Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1959 được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ nhất, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 31 tháng 12 năm 1959. Đây là văn bản pháp lý đặt nền móng cho việc tổ chức bầu cử cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất theo các nguyên tắc dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động trong giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Luật quy định toàn diện về nguyên tắc bầu cử, tiêu chuẩn cử tri và người ứng cử, việc lập danh sách cử tri, phân chia đơn vị bầu cử, thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử, thủ tục ứng cử, thể thức bỏ phiếu, kiểm phiếu, xác định kết quả bầu cử và các chế tài xử lý vi phạm. Đối tượng áp dụng là mọi công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử, bao gồm cả quân nhân trong Quân đội và Công an nhân dân vũ trang, ngoại trừ các trường hợp bị tước quyền theo quy định của pháp luật hoặc người mất trí.
Nguyên tắc bầu cử và quyền bầu cử, ứng cử của công dân
- Bốn nguyên tắc vàng: Việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
- Quyền bầu cử và ứng cử: Mọi công dân không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú đều có quyền bầu cử (từ 18 tuổi trở lên) và ứng cử (từ 21 tuổi trở lên). Quân nhân tại ngũ cũng được hưởng đầy đủ các quyền này.
- Trường hợp bị tước quyền: Những người bị Toà án hoặc pháp luật tước quyền bầu cử, ứng cử và những người mất trí không có quyền bầu cử và ứng cử.
- Kinh phí tổ chức: Toàn bộ kinh phí phục vụ công tác tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội do ngân sách Nhà nước chi trả.
Quy định về lập, niêm yết và khiếu nại danh sách cử tri
- Nguyên tắc đăng ký: Cử tri cư trú thường trú hoặc tạm trú tại địa phương nào thì được ghi tên vào danh sách cử tri tại địa phương đó. Mỗi cử tri chỉ được ghi tên tại một nơi cư trú duy nhất.
- Cơ quan lập danh sách: Do Uỷ ban hành chính thị xã, khu phố, xã, thị trấn lập theo từng khu vực bỏ phiếu. Đối với các đơn vị Quân đội và Công an nhân dân vũ trang, danh sách do Ban chỉ huy đơn vị lập cho mỗi khu vực bỏ phiếu.
- Thời hạn niêm yết: Chậm nhất là 30 ngày trước ngày bầu cử, danh sách cử tri phải được niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban hành chính hoặc những nơi công cộng của khu vực bỏ phiếu để nhân dân kiểm tra.
- Thủ tục khiếu nại: Trong vòng 20 ngày kể từ ngày niêm yết, công dân có quyền khiếu nại sai sót bằng miệng hoặc bằng văn bản. Cơ quan lập danh sách phải giải quyết trong vòng 3 ngày. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết, cử tri có quyền khiếu nại lên Toà án nhân dân cấp huyện, châu, thị xã hoặc thành phố; Toà án phải giải quyết trong vòng 3 ngày và quyết định của Toà án là chung thẩm.
- Trường hợp di chuyển nơi cư trú: Từ khi công bố danh sách đến ngày bầu cử, nếu cử tri chuyển đi nơi khác thì xin giấy chứng nhận của Uỷ ban hành chính nơi đi để được ghi tên và bỏ phiếu tại nơi mới đến.
Đơn vị bầu cử và phân chia khu vực bỏ phiếu
- Định mức phân bổ đại biểu: Số lượng đại biểu Quốc hội được tính theo tỷ lệ dân số của từng đơn vị bầu cử: cứ 50.000 dân được bầu 1 đại biểu, nếu số lẻ còn lại vượt quá 25.000 dân thì được tính thêm 1 đại biểu. Đối với khu công nghiệp tập trung và thành phố trực thuộc trung ương, tỷ lệ này ưu tiên từ 10.000 đến 30.000 dân được bầu 1 đại biểu.
- Đại biểu dân tộc thiểu số: Số lượng đại biểu dành cho các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 1/7 tổng số đại biểu Quốc hội, do Uỷ ban thường vụ Quốc hội phân bổ nhằm bảo đảm tỷ lệ đại diện tương xứng.
