Công văn về việc bán và thanh toán tín phiếu Kho bạc đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước (NHNN) khi đến hạn là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng nhằm điều phối hoạt động phát hành, đấu thầu và hoàn trả công cụ nợ ngắn hạn của Chính phủ trên thị trường tiền tệ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia vào quá trình đấu thầu, mua bán và thanh toán tín phiếu Kho bạc qua hệ thống giao dịch của Ngân hàng Nhà nước.
Các nội dung cốt lõi của văn bản (Điều 1 - Điều 4)
- Quy trình bán và đấu thầu tín phiếu Kho bạc (Điều 1): Quy định chi tiết về phương thức đấu thầu tín phiếu Kho bạc qua Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước. Nội dung bao gồm việc thông báo phát hành, tiếp nhận đơn thầu, xác định kết quả đấu thầu (khối lượng trúng thầu, lãi suất trúng thầu) và hạch toán chuyển giao quyền sở hữu tín phiếu cho các tổ chức trúng thầu.
- Phương thức thanh toán tiền mua tín phiếu (Điều 2): Hướng dẫn quy trình chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi của các tổ chức tín dụng trúng thầu mở tại Ngân hàng Nhà nước sang tài khoản của Kho bạc Nhà nước. Quy định rõ thời hạn hoàn tất thanh toán tiền mua tín phiếu để đảm bảo tính kịp thời và kỷ luật thị trường.
- Thanh toán tín phiếu Kho bạc khi đến hạn (Điều 3): Thiết lập cơ chế thanh toán gốc và lãi cho chủ sở hữu tín phiếu khi công cụ nợ này đáo hạn. Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm chuyển đủ nguồn vốn thanh toán cho Ngân hàng Nhà nước để thực hiện trích xuất, phân bổ tự động hoặc thủ công vào tài khoản của các tổ chức tín dụng thụ hưởng.
- Trách nhiệm phối hợp và xử lý phát sinh (Điều 4): Phân định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của từng cơ quan. Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm vận hành hệ thống đấu thầu và thanh toán an toàn; Kho bạc Nhà nước đảm bảo nguồn tiền chi trả; các tổ chức tín dụng có trách nhiệm tuân thủ quy chế giao dịch và thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn.
Hiệu lực thi hành
Văn bản hướng dẫn các đơn vị trực thuộc và các thành viên thị trường nghiêm túc thực hiện các quy định nêu trên kể từ ngày ban hành nhằm bảo đảm an toàn hệ thống thanh toán và tính thanh khoản của thị trường tài chính.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 170/CV-NH14 | Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 1995 |
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC SỐ 170/CV-NH14 NGÀY 20 THÁNG 4 NĂM 1995
| Kính gửi: | - Các thành viên Thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc |
Ngày 8 tháng 3 năm 1995, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký Quyết định số 61/QĐ-NH19 ban hành Quy chế tổ chức đấu thầu tín phiếu Kho bạc. Nay Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tiếp việc bán tín phiếu Kho bạc sau khi trúng thầu và thanh toán tín phiếu Kho bạc đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước khi đến hạn như sau:
1. Việc bán tín phiếu Kho bạc (loại chứng chỉ) sau khi trúng thầu.
Các thành viên Thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc sau khi trúng thầu nếu bán lại tín phiếu Kho bạc (loại chứng chỉ) cho các tổ chức, cá nhân hoặc thành viên khác trên thị trường phải thực hiện các công việc sau:
1.1. Đóng dấu giáp lai và tên thành viên vào tín phiếu.
- Dùng dấu hành chính của thành viên đóng giáp lai vào mặt sau (giữa phần cuống và phần thân) tờ tín phiếu;
- Đóng dấu tên của thành viên vào mặt sau (ở góc trên phía trái phần thân) tờ tín phiếu.
Dấu tên phải ghi đầy đủ, rõ ràng để người có tín phiếu Kho bạc khi đến hạn thanh toán xác định được người có trách nhiệm thanh toán tín phiếu đó.
Các việc này chỉ thực hiện đối với các tín phiếu Kho bạc được thành viên trúng thầu bán lần đầu cho các tổ chức, cá nhân hoặc các thành viên khác trên thị trường.
1.2. Giao tín phiếu.
Khi giao tín phiếu cho người mua, thành viên trúng thầu cắt và lưu lại phần cuống để dùng xác minh khi cần thiết. Nếu người mua là các tổ chức cử người đại diện nhận tín phiếu thì thành viên bán phải kiểm tra các giấy tờ của người nhận tín phiếu để đảm bảo giao đúng người mua.
2. Việc thanh toán tín phiếu Kho bạc khi đến hạn.
2.1. Các thành viên trúng thầu đã bán tín phiếu và các chi nhánh của mình hoặc các thành viên và chi nhánh của mình nhận uỷ nhiệm thanh toán tín phiếu cho các thành viên trúng thầu có trách nhiệm thanh toán những tín phiếu Kho bạc do chính thành viên trúng thầu đó đã bán ra cho các tổ chức và cá nhân (sau khi kiểm tra nếu đúng là tín phiếu thật, có dấu giáp lai và tên của thành viên trúng thầu).
Việc thanh toán phải tiến hành đầu đủ, kịp thời khi các tổ chức, cá nhân đến thanh toán.
Phí uỷ nhiệm thanh toán do bên bán và bên nhận uỷ nhiệm thoả thuận với nhau.
Quá hạn thanh toán, các tín phiếu Kho bạc vẫn được bảo lưu và chỉ được thanh toán theo mệnh giá ghi trên tờ tín phiếu.
2.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước: Việc thanh toán tín phiếu Kho bạc đến hạn cho các thành viên và chi nhánh của các thành viên Thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc được thực hiện tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước và các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố - nơi thành viên, chi nhánh của thành viên mở tài khoản.
Tín phiếu Kho bạc được thanh toán là tín phiếu Kho bạc đã được kiểm tra đúng là tín phiếu thật đến hạn thanh toán do thành viên, chi nhánh của thành viên đưa đến Ngân hàng Nhà nước để thanh toán, không phân biệt tín phiếu Kho bạc đó do thành viên nào bán ra lần đầu.
Đối với tín phiếu Kho bạc quá hạn thanh toán, được bảo lưu và thanh toán như đã nêu ở điểm 2.1.
Các thành viên Thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc (và chi nhánh của mình), Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước và chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố phải tổ chứ tốt việc thanh toán tín phiếu Kho bạc khi đến hạn.
Trong quá trình thực hiện các quy định trên đây nếu có gì vướng mắc, các đơn vị cần phản ảnh kịp thời về Ngân hàng Nhà nước Trung ương để xem xét, giải quyết.
|
| Chu Văn Nguyễn (Đã ký) |
Công văn về việc bán và thanh toán tín phiếu Kho bạc đấu thầu qua NHNN khi đến hạn
- Số hiệu: 170/CV-NH14
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 20/04/1995
- Nơi ban hành: Ngân hàng Nhà nước
- Người ký: Chu Văn Nguyễn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/04/1995
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
