Luật Điện ảnh sửa đổi 2009 được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh năm 2006, tập trung vào việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho các hoạt động điện ảnh, phân định rõ thẩm quyền quản lý nhà nước và nâng cao vai trò, trách nhiệm của các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình trong việc sản xuất, phát sóng và phổ biến phim.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng: Luật này điều chỉnh các hoạt động liên quan đến tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động điện ảnh tại Việt Nam, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất, phát hành, phổ biến phim; các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được cấp phép hoạt động báo chí; các cơ quan quản lý nhà nước về điện ảnh; và các tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hợp tác đầu tư trong lĩnh vực điện ảnh tại Việt Nam.
Hợp tác đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực điện ảnh
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền hợp tác đầu tư với các doanh nghiệp Việt Nam trong các khâu sản xuất, phát hành và phổ biến phim.
- Hình thức đầu tư được phép bao gồm hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) hoặc thành lập doanh nghiệp liên doanh.
- Đối với hình thức liên doanh, tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài bị giới hạn tối đa không vượt quá 51% vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh.
Tiêu chuẩn nhân sự và thủ tục thành lập doanh nghiệp sản xuất phim
- Yêu cầu đối với chức danh Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc doanh nghiệp sản xuất phim phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn năng lực theo quy định pháp luật.
- Hồ sơ đề nghị thành lập doanh nghiệp sản xuất phim bắt buộc phải kèm theo lý lịch của người được đề nghị làm Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, có xác nhận chính thức từ cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
- Bãi bỏ quy định tại khoản 3 Điều 15 của Luật Điện ảnh cũ nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến nhân sự quản lý.
Sản xuất phim sử dụng ngân sách nhà nước và phim truyền hình
- Đối với các dự án phim sử dụng nguồn ngân sách nhà nước, chủ đầu tư bắt buộc phải thành lập Hội đồng thẩm định kịch bản. Đồng thời, chủ đầu tư được quyền quyết định hình thức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu để lựa chọn dự án sản xuất phim tối ưu, bảo đảm chất lượng nghệ thuật và hiệu quả kinh tế - xã hội.
- Việc sản xuất phim truyền hình của Đài Truyền hình Việt Nam và các đài phát thanh - truyền hình địa phương có giấy phép hoạt động báo chí sẽ do người đứng đầu đài quyết định đầu tư và tổ chức sản xuất để phát sóng, tự chịu trách nhiệm phù hợp với quy định pháp luật.
Quản lý hoạt động phát hành, in sang và xuất nhập khẩu phim
- Chỉ được phép bán, cho thuê, in sang hoặc nhân bản các loại phim nhựa, băng phim, đĩa phim đã được cơ quan quản lý nhà nước cấp giấy phép phổ biến hoặc đã có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình.
- Các sản phẩm băng phim, đĩa phim lưu hành trên thị trường bắt buộc phải được dán nhãn kiểm soát của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
- Hoạt động in sang, nhân bản phim phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hợp pháp với chủ sở hữu phim.
- Doanh nghiệp sản xuất phim được quyền xuất khẩu, nhập khẩu phim theo quy định chung. Đối với phim xuất khẩu của Đài Truyền hình Việt Nam, cần có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài; đối với các đài truyền hình địa phương, phim xuất khẩu phải có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước về điện ảnh.
Phổ biến phim và thẩm quyền cấp phép phổ biến
- Hoạt động chiếu phim và phổ biến phim chỉ được thực hiện khi phim đã có giấy phép phổ biến hoặc quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình.
- Phim do các đài truyền hình sản xuất hoặc nhập khẩu đã có quyết định phát sóng sẽ được phép phổ biến rộng rãi trên phạm vi cả nước.
- Chính phủ thực hiện phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp giấy phép phổ biến phim đối với các phim do cơ sở điện ảnh địa phương, cơ sở điện ảnh tư nhân đóng trên địa bàn sản xuất, nhập khẩu, hoặc phim xuất khẩu của đài truyền hình địa phương đã có quyết định phát sóng.
- Người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình có toàn quyền quyết định và chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung phát sóng phim trên đài của mình.
Hội đồng thẩm định phim và hoạt động quảng cáo, liên hoan phim
- Hội đồng thẩm định phim của đài truyền hình do người đứng đầu đài quyết định thành lập. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động của các Hội đồng thẩm định phim.
- Nghiêm cấm việc chiếu toàn bộ nội dung phim để quảng cáo khi phim chưa được cấp giấy phép phổ biến hoặc chưa có quyết định phát sóng. Các đơn vị chỉ được giới thiệu thông tin liên quan trong quá trình chuẩn bị và sản xuất.