- Xác định đơn vị bầu cử: Đơn vị bầu cử là tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu (không chia tỉnh) và khu công nghiệp tập trung. Những đơn vị có từ 10 đại biểu trở lên có thể chia thành nhiều đơn vị bầu cử nhỏ hơn. Danh sách đơn vị và số đại biểu phải được công bố chậm nhất 2 tháng trước ngày bầu cử.
- Khu vực bỏ phiếu: Mỗi đơn vị bầu cử chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu, mỗi khu vực có từ 500 đến 2.500 dân. Vùng miền núi, hải đảo hoặc các cơ sở y tế, điều dưỡng (có từ 50 cử tri trở lên) được phép thành lập khu vực bỏ phiếu riêng. Các đơn vị vũ trang cũng tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng.
Hệ thống các tổ chức phụ trách bầu cử
- Hội đồng bầu cử (ở Trung ương): Gồm 25 thành viên đại diện cho các chính đảng, đoàn thể, do Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập chậm nhất 55 ngày trước ngày bầu cử. Có nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc việc thi hành luật, giải quyết khiếu nại, tổng hợp kết quả toàn quốc, cấp giấy chứng nhận trúng cử và trình hồ sơ lên Quốc hội.
- Ban bầu cử (ở đơn vị bầu cử): Gồm từ 9 đến 15 thành viên, do Uỷ ban hành chính cấp tỉnh/thành phố thành lập chậm nhất 45 ngày trước ngày bầu cử. Nhiệm vụ chính là kiểm tra Tổ bầu cử, phân phối phiếu bầu, tiếp nhận hồ sơ ứng cử, lập và công bố danh sách người ứng cử, kiểm tra phòng bỏ phiếu và lập biên bản kết quả bầu cử của đơn vị.
- Tổ bầu cử (ở khu vực bỏ phiếu): Gồm từ 5 đến 11 thành viên (đối với quân đội là từ 5 đến 9 người), do Uỷ ban hành chính cấp cơ sở thành lập chậm nhất 20 ngày trước ngày bầu cử. Nhiệm vụ là quản lý phòng bỏ phiếu, phát phiếu bầu, bảo đảm trật tự, kiểm phiếu và lập biên bản kiểm phiếu.
- Nguyên tắc hoạt động: Các tổ chức phụ trách bầu cử không được vận động bầu cử cho bất kỳ người ứng cử nào và tự giải thể sau khi cuộc bầu cử kết thúc.
Quy trình giới thiệu người ứng cử và vận động bầu cử
- Quyền ứng cử: Các chính đảng, đoàn thể nhân dân có thể riêng biệt hoặc liên hiệp giới thiệu người ứng cử. Cá nhân có quyền tự ứng cử. Mỗi người chỉ được đăng ký ứng cử tại một đơn vị bầu cử duy nhất và không được tham gia vào Ban bầu cử hoặc Tổ bầu cử tại đơn vị mình ứng cử.
- Hồ sơ ứng cử: Phải nộp chậm nhất 30 ngày trước ngày bầu cử tại Ban bầu cử, gồm giấy giới thiệu (hoặc đơn tự ứng cử), sơ yếu lý lịch và giấy chứng nhận đủ điều kiện ứng cử.
- Công bố danh sách: Ban bầu cử lập và công bố danh sách người ứng cử chậm nhất 20 ngày trước ngày bầu cử. Mọi khiếu nại về danh sách được giải quyết trong vòng 3 ngày bởi Ban bầu cử, nếu tiếp tục khiếu nại thì Hội đồng bầu cử sẽ ra quyết định cuối cùng trong vòng 3 ngày.
- Quyền vận động bầu cử: Các chính đảng, đoàn thể và mọi công dân có quyền tự do cổ động thông qua mít tinh, hội nghị, báo chí và các hình thức hợp pháp khác. Người ứng cử cũng có quyền tự do cổ động cho bản thân trong khuôn khổ pháp luật.
Thể thức bỏ phiếu và bảo đảm trật tự phòng bỏ phiếu
- Thời gian bỏ phiếu: Tiến hành thống nhất trong một ngày chủ nhật hoặc ngày nghỉ trên cả nước (do Uỷ ban thường vụ Quốc hội công bố trước ít nhất 2 tháng). Giờ bỏ phiếu từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối (có thể mở sớm hoặc đóng muộn tùy địa phương nhưng không quá 10 giờ đêm).
