Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ nhất, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1959, nhằm thiết lập và bảo vệ chế độ hôn nhân tự do, tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, hướng tới xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận.
Về phạm vi và đối tượng áp dụng, Luật điều chỉnh toàn bộ các quan hệ hôn nhân và gia đình tại Việt Nam, áp dụng đối với mọi công dân nam, nữ đạt độ tuổi kết hôn theo quy định. Đối với các vùng dân tộc thiểu số, Luật cho phép căn cứ vào tình hình cụ thể để xây dựng các điều khoản riêng biệt trình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình- Nhà nước bảo đảm thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do, tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận, đoàn kết và thương yêu nhau.
- Xóa bỏ triệt để các tàn tích phong kiến còn sót lại như chế độ hôn nhân cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái.
- Nghiêm cấm các hành vi tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ, và cấm lấy vợ lẽ.
- Bảo đảm quyền hoàn toàn tự nguyện quyết định kết hôn của nam và nữ khi đến tuổi quy định, nghiêm cấm mọi hành vi ép buộc hoặc cản trở từ bất kỳ cá nhân nào.
- Độ tuổi kết hôn: Quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu đối với con gái là từ đủ 18 tuổi trở lên và đối với con trai là từ đủ 20 tuổi trở lên.
- Nguyên tắc một vợ một chồng: Cấm người đang có vợ hoặc đang có chồng kết hôn với người khác. Đàn bà góa có quyền tự do tái giá và được bảo đảm quyền lợi về con cái, tài sản khi tái giá. Việc để tang không cản trở việc kết hôn.
- Các trường hợp cấm kết hôn: Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Đối với những người có họ trong phạm vi năm đời hoặc có quan hệ thích thuộc về trực hệ thì giải quyết theo phong tục tập quán.
- Điều kiện sức khỏe: Cấm kết hôn đối với những người bất lực hoàn toàn về sinh lý, hoặc đang mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc mà chưa chữa khỏi.
- Thủ tục pháp lý: Việc kết hôn bắt buộc phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của bên nam hoặc bên nữ công nhận và ghi vào sổ kết hôn. Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị về mặt pháp luật.
- Vợ chồng hoàn toàn bình đẳng về mọi mặt trong gia đình, có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, săn sóc, giúp đỡ nhau tiến bộ, cùng nuôi dạy con cái, lao động sản xuất và xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc.
- Cả vợ và chồng đều có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, tự do tham gia các hoạt động chính trị, văn hóa và xã hội.
- Vợ chồng có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với toàn bộ tài sản có trước và sau khi cưới.
- Khi một bên qua đời trước, nếu cần chia tài sản chung thì thực hiện theo nguyên tắc phân chia tài sản ly hôn. Vợ và chồng đều có quyền thừa kế tài sản của nhau.
- Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái. Ngược lại, con cái có nghĩa vụ kính yêu, săn sóc và nuôi dưỡng cha mẹ. Con trai và con gái có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình.
- Nghiêm cấm cha mẹ hành hạ con cái, đối xử tàn tệ với con dâu, con nuôi, con riêng. Nghiêm cấm tuyệt đối việc vứt bỏ hoặc giết hại trẻ sơ sinh; người vi phạm hoặc gây ra hành vi này phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Con đã thành niên sống chung với cha mẹ được tự do chọn nghề nghiệp, hoạt động chính trị, xã hội, có quyền sở hữu tài sản riêng và có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình.
- Con ngoài giá thú: Được thừa nhận khi cha hoặc mẹ khai báo trước Ủy ban hành chính cơ sở. Nếu có tranh chấp, Tòa án nhân dân sẽ quyết định. Con ngoài giá thú sau khi được nhận hoặc được Tòa án công nhận có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ như con chính thức.
- Con nuôi: Có quyền lợi và nghĩa vụ ngang bằng con đẻ. Việc nhận con nuôi phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch. Tòa án nhân dân có thể hủy bỏ việc công nhận này vì lợi ích của con nuôi khi có yêu cầu từ cá nhân hoặc tổ chức.
- Thủ tục ly hôn: Trường hợp thuận tình ly hôn, Tòa án nhân dân sẽ công nhận sau khi điều tra xác minh tính tự nguyện của hai bên. Trường hợp đơn phương ly hôn, cơ quan có thẩm quyền tiến hành hòa giải; nếu hòa giải không thành, Tòa án nhân dân sẽ xét xử và cho ly hôn nếu tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
- Hạn chế quyền ly hôn của chồng: Người chồng không được quyền xin ly hôn khi người vợ đang có thai và trong vòng một năm sau khi vợ sinh con. Hạn chế này không áp dụng đối với quyền xin ly hôn của người vợ.
