Luật về quyền tự do hội họp năm 1957 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ban hành nhằm mục đích tôn trọng và bảo đảm quyền tự do hội họp của nhân dân, đồng thời xác định rõ ranh giới pháp lý giữa hội họp hợp pháp và các hành vi lợi dụng quyền này để xâm phạm an ninh trật tự.
Nguyên tắc chung và các trường hợp miễn xin phép trước
Luật khẳng định quyền tự do hội họp của nhân dân là bất khả xâm phạm và được Nhà nước bảo hộ. Tuy nhiên, để cân bằng giữa quyền tự do cá nhân và trật tự công cộng, Luật phân loại các hình thức hội họp không phải xin phép trước bao gồm:
- Các cuộc hội họp mang tính chất gia đình, diễn ra giữa những người thân thuộc, bè bạn với nhau.
- Các buổi sinh hoạt nội bộ của các hội đã được thành lập hợp pháp, được tổ chức ngay trong phạm vi trụ sở của hội đó.
- Các cuộc hành lễ thường lệ của các tôn giáo được tổ chức bên trong các cơ sở thờ cúng hợp pháp.
- Các buổi sinh hoạt của các đoàn thể thuộc Mặt trận dân tộc thống nhất và các cuộc hội họp công cộng do chính các đoàn thể này đứng ra tổ chức.
Quy định về việc xin phép và trách nhiệm của người tổ chức
- Yêu cầu xin phép: Để bảo đảm trật tự và an ninh xã hội, tất cả các cuộc hội họp công cộng nằm ngoài danh mục được miễn trừ nêu trên đều bắt buộc phải được Ủy ban hành chính địa phương cấp phép trước khi tổ chức.
- Trách nhiệm pháp lý: Người đứng ra tổ chức cuộc hội họp phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về mọi hoạt động diễn ra trong cuộc hội họp đó.
Chế tài xử lý vi phạm đối với hành vi hội họp trái phép và cản trở hội họp
Luật quy định các hình phạt nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm quy định về hội họp tùy theo mức độ nghiêm trọng:
- Xử lý vi phạm thủ tục: Người tổ chức hội họp không tuân thủ đúng thể lệ xin phép trước sẽ bị cảnh cáo hoặc truy tố trước tòa án; cuộc hội họp có thể bị cấm hoặc giải tán.
- Hình phạt hình sự đối với người tổ chức trái phép: Trong trường hợp bị truy tố, người tổ chức hội họp trái phép sẽ bị phạt tiền từ 50.000 đồng đến 250.000 đồng và phạt tù từ 01 tháng đến 06 tháng, hoặc áp dụng một trong hai hình phạt này.
- Cố ý vi phạm lệnh cấm: Nếu cuộc hội họp đã bị cấm hoặc bị giải tán nhưng người chịu trách nhiệm vẫn cố tình tổ chức hoặc tái tổ chức, người đó sẽ bị truy tố và đối mặt với hình phạt tù từ 01 tháng đến 01 năm.
- Hành vi cản trở hoặc ép buộc: Người nào có hành vi ngăn cản, phá hoại các cuộc hội họp hợp pháp của người khác, hoặc ép buộc người khác tham gia vào các cuộc hội họp bất hợp pháp sẽ bị cảnh cáo hoặc truy tố trước tòa án với mức phạt tù từ 01 tháng đến 01 năm.
Nghiêm cấm lợi dụng quyền tự do hội họp để xâm phạm an ninh quốc gia
Luật nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng quyền tự do hội họp để thực hiện các hoạt động vi phạm pháp luật, bao gồm:
- Hoạt động chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân.
- Gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.
- Tuyên truyền chiến tranh, âm mưu phá hoại sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ của đất nước.
- Thực hiện các hành vi gây phương hại đến trật tự an ninh chung hoặc vi phạm thuần phong mỹ tục.
- Biện pháp xử lý: Người vi phạm các điều cấm trên sẽ bị truy tố trước tòa án và xử phạt theo các luật lệ hiện hành, đồng thời cuộc hội họp vi phạm sẽ bị cấm hoặc giải tán ngay lập tức.