- Nguyên tắc bỏ phiếu: Cử tri phải tự mình đi bầu, không được bầu hộ, bầu thay hoặc gửi thư. Mỗi cử tri chỉ được bỏ một phiếu bầu.
- Hỗ trợ cử tri đặc biệt: Người không biết chữ hoặc tàn tật có thể nhờ người viết hộ hoặc bỏ phiếu hộ vào hòm. Người ốm đau, già yếu được Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ đến tận nhà để bỏ phiếu.
- Bảo mật và trật tự: Tuyệt đối giữ bí mật khi viết phiếu (không ai được đến gần, kể cả nhân viên Tổ bầu cử). Phiếu viết hỏng được đổi phiếu khác. Nghiêm cấm mọi hành vi tuyên truyền, cổ động cho người ứng cử tại phòng bỏ phiếu.
- Trường hợp gián đoạn hoặc hoãn: Nếu có sự cố bất ngờ làm gián đoạn, Tổ bầu cử phải niêm phong hòm phiếu, báo cáo Ban bầu cử để có biện pháp tiếp tục. Việc hoãn ngày bỏ phiếu phải báo cáo Ban bầu cử để trình Hội đồng bầu cử quyết định.
Quy trình kiểm phiếu, xác định kết quả và bầu cử lại, bầu cử thêm
- Kiểm phiếu tại chỗ: Việc kiểm phiếu phải được thực hiện công khai tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi kết thúc bỏ phiếu, dưới sự chứng kiến của hai cử tri không ứng cử. Người ứng cử, người đại diện hợp pháp và phóng viên được phép chứng kiến.
- Phiếu không hợp lệ: Là phiếu không theo mẫu quy định, không có dấu của Tổ bầu cử, hoặc ghi tên người ứng cử vượt quá số lượng đại biểu được bầu.
- Biên bản kiểm phiếu: Tổ bầu cử lập biên bản kiểm phiếu thành hai bản (gửi Ban bầu cử và Uỷ ban hành chính cấp xã). Ban bầu cử tổng hợp biên bản của toàn đơn vị gửi lên Hội đồng bầu cử và Uỷ ban hành chính cấp tỉnh.
- Tiêu chuẩn trúng cử: Người ứng cử phải đạt trên một nửa (quá bán) số phiếu bầu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn theo thứ tự từ cao xuống thấp cho đến khi đủ số lượng đại biểu quy định. Nếu bằng phiếu nhau thì người lớn tuổi hơn trúng cử.
- Bầu cử thêm: Nếu số người trúng cử chưa đủ số lượng quy định trong lần bầu đầu tiên, Ban bầu cử tổ chức bầu cử thêm chậm nhất không quá 15 ngày (chỉ chọn trong số người đã ứng cử nhưng chưa trúng cử).
- Bầu cử lại: Nếu số cử tri đi bầu tại đơn vị bầu cử chưa đạt quá nửa (dưới 50%) tổng số cử tri trong danh sách, Ban bầu cử phải báo cáo Hội đồng bầu cử để tổ chức bầu cử lại chậm nhất không quá 15 ngày.
- Điều kiện nới lỏng khi bầu lại/bầu thêm: Trong cuộc bầu lại hoặc bầu thêm, vẫn sử dụng danh sách cử tri cũ nhưng không áp dụng điều kiện phải đạt quá nửa số phiếu hợp lệ để trúng cử và không yêu cầu phải có quá nửa số cử tri đi bầu để cuộc bầu cử có hiệu lực.
- Tổng kết toàn quốc: Hội đồng bầu cử lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Hội đồng Chính phủ.
- Bầu cử bổ sung: Trong nhiệm kỳ, nếu khuyết đại biểu Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền quyết định ngày bầu cử bổ sung cho đơn vị bầu cử đó.
Chế tài xử lý vi phạm pháp luật bầu cử
- Hành vi cản trở quyền bầu cử: Người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại đến quyền tự do bầu cử và ứng cử của công dân có thể bị phạt tù đến hai năm.
- Hành vi gian lận của người có chức vụ: Nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử hoặc nhân viên chính quyền phạm tội giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc làm sai lệch kết quả bầu cử có thể bị phạt tù đến ba năm.
- Bảo vệ người tố cáo: Mọi công dân có quyền tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật bầu cử. Người nào cản trở hoặc trả thù người tố cáo có thể bị phạt tù đến ba năm.