- Phim tham gia các liên hoan phim trong nước và quốc tế, hội chợ phim hoặc những ngày phim Việt Nam ở nước ngoài bắt buộc phải có giấy phép phổ biến hoặc quyết định phát sóng.
- Các đài truyền hình được tổ chức liên hoan phim truyền hình sau khi được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Lưu trữ phim, thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm
- Các cơ sở lưu trữ phim thuộc đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình có trách nhiệm thực hiện lưu trữ các bộ phim của chính đài mình sản xuất hoặc phát sóng.
- Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Thanh tra các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về điện ảnh trên phạm vi cả nước và địa phương.
- Luật bổ sung và làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý nghiêm khắc, bao gồm: không thành lập Hội đồng thẩm định kịch bản hoặc không đấu thầu đối với phim sử dụng ngân sách; phát hành, xuất khẩu, chiếu hoặc phát sóng phim khi chưa có giấy phép phổ biến hoặc quyết định phát sóng; nhập khẩu phim sai quy định; cơ sở lưu trữ tự ý bán, cho thuê phim khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu hoặc chưa có giấy phép/quyết định phát sóng.
Thay đổi tên gọi cơ quan quản lý nhà nước
- Thực hiện thay thế đồng loạt cụm từ “Bộ Văn hoá - Thông tin” bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” tại tất cả các điều, khoản liên quan trong Luật Điện ảnh để phù hợp với cơ cấu tổ chức mới của Chính phủ.
Hiệu lực thi hành: Luật Điện ảnh sửa đổi 2009 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2009. Chính phủ chịu trách nhiệm ban hành các quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động điện ảnh trong tình hình mới.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 31/2009/QH12 | Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2009 |
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT ĐIỆN ẢNH
CỦA QUỐC HỘI KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ 5
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật điện ảnh số 62/2006/QH11.
Điều 1.Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật điện ảnh.Sửa đổi, bổ sung
1. Khoản 2 Điều 13 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền hợp tác đầu tư với doanh nghiệp sản xuất phim, doanh nghiệp phát hành phim và doanh nghiệp phổ biến phim của Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc thành lập doanh nghiệp liên doanh.
Đối với hình thức đầu tư thành lập liên doanh thì phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 51% vốn pháp định.”
2. Điểm b khoản 2 và điểm c khoản 3 Điều 14 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. b) Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại
3. c) Lý lịch của người được đề nghị làm Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc doanh nghiệp sản xuất phim có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.”
4. Khoản 3 Điều 24 được sửa đổi, bổ sung như sau:Sửa đổi, bổ sung
“3. Đối với phim sử dụng ngân sách nhà nước, chủ đầu tư dự án sản xuất phim phải thành lập Hội đồng thẩm định kịch bản; được quyết định hình thức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu để lựa chọn dự án sản xuất phim, bảo đảm chất lượng tác phẩm và hiệu quả kinh tế-xã hội.
Chính phủ quy định cụ thể khoản này.”
5. Điều 25 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 25. Sản xuất phim truyền hình
Việc sản xuất phim truyền hình của Đài truyền hình Việt Nam, đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được cấp giấy phép hoạt động báo chí (sau đây gọi chung là đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình) do người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình quyết định đầu tư và tổ chức sản xuất phim để phát sóng trên truyền hình, phù hợp với quy định của pháp luật.”
6. Khoản 2 Điều 28 được sửa đổi, bổ sung như sau:Sửa đổi, bổ sung
“2. Chỉ được bán, cho thuê phim nhựa, băng phim, đĩa phim đã có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc đã có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình; băng phim, đĩa phim phải được dán nhãn kiểm soát của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.”
7. Khoản 2 Điều 29 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Chỉ được in sang, nhân bản để phát hành phim nhựa, băng phim, đĩa phim đã có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc đã có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình. Việc in sang, nhân bản phim nhựa, băng phim, đĩa phim phải có hợp đồng bằng văn bản với chủ sở hữu phim.”
8. Điểm a khoản 1, khoản 3 và khoản 5 Điều 30 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. a) Phim xuất khẩu phải có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh.
Phim xuất khẩu do Đài truyền hình Việt Nam sản xuất phải có quyết định phát sóng của người đứng đầu Đài truyền hình Việt Nam; phim xuất khẩu do đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được cấp giấy phép hoạt động báo chí sản xuất phải có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh.
Băng phim, đĩa phim xuất khẩu phải được dán nhãn kiểm soát của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;
5. Đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được xuất khẩu phim do mình sản xuất, được nhập khẩu phim để phát sóng trên truyền hình.”
9. Khoản 3 Điều 33 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“3. Tổ chức chiếu phim có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc đã có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.”