Quy định trong tình thế khẩn cấp và điều khoản thi hành
- Quyền hạn trong tình thế khẩn cấp: Trong các trường hợp khẩn cấp, nếu xét thấy cần thiết phải tạm thời cấm các hoạt động hội họp để bảo đảm an ninh quốc gia, Chính phủ có thẩm quyền ra quyết định tạm cấm.
- Hiệu lực thi hành: Luật này bãi bỏ toàn bộ các luật lệ trước đây có nội dung trái với các quy định tại luật này. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều khoản của Luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
LUẬT
SỐ 101-SL/L.003 NGÀY 20-5-1957 QUY ĐỊNH QUYỀN TỰ DO HỘI HỌP
CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
RA SẮC LỆNH:
Nay ban bố luật quy định quyền tự do hội họp đã được Quốc hội biểu quyết trong khoá họp thứ VI như sau:
LUẬT
QUY ĐỊNH QUYỀN TỰ DO HỘI HỌP
Quyền tự do hội họp của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do hội họp.
Không phải xin phép trước:
- Các cuộc hội họp có tính chất gia đình, giữa thân thuộc, bè bạn;
- Các buổi sinh hoạt của các hội hợp pháp, tổ chức trong trụ sở của hội, các cuộc hành lễ thường lệ của các tôn giáo tổ chức trong những nơi thờ cúng;
- Các buổi sinh hoạt của các đoàn thể trong Mặt trận dân tộc thống nhất, và các cuộc hội họp công cộng do các đoàn thể này tổ chức.
Để đảm bảo việc giữ gìn trật tự an ninh, các cuộc hội họp công cộng, trừ các cuộc hội họp nói trong điều 2, phải được Uỷ ban hành chính địa phương cho phép trước.
Người tổ chức cuộc hội họp phải chịu trách nhiệm về cuộc hội họp.
Nếu không theo đúng thể lệ về việc xin phép trước thì người tổ chức, tuỳ trường hợp nặng nhẹ, sẽ bị cảnh cáo hoặc truy tố trước toà án và cuộc hội họp có thể bị cấm hoặc bị giải tán.
Trường hợp bị truy tố toà án, người tổ chức cuộc hội họp trái phép sẽ bị phạt tiền từ năm vạn đồng (50.000 đ) đến hai mươi lăm vạn đồng (250.000 đ) và phạt tù từ một tháng đến sáu tháng, hoặc một trong hai hình phạt ấy.
Trường hợp cuộc hội họp bị cấm mà vẫn cứ tổ chức hoặc đã bị giải tán mà vẫn cứ tổ chức lại, thì người chịu trách nhiệm sẽ bị truy tố trước toà án và sẽ bị phạt tù từ một tháng đến một năm.
Người nào ngăn cản hoặc phá hoại các cuộc hội họp hợp pháp của người khác, ép buộc người khác tham dự vào các cuộc hội họp bất hợp pháp, bất cứ bằng cách nào, có thể bị cảnh cáo hoặc bị truy tố trước toà án và bị xử phạt tù từ một tháng đến một năm.
Người nào lợi dụng quyền tự do hội họp để hoạt động trái pháp luật, chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, chia rẽ dân tộc, phá tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, tuyên truyền chiến tranh, âm mưu phá hoại sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ, hành động có phương hại đến trật tự an ninh chung, hoặc đến thuần phong mỹ tục, sẽ bị truy tố trước toà án và xử phạt theo luật lệ hiện hành, và cuộc hội họp sẽ bị cấm hoặc bị giải tán.
Trong tình thế khẩn cấp, xét cần phải tạm thời cấm hội họp, Chính phủ sẽ quyết định.
Tất cả luật lệ nào trái với luật này đều bãi bỏ.
Chính phủ quy định những chi tiết thi hành luật này.
| Hồ Chí Minh (Đã ký) |
Luật về quyền tự do hội họp 1957
- Số hiệu: 101-SL/L.003
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 20/05/1957
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Hồ Chí Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 26
- Ngày hiệu lực: 26/06/1957
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