Hiệu lực thi hành
Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội năm 1959 chính thức bãi bỏ Sắc lệnh số 51-SL ngày 17 tháng 10 năm 1945 cùng toàn bộ các quy định về bầu cử đại biểu Quốc hội được ban hành trước đó. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết thi hành Luật này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú.
Danh sách cử tri ở các đơn vị Quân đội và Công an nhân dân võ trang do các Ban chỉ huy đơn vị Quân đội và Công an nhân dân võ trang lập cho mỗi khu vực bỏ phiếu.
Nếu người khiếu nại hoặc báo cáo chưa đồng ý về cách giải quyết đó, thì có quyền khiếu nại lên Toà án nhân dân huyện, châu, thị xã hoặc thành phố. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Toà án nhân dân phải giải quyết xong; quyết định của Toà án nhân dân là quyết định cuối cùng.
ĐƠN VỊ BẦU CỬ VÀ KHU VỰC BỎ PHIẾU
Số đại biểu định cho mỗi đơn vị bầu cử là căn cứ vào số dân của đơn vị đó: cứ năm vạn (50.000) dân được cử một đại biểu; nếu số lẻ còn lại quá hai vạn năm nghìn (25.000) thì được thêm một đại biểu.
Ở những khu vực công nghiệp tập trung và ở những thành phố trực thuộc trung ương thì có thể từ một vạn (10.000) đến ba vạn (30.000) dân được cử một đại biểu.
Số đại biểu Quốc hội dành cho các dân tộc thiểu số do Uỷ ban thường vụ Quốc hội phân phối, nhằm bảo đảm cho các dân tộc thiểu số có số đại biểu tương xứng trong Quốc hội.
Những tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu hay là khu công nghiệp tập trung, dân số đông, số đại biểu có từ mười người trở lên thì có thể chia thành nhiều đơn vị bầu cử.
Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị và số đại biểu cho mỗi đơn vị do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định, và phải được công bố chậm nhất là hai tháng trước ngày bầu cử.
Đặc biệt ở những nơi như miền núi, hải đảo, v.v... có những thôn, xóm cách xa nhau thì dù số dân chưa tới năm trăm (500) người, cũng có thể thành lập một khu vực bỏ phiếu.
Các nhà thương, nhà đỡ đẻ, nhà an dưỡng, nhà nuôi người tàn tật có từ năm mươi (50) cử tri trở lên, có thể tổ chức thành khu vực bỏ phiếu riêng.
HỘI ĐỒNG BẦU CỬ - BAN BẦU CỬ TỔ BẦU CỬ
Ở trung ương có Hội đồng bầu cử;
Ở mỗi đơn vị bầu cử có Ban bầu cử;
Ở mỗi khu vực bỏ phiếu có Tổ bầu cử.
Hội đồng bầu ra một Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó Chủ tịch, và một hoặc nhiều Thư ký.
Nhiệm vụ và quyền hạn Hội đồng bầu cử như sau:
1- Kiểm tra và đôn đốc việc thi hành luật lệ bầu cử đại biểu Quốc hội trong cả nước;
2- Xét và giải quyết những khiếu nại về công tác của Ban bầu cử,
Tổ bầu cử;
3- Tiếp nhận và kiểm tra biên bản bầu cử do các Ban bầu cử gửi đến, làm biên bản ghi kết quả cuộc bầu cử trong cả nước;
4- Tuyên bố kết quả cuộc bầu cử trong cả nước;
5- Cấp giấy chứng nhận cho đại biểu trúng cử;
6- Trình Quốc hội biên bản tổng kết bầu cử cùng những hồ sơ tài liệu về bầu cử.
