tạo; tổ chức giam giữ, giáo dục và cải tạo các loại phạm nhân trở thành người lương thiện.
- Quản lý hành chính về trật tự xã hội: Thực hiện các biện pháp quản lý hành chính cần thiết nhằm bảo vệ an ninh Tổ quốc và trật tự xã hội bao gồm: quản lý vũ khí, quản lý vô tuyến điện, quản lý chất nổ, chất cháy, chất độc, quản lý ngoại kiều, quản lý xuất cảnh, nhập cảnh của người Việt Nam, quản lý hộ khẩu, quản lý các doanh nghiệp đặc biệt và quản lý giao thông.
- Thực hiện các biện pháp tố tụng: Chỉ đạo công tác bắt, giữ, xét hỏi, lập hồ sơ và đề nghị xử lý những người phạm pháp do công an thụ lý; thực hiện quyền khám người, nhà ở, đồ vật, thư tín của người phạm pháp và những người có liên quan theo quy định của pháp luật.
- Chỉ đạo nghiệp vụ và xây dựng lực lượng: Chỉ đạo toàn diện công tác của cơ quan công an các cấp; hướng dẫn các ngành khác thực hiện công tác bảo vệ tại các cơ quan, xí nghiệp, đơn vị quân đội; xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng.
- Quản lý nội bộ ngành: Thực hiện quản lý tổ chức, cán bộ, biên chế, lao động, tiền lương, tài sản và tài vụ trong toàn ngành công an theo chế độ chung của Nhà nước.
Nghị định quy định rõ nguyên tắc thủ trưởng lãnh đạo và thẩm quyền ban hành văn bản pháp quy của Bộ trưởng:
- Bộ trưởng Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Hội đồng Chính phủ và trước Quốc hội về việc lãnh đạo toàn bộ công tác của Bộ. Các Thứ trưởng giúp việc cho Bộ trưởng trong việc lãnh đạo chung và có thể được Bộ trưởng ủy nhiệm chỉ đạo từng phần công tác cụ thể của Bộ.
- Trong phạm vi quyền hạn của mình, trên cơ sở và để thi hành pháp luật cùng các văn bản của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an có quyền ra các thông tư, quyết định và kiểm tra các ngành, các cấp trong việc thi hành các văn bản đó.
- Bộ trưởng có thẩm quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của cơ quan công an cấp dưới. Đồng thời, Bộ trưởng có quyền đề nghị sửa đổi hoặc bãi bỏ những thông tư, quyết định không thích đáng có liên quan đến công tác công an của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ hoặc Ủy ban hành chính địa phương.
Bộ máy tổ chức của Bộ Công an được thiết lập tinh gọn nhưng đảm bảo tính chuyên sâu và vũ trang chiến đấu:
- Cơ cấu tổ chức của Bộ gồm có một số Vụ, Cục và Văn phòng Bộ.
- Tại Bộ Công an có Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng trong việc trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy toàn bộ công tác của lực lượng công an nhân dân vũ trang. Bộ Tư lệnh này được trang bị một văn phòng giúp việc riêng.
- Việc thành lập, sáp nhập, sửa đổi hoặc bãi bỏ Văn phòng, các Vụ, Cục và các đơn vị tương đương thuộc Bộ phải do Hội đồng Chính phủ phê chuẩn. Nhiệm vụ cụ thể của Văn phòng, các Vụ, Cục và các đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ quản lý sẽ được quy định chi tiết trong Điều lệ tổ chức của Bộ Công an do Hội đồng Chính phủ phê chuẩn.
Nghị định 132-CP có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Bộ trưởng Bộ Công an chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định tại Nghị định này. Thay mặt Hội đồng Chính phủ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký ban hành văn bản.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 132-CP | Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 1961 |
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ ngày 14 tháng 7 năm 1960;
NGHỊ ĐỊNH :
Điều 2: Bộ Công an có nhiệm vụ và quyền hạn:
1- Nghiên cứu và trình Hội đồng Chính phủ ban hành các chính sách, chế độ, thể lệ về công tác công an; tổ chức và chỉ đạo thực hiện các chính sách, chế độ, thể lệ ấy.