- Nguyên tắc tài sản khi ly hôn: Nghiêm cấm hành vi đòi trả của cải sau khi ly hôn. Việc chia tài sản chung dựa trên công sức đóng góp của mỗi bên (lao động trong gia đình được tính như lao động sản xuất), tình hình tài sản và hoàn cảnh cụ thể của gia đình, đồng thời ưu tiên bảo vệ quyền lợi của người vợ, con cái và lợi ích của việc sản xuất.
- Nghĩa vụ cấp dưỡng: Nếu một bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng, bên kia phải cấp dưỡng tùy theo khả năng. Khoản và thời gian cấp dưỡng do hai bên thỏa thuận hoặc do Tòa án quyết định. Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt khi người được cấp dưỡng kết hôn với người khác.
- Quyền và nghĩa vụ đối với con chung: Vợ chồng đã ly hôn vẫn giữ nguyên mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Việc giao con chưa thành niên cho ai nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con (ưu tiên con còn bú cho mẹ trực tiếp chăm sóc). Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và phải cùng đóng góp chi phí nuôi dưỡng, giáo dục con theo khả năng của mình. Mọi thỏa thuận về nuôi con có thể thay đổi khi cần thiết vì lợi ích của con.
Luật Hôn nhân và gia đình 1959 có hiệu lực thi hành kể từ ngày công bố. Mọi hành vi vi phạm các quy định của Luật này sẽ bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
LUẬT
Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ.
Xoá bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái.
Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ. Cấm lấy vợ lẽ.
Con trai và con gái đến tuổi, được hoàn toàn tự nguyện quyết định việc kết hôn của mình; không bên nào được ép buộc bên nào, không một ai được cưỡng ép hoặc cản trở.
Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác.
Con gái từ 18 tuổi trở lên, con trai từ 20 tuổi trở lên mới được kết hôn.
Việc để tang không cản trở việc kết hôn.
Đàn bà goá có quyền tái giá; khi tái giá, quyền lợi của người đàn bà goá về con cái và tài sản được bảo đảm.
Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi.
Cấm kết hôn giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Đối với những người khác có họ trong phạm vi năm đời hoặc có quan hệ thích thuộc về trực hệ, thì việc kết hôn sẽ giải quyết theo phong tục tập quán.
Những người sau đây không được kết hôn: bất lực hoàn toàn về sinh lý; mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc, mà chưa chữa khỏi.
Việc kết hôn phải được Uỷ ban hành chính cơ sở nơi trú quán của bên người con trai hoặc bên người con gái công nhận và ghi vào sổ kết hôn.
Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị về mặt pháp luật.
NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA VỢ CHỒNG
Trong gia đình, vợ chồng đều bình đẳng về mọi mặt.
Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, săn sóc nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ, nuôi dạy con cái, lao động sản xuất, xây dựng gia đình hoà thuận, hành phúc.
Vợ và chồng đều có quyền tự do chọn nghề nghiệp, tự do hoạt động chính trị, văn hoá và xã hội.
Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới.
Khi một bên chết trước, nếu tài sản của vợ chồng cần chia, thì chia như quy định ở Điều 29.
Vợ và chồng đều có quyền thừa kế tài sản của nhau.
QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ CON CÁI
Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái.
Con cái có nghĩa vụ kính yêu, săn sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.
Cha mẹ không được hành hạ con cái, không được đối xử tàn tệ với con dâu, con nuôi, con riêng.
Nghiêm cấm việc vứt bỏ hoặc giết hại trẻ con mới đẻ. Người vứt bỏ hoặc giết hại trẻ con mới đẻ và người gây ra những việc ấy phải chịu trách nhiệm về hình sự.
Con trai và con gái có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình.
Con đã thành niên còn ở chung với cha mẹ được tự do chọn nghề nghiệp, hoạt động chính trị và xã hội và có của riêng, đồng thời có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình.
Cha hoặc mẹ nhận con ngoài giá thú phải khai trước Uỷ ban hành chính cơ sở. Nếu có tranh chấp, Toà án nhân dân sẽ quyết định.
Người con ngoài giá thú được xin nhận cha hoặc mẹ trước Toà án nhân dân.
Người mẹ cũng có quyền xin nhận cha thay cho đứa trẻ chưa thành niên.
Người thay mặt cũng có quyền xin nhận cha hoặc mẹ thay cho đưa trẻ chưa thành niên.
Con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được Toà án nhân dân cho nhận cha, mẹ, có quyền lợi và nghĩa vụ như con chính thức.