Ban bầu cử bầu ra một Trưởng ban, một Phó ban và một hoặc nhiều Thư ký.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban bầu cử như sau:
1- Kiểm tra và đôn đốc các Tổ bầu cử chấp hành đúng đắn luật lệ bầu cử đại biểu Quốc hội;
2- Kiểm tra và đôn đốc việc bố trí các phòng bỏ phiếu;
3- Xét và giải quyết những khiếu nại về công tác của Tổ bầu cử;
4- In và phân phối phiếu bầu cử cho các Tổ bầu cử, chậm nhất là bảy ngày trước ngày bầu cử;
5- Kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri;
6- Tiếp nhận đơn ứng cử, lập và niêm yết danh sách người ứng cử, xét và giải quyết những khiếu nại về việc lập danh sách người ứng cử;
7- Kiểm tra công việc bầu cử tại các phòng bỏ phiếu;
8- Tiếp nhận, kiểm tra biên bản kiểm phiếu do các Tổ bầu cử gửi đến, làm biên bản ghi kết quả bầu cử trong đơn vị để gửi lên Hội đồng bầu cử và tuyêm bố quả đó;
9- Giao tài liệu hồ sơ về bầu cử cho Uỷ ban hành chính các tỉnh, khu (không chia tỉnh), thành phố trực thuộc trung ương.
Tổ bầu cử bầu ra một Tổ trưởng, một Tổ phó và một hoặc nhiều Thư ký.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Tổ bầu cử như sau:
1- Phụ trách công tác bầu cử trong khu vực bỏ phiếu;
2- Bố trí phòng bỏ phiếu và chuẩn bị hòm bỏ phiếu;
3- Phát phiếu bầu cử có đóng dấu của Tổ bầu cử cho các cử tri;
4- Bảo đảm trật tự trong phòng bỏ phiếu;
5- Kiểm phiếu và làm biên bản kiểm phiếu để gửi lên Ban bầu cử;
6- Giao biên bản kiểm phiếu và tất cả những phiếu bầu cho Uỷ ban hành chính thị xã, khu phố, xã, thị trấn.
1- Giấy giới thiệu người ứng cử;
2- Đơn ứng cử của những người được giới thiệu, có ghi tên, tuổi, nghề nghiệp, nguyên quán, địa chỉ, nơi ra ứng cử;
3- Giấy chứng nhận người ứng cử có đủ điều kiện ứng cử.
Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử, cá nhân tự ra ứng cử phải nộp tại Ban bầu cử, đơn ứng cử và giấy chứng nhận có đủ điều kiện ứng cử.
Khi nhận đơn ứng cử, Ban bầu cử phải cấp giấy biên nhận.
Người ứng cử có quyền tự do cổ động cho bản thân mình trong phạm vi pháp luật.
Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật hay là ngày nghỉ và do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ấn định và công bố ít nhất là hai tháng trước ngày ấy.
Mỗi cử tri chỉ có quyền bỏ một phiếu bầu.
Cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật, không thể đến phòng bỏ phiếu được, có thể đề nghị Tổ bầu cử mang hòm phiếu và phiếu bầu đến tận nhà mình để bỏ phiếu. Trường hợp này, Tổ bầu cử có thể tổ chức hòm bỏ phiếu phụ để đem đến nhà cử tri tiếp nhận phiếu bầu.
Trong ngày bầu cử, cuộc bỏ phiếu phải liên tục. Nếu có trường hợp bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử lập tức phải niêm phong các giấy tờ và hòm phiếu lại, báo cáo cho Ban bầu cử biết, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để tiếp tục lại cuộc bỏ phiếu.
Người ứng cử (hoặc người được người ứng cử chính thức uỷ nhiệm) và các phóng viên báo chí, điện ảnh, nhiếp ảnh được vào xem kiểm phiếu.
1- Không phải là phiếu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát;
2- Không có dấu của Tổ bầu cử;
3- Ghi tên người ứng cử quá số đại biểu được bầu.
Tổ bầu cử không được xoá hoặc chữa các tên ghi trên phiếu bầu.
Những khiếu nại tại chỗ về việc kiểm phiếu do Tổ bầu cử tiếp nhận, giải quyết và ghi cách giải quyết vào biên bản. Nếu Tổ không giải quyết được thì phải đưa lên Ban bầu cử để giải quyết.
- Tổng số cử tri,
- Số cử tri đã đi bầu,
- Số phiếu hợp lệ,
- Số phiếu không hợp lệ,
- Số phiếu trắng tức là phiếu mà tên họ tất cả các người ứng cử đều bị gách xoá,
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử,
- Những khiếu nại nhận được và cách giải quyết, những khiếu nại chưa giải quyết được.