10. Khoản 1 Điều 35 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Phim có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc đã có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình;”
11. Khoản 3 Điều 37 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“3. Phim do đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình sản xuất và nhập khẩu đã có quyết định phát sóng trên đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được phổ biến trên phạm vi cả nước.”
12. Điểm b và điểm c khoản 1 Điều 38 được sửa đổi, bổ sung như sau:
c) Người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình quyết định và chịu trách nhiệm việc phát sóng phim trên đài truyền hình của mình.”
13. Điểm c khoản 1 Điều 39 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“c) Hội đồng thẩm định phim của đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình do người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình thành lập;”
14. Bổ sung khoản 4 Điều 39 như sau:
“4. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định phim quy định tại khoản 1 Điều 39.”
15. Khoản 2 Điều 40 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Việc quảng cáo về phim được quy định như sau:
a) Doanh nghiệp sản xuất phim, đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được giới thiệu những thông tin liên quan đến bộ phim trong quá trình chuẩn bị và sản xuất;
b) Doanh nghiệp sản xuất phim, đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình không được chiếu toàn bộ nội dung phim để quảng cáo khi chưa có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh, chưa có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.”
16. Điểm d khoản 1 Điều 41, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 41 được sửa đổi, bổ sung như sau:
2. a) Cơ sở sản xuất phim, phát hành phim, phổ biến phim, đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được quyền tham gia liên hoan phim quốc tế, hội chợ phim quốc tế, tổ chức những ngày phim Việt Nam ở nước ngoài;
b) Phim tham gia liên hoan phim quốc tế, hội chợ phim quốc tế, những ngày phim Việt Nam ở nước ngoài phải có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình;”
17. Khoản 2 và khoản 3 Điều 42 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được tổ chức liên hoan phim truyền hình và phải được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chấp thuận, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này. Thủ tục để được chấp thuận thực hiện theo quy định tại
3. Phim tham gia liên hoan phim truyền hình phải có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.”
18. Khoản 4 Điều 46 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“4. Cơ sở lưu trữ phim thuộc đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình lưu trữ phim của đài mình.”
19. Khoản 1 Điều 48 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Thanh tra Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về điện ảnh.”
20. Khoản 6 Điều 49 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“6. Không thành lập Hội đồng thẩm định kịch bản, không tổ chức đấu thầu đối với sản xuất phim sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định tại
21. Các khoản 1, 5 và 7 Điều 50 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Phát hành phim khi chưa có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc chưa có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.
5. Xuất khẩu phim khi chưa có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc chưa có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.
7. Nhập khẩu phim không đúng quy định tại
22. Khoản 1 Điều 51 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Chiếu phim, phát sóng phim chưa có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc chưa có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.”
23. Khoản 6 Điều 52 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“6. Cơ sở lưu trữ phim bán, cho thuê phim khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu phim, chưa có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc chưa có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.”
Thay cụm từ “Bộ Văn hoá - Thông tin” bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” tại khoản 2 và khoản 3 Điều 9, khoản 2 và khoản 3 Điều 14, khoản 2 và khoản 3 Điều 18, khoản 3 Điều 21, khoản 1 và khoản 3 Điều 23, khoản 2 Điều 32, khoản 1 và khoản 2 Điều 38, khoản 1 Điều 39, Điều 41, khoản 1 và khoản 3 Điều 43, khoản 1 và khoản 3 Điều 44, khoản 2 Điều 46, khoản 5 Điều 47, khoản 3 Điều 49, khoản 3 và khoản 6 Điều 50, khoản 3 Điều 51, khoản 7 Điều 52 của Luật điện ảnh.
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2009.
2. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2009.
|
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
- 1Luật Điện ảnh 2006
- 2Văn bản hợp nhất 26/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật điện ảnh do Văn phòng Quốc hội ban hành
- 3Luật Đầu tư 2020
- 4Văn bản hợp nhất 18/VBHN-VPQH năm 2018 hợp nhất Luật Điện ảnh do Văn phòng Quốc hội ban hành
- 5Văn bản hợp nhất 15/VBHN-VPQH năm 2020 hợp nhất Luật Điện ảnh do Văn phòng Quốc hội ban hành
- 6Luật Điện ảnh 2022
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Lệnh công bố Luật điện ảnh sửa đổi năm 2009
- 4Nghị định 54/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật điện ảnh 62/2006/QH11 và luật sửa đổi 31/2009/QH12
Luật Điện ảnh sửa đổi 2009
- Số hiệu: 31/2009/QH12
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 18/06/2009
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Phú Trọng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 373 đến số 374
- Ngày hiệu lực: 01/10/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