Con nuôi có quyền lợi và nghĩa vụ như con đẻ.
Việc nhận nuôi con nuôi phải được Uỷ ban hành chính cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch.
Toà án nhân dân có thể huỷ bỏ việc công nhận ấy, khi bản thân người con nuôi hoặc bất cứ người nào, tổ chức nào yêu cầu, vì lợi ích của người con nuôi.
Khi hai bên vợ chồng xin thuận tình ly hôn, thì sau khi điều tra, nếu xét đúng là hai bên tự nguyện xin lý hôn, Toà án nhân dân sẽ công nhận việc thuận tình ly hôn.
Khi một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra và hoà giải. Hoà giải không được, Toà án nhân dân sẽ xét xử. Nếu tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thì Toà án nhân dân sẽ cho ly hôn.
Trong trường hợp người vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh đẻ được một năm. Điều hạn chế này không áp dụng đối với việc xin ly hôn của người vợ.
Khi ly hôn, cấm đòi trả của.
Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình. Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất.
Khi chia phải bảo vệ quyền lợi của người vợ, của con cái và lợi ích của việc sản xuất.
Khi ly hôn, nếu một bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng, thì bên kia phải cấp dưỡng tuỳ theo khả năng của mình.
Khoản cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng sẽ do hai bên thoả thuận; trường hợp hai bên không thoả thuận với nhau được thì Toà án nhân dân sẽ quyết định. Khi người được cấp dưỡng lấy vợ, lấy chồng khác thì sẽ không được cấp dưỡng nữa.
Vợ chồng đã ly hôn vẫn có mọi nghĩa vụ và quyền lợi đối với con chung.
Khi ly hôn, việc giao cho ai trông nom, nuôi nấng và giáo dục con cái chưa thành niên, phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con cái. Về nguyên tắc, con còn bú phải do mẹ phụ trách. Người không giữ con vẫn có quyền thăm nom, săn sóc con.
Vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi nấng và giáo dục con, mỗi người tuỳ theo khả năng của mình.
Vì lợi ích của con cái, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ hoặc việc góp phần vào phí tổn nuôi nấng, giáo dục con cái.
Việc trông nom, nuôi nấng và giáo dục con cái, việc góp phần vào phí tổn nuôi nấng và giáo dục con cái sẽ do hai bên thoả thuận giải quyết.
Trường hợp hai bên không thoả thuận với nhau được hoặc trong sự thoả thuận xét thấy có chỗ không hợp lý, thì Toà án nhân dân sẽ quyết định.
Những hành vi trái với Luật này sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Luật này có hiệu lực kể từ ngày công bố.
Trong những vùng dân tộc thiểu số, có thể căn cứ vào tình hình cụ thể mà đặt ra những điều khoản riêng biệt đối với Luật này. Những điều khoản riêng biệt ấy phải được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
| Xuân Thủy (Đã ký) |
- 1Quyết định 371-NV năm 1967 bỏ Thông tư hướng dẫn việc đăng ký kết hôn cho cán bộ, công nhân, viên chức, bộ đội, học sinh, sinh viên và đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 2Thông tư 01-TTg/NC-1966 về việc các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước, đơn vị quân đội giúp đỡ thi hành những bản án về hôn nhân và gia đình xử người công nhân, viên chức, quân nhân phải cấp tiền nuôi dưỡng vợ, con do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Luật Hôn nhân và gia đình 1986
- 4Chỉ thị 482-TTg năm 1994 về tổng kết 8 năm thi hành Luật Hôn nhân và gia đình do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 5Chỉ thị 15/2000/CT-TTg thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1Quyết định 371-NV năm 1967 bỏ Thông tư hướng dẫn việc đăng ký kết hôn cho cán bộ, công nhân, viên chức, bộ đội, học sinh, sinh viên và đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành
- 2Thông tư 01-TTg/NC-1966 về việc các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước, đơn vị quân đội giúp đỡ thi hành những bản án về hôn nhân và gia đình xử người công nhân, viên chức, quân nhân phải cấp tiền nuôi dưỡng vợ, con do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Hiến pháp năm 1946
- 4Chỉ thị 482-TTg năm 1994 về tổng kết 8 năm thi hành Luật Hôn nhân và gia đình do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 5Chỉ thị 15/2000/CT-TTg thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Luật Hôn nhân và gia đình 1959
- Số hiệu: 2/SL
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 29/12/1959
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Xuân Thuỷ
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 4
- Ngày hiệu lực: 13/01/1960
- Ngày hết hiệu lực: 03/01/1987
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