Biên bản làm thành hai bản có chữ ký của Tổ trưởng, Thư ký và hai cử tri được mời chứng kiến cuộc kiểm phiếu. Một bản gửi đến Ban bầu cử, một bản gửi đến Uỷ ban hành chính thị xã, khu phố, xã hoặc thị trấn.
Biên bản phải ghi rõ:
- Số đại biểu Quốc hội ấn định cho đơn vị bầu cử,
- Số người ứng cử,
- Tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử,
- Số cử tri đã đi bầu, tỷ lệ so với tổng số,
- Số phiếu hợp lệ,
- Số phiếu không hợp lệ,
- Số phiếu trắng tức là phiếu mà tên họ tất cả các người ứng cử đều bị gách xoá,
- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử,
- Danh sách những người trúng cử,
- Những khiếu nại do Tổ bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại do Ban bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại chuyển lên cấp trên để giải quyết.
Biên bản làm thành hai bản, có chữ ký của Trưởng ban, Phó ban và các Thư ký. Một bản gửi lên Hội đồng bầu cử, một bản gửi lên Uỷ ban hành chính thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh hoặc khu.
Biên bản tổng kết phải ghi rõ:
- Tổng số đại biểu Quốc hội,
- Tổng số người ứng cử,
- Tổng số cử tri,
- Số cử tri đã đi bầu, tỷ lệ so với tổng số,
- Số phiếu hợp lệ,
- Số phiếu không hợp lệ,
- Số phiếu trắng tức là phiếu mà tên họ tất cả các người ứng cử đều bị gách xoá,
- Danh sách những người trúng cử, và số phiếu bầu cho mỗi người,
- Các việc quan trọng đã xảy ra và cách giải quyết.
Biên bản làm thành hai bản, có chữ ký của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và Thư ký của Hội đồng bầu cử. Một bản gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội, một bản gửi đến Hội đồng Chính phủ.
| Xuân Thủy (Đã ký) |
- 1Quyết định 52-CP năm 1967 về việc điều chỉnh thời gian tiến hành một số công tác bầu cử Hội đồng nhân dân do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2Sắc lệnh số 71-SL về thể lệ tổng tuyển cử do Chính Phủ lâm thời ban hành.
- 3Sắc lệnh số 51 năm 1945 về việc ấn định thể lệ cuộc tổng tuyển cử do Chủ tịch nước ban hành
- 4Sắc lệnh số 76 về việc hoãn cuộc tổng tuyển cử đến ngày 6-1-1946 do Chủ tịch chính phủ ban hành
- 5Sắc lệnh số 66/SL về việc đặc cách cử ông Phạm Văn Thân làm Phó Chủ tịch huyện Nga sơn (Thanh hoá) do Chủ tịch Chính phủ ban hành
- 6Sắc lệnh số 29/SL về việc cho phép bầu lại Hội đồng nhân dân tỉnh do Chủ tịch nước ban hành
- 7Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội 1980
- 8Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1992
- 1Quyết định 52-CP năm 1967 về việc điều chỉnh thời gian tiến hành một số công tác bầu cử Hội đồng nhân dân do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2Thông tư 32-TTg-1976 hướng dẫn thi hành Luật bầu cử đại biểu Quốc hội ở miền Bắc trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
- 3Sắc lệnh số 71-SL về thể lệ tổng tuyển cử do Chính Phủ lâm thời ban hành.
- 4Thông tư 328-TTg-1974 hướng dẫn thi hành Luật bầu cử đại biểu Quốc hội cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa V sẽ tổ chức vào ngày chủ nhật, mùng 06/04/1975 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 5Sắc lệnh số 76 về việc hoãn cuộc tổng tuyển cử đến ngày 6-1-1946 do Chủ tịch chính phủ ban hành
- 6Hiến pháp năm 1946
- 7Sắc lệnh số 66/SL về việc đặc cách cử ông Phạm Văn Thân làm Phó Chủ tịch huyện Nga sơn (Thanh hoá) do Chủ tịch Chính phủ ban hành
- 8Sắc lệnh số 29/SL về việc cho phép bầu lại Hội đồng nhân dân tỉnh do Chủ tịch nước ban hành
- 9Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1992
Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội 1959
- Số hiệu: 3/SL
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 31/12/1959
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Xuân Thuỷ
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 4
- Ngày hiệu lực: 13/01/1960
- Ngày hết hiệu lực: 20/12/1980
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