2- Chỉ đạo công tác đấu tranh đề phòng, ngăn chặn, khám phá và trấn áp mọi âm mưu, hoạt động, tổ chức của bọn gián điệp, của các tổ chức và phần tử phản động hoạt động phá hoại ẩn nấp trong nhân dân và trong các cơ quan, các lực lượng vũ trang (quân đội thường trực và các tổ chức vũ trang, bán vũ trang địa phương) các cơ sở thuộc các ngành kinh tế, tài chính, văn hoá, khoa học, kỹ thuật.
3- Chỉ đạo công tác đấu tranh chống mọi bọn tội phạm hình sự khác; thi hành mọi biện pháp đề phòng, ngăn chặn các tai nạn về trị an, phối hợp với các cơ quan hữu quan để nghiên cứu và thi hành các biện pháp thích hợp bài trừ các tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự trị an.
4- Chỉ đạo công tác bảo vệ an toàn cán bộ lãnh đạo của Đảng lao động Việt Nam và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, các khách nước ngoài đến thăm Việt Nam, các đoàn ngoại giao và chuyên gia công tác ở Việt Nam.
5- Chỉ đạo công tác bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não từ Trung ương đến địa phương và các cơ sở kinh tế, tài chính, văn hoá, khoa học, kỹ thuật; vũ trang bảo vệ các nơi quan trọng.
6- Chỉ đạo công tác vũ trang trấn áp bọn phản cách mạng trong nước và từ nước ngoài xâm nhập hoạt động phá hoại để bảo vệ an ninh biên giới, bờ biển, giới tuyến và nội địa.
7- Chỉ đạo công tác quản lý các trại giam (bao gồm các trại cải tạo và trại giam) tổ chức giam giữ, giáo dục các loại phạm nhân trở thành ngưòi lương thiện.
8- Chỉ đạo thực hiện các biện pháp quản lý hành chính cần thiết nhằm bảo vệ an ninh Tổ quốc, trật tự xã hội như quản lý vũ khí, quản lý vô tuyến điện, quản lý chất nổ, chất cháy, chất độc, quản lý ngoại kiều, quản lý xuất cảnh, nhập cảnh của người Việt Nam, quản lý hộ khẩu, quản lý các doanh nghiệp đặc biệt, quản lý giao thông v,v....
9- Chỉ đạo công tác bắt, giữ, xét hỏi,lập hồ sơ, đề nghị xử lý những người phạm pháp do công an thụ lý; khám người; nhà ở; đồ vật, thư tín của những ngưòi phạm pháp và những người có liên quan.
10- Chỉ đạo các cơ quan công an các cấp tiến hành mọi mặt công tác công an và chỉ đạo các ngành khác thực hiện công tác bảo vệ ở các cơ quan, các xí nghiệp, các đơn vị quân đội.
11- Xây dựng các lực lượng Công an nhân dân vững mạnh để đáp ứng nhu cầu công tác của từng giai đoạn cách mạng.
12- Quản lý tổ chức, cán bộ, biên chế, lao động, tiền lương, tài sản, tài vụ trong ngành theo chế độ chung của Nhà nước.
Trong phạm vi quyền hạn của mình, trên cơ sở và để thi hành pháp luật và các nghị định, nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an ra những thông tư, quyết định và kiểm tra các ngành, các cấp trong việc thi hành những thông tư, quyết định ấy; sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định không thích đáng của cơ quan công an cấp dưới; đề nghị sửa đổi hoặc bãi bỏ những thông tư, quyết định không thích đáng có liên quan đến công tác công an của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ hay Uỷ ban hành chính địa phương.
Điều 4: Tổ chức bộ máy của Bộ Công an gồm có:
- Một số Vụ, cục và Văn phòng.
Ở Bộ có Bộ Tư lệnh công an nhân dân vũ trang chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy toàn bộ công tác của lực lượng công an nhân dân vũ trang. Bộ Tư lệnh có văn phòng giúp việc.
Việc thành lập, sửa đổi hoặc bãi bỏ Văn phòng, các Vụ, Cục và các đơn vị tương đương do Hội đồng Chính phủ phê chuẩn.
Nhiệm vụ của Văn phòng, các Vụ, Cục và các đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ quản lý sẽ quy định trong điều lệ tổ chức của Bộ Công an do Hội đồng Chính phủ phê chuẩn.
Điều 5: Bộ trưởng Bộ Công an có trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| Phạm Văn Đồng (Đã ký) |
Nghị định 132-CP năm 1961 Quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Công an do Hội đồng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 132-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 29/09/1961
- Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 13/10/1961
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
