Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã ban hành Chỉ thị số 03/2008/CT-UBND về hoạt động đo đạc và bản đồ - sử dụng tư liệu bản đồ trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa nhằm chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực đo đạc, bản đồ và quản lý thông tin tư liệu địa lý.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Chỉ thị này áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến đo đạc và bản đồ, cũng như việc khai thác, sử dụng tư liệu bản đồ trên phạm vi toàn tỉnh Khánh Hòa.
Nội dung cốt lõi của Chỉ thị
1. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ
- Giao Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động đo đạc và bản đồ trên địa bàn.
- Tổ chức rà soát, kiểm tra năng lực hành nghề của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đo đạc và bản đồ; thực hiện việc cấp, thu hồi giấy phép hoạt động theo đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật.
- Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ.
2. Thống nhất quản lý và sử dụng tư liệu bản đồ
- Yêu cầu tất cả các công trình, dự án có sử dụng ngân sách nhà nước khi triển khai công tác đo đạc, lập bản đồ phải áp dụng thống nhất Hệ quy chiếu và Hệ tọa độ quốc gia VN-2000.
- Các cơ quan, đơn vị chủ đầu tư chỉ được phép sử dụng các nguồn tư liệu bản đồ đã được nghiệm thu, thẩm định chất lượng bởi cơ quan có thẩm quyền để phục vụ cho công tác quy hoạch, quản lý đất đai, xây dựng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
- Nghiêm cấm việc sử dụng các tài liệu, bản đồ không rõ nguồn gốc, chưa qua kiểm định chất lượng hoặc chưa được phép lưu hành.
3. Trách nhiệm của các Sở, ban, ngành và địa phương
- Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm xây dựng, cập nhật và quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu đo đạc và bản đồ của tỉnh; cung cấp kịp thời thông tin, tư liệu bản đồ cho các ngành, các cấp khi có yêu cầu theo quy định.
- Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố có trách nhiệm quản lý, bảo vệ các dấu mốc đo đạc chuyên dụng và mốc đo đạc quốc gia trên địa bàn; tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ mốc giới.
- Các chủ đầu tư dự án có hạng mục đo đạc và bản đồ phải thực hiện việc đăng ký kế hoạch đo đạc, giao nộp sản phẩm đo đạc và bản đồ vào lưu trữ lịch sử theo đúng quy định hiện hành trước khi quyết toán công trình.
Hiệu lực thi hành
Chỉ thị số 03/2008/CT-UBND có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký ban hành. Các Sở, ban, ngành trực thuộc tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc Chỉ thị này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| ỦY BAN NHÂN DÂN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 03/2008/CT-UBND | Nha Trang, ngày 19 tháng 02 năm 2008 |
CHỈ THỊ
VỀ HOẠT ĐỘNG ĐO ĐẠC VÀ BẢN ĐỒ - SỬ DỤNG TƯ LIỆU BẢN ĐỒ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA
Ngày 22/01/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/2002/NĐ-CP về hoạt động đo đạc và bản đồ, nhằm chấn chỉnh và đưa hoạt động này vào nề nếp, tạo ra sự chuyển biến căn bản về nhận thức và ý thức chấp hành của các cá nhân, tổ chức đối với quy định của pháp luật về đo đạc và bản đồ cũng như việc khai thác và sử dụng hệ thống tư liệu về đo đạc và bản đồ.
Sau khi Nghị định số 12/2002/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động đo đạc và bản đồ có hiệu lực thi hành các hoạt động đo đạc và bản đồ; quản lý, sử dụng và bảo vệ công trình xây dựng đo đạc; lập bản đồ địa chính; đăng ký và cấp phép hoạt động đo đạc và bản đồ; việc tổ chức và lưu trữ sản phẩm đo đạc và bản đồ; hệ thống tư liệu bản đồ đã thực hiện ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt động đo đạc và bản đồ của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh còn hạn chế nhất định như: một số tổ chức, cơ quan, cá nhân chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác đo đạc và bản đồ cũng như giá trị của tài liệu lưu trữ đo đạc và bản đồ; việc chấp hành các quy định về lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình, nộp sản phẩm đo đạc và bản đồ đã được thẩm định, nghiệm thu vào hệ thống lưu trữ tư liệu đo đạc và bản đồ chưa thực hiện nghiêm túc; việc đăng ký hoạt động đo đạc và bản đồ của một số cơ quan, tổ chức chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Để tiếp tục thực hiện tốt công tác đo đạc và bản đồ - sử dụng tư liệu bản đồ trên địa bàn tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, các tổ chức kinh tế và cá nhân có liên quan thực hiện các nội dung sau:
1. Các tổ chức và cá nhân (trong và ngoài nước) khi tiến hành hoạt động đo đạc và bản đồ phải có giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép theo quy định của pháp luât.
2. Việc thành lập các loại sản phẩm bản đồ chuyên đề phải dựa vào các lớp thông tin lấy từ hệ thống bản đồ nền, bản đồ địa hình quốc gia, bản đồ hành chính do cơ quan nhà nước về đo đạc và bản đồ thành lập. Trong trường hợp cần sử dụng thông tin nền khác phải được sự đồng ý của Sở Tài nguyên và Môi trường.
3. Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nội vụ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm cung cấp và hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân được phép thành lập, xuất bản bản đồ ở địa phương các tài liệu, bản đồ địa giới hành chính để thể hiện chính xác đường địa giới hành chính lên bản đồ.
4. Mọi tổ chức và cá nhân không được tự tiện sử dụng công trình xây dựng đo đạc nếu không được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước về đo đạc và bản đồ ở Trung ương hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường theo sự phân cấp; khi sử dụng phải báo cáo với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nới có dấu mốc, trong quá trình sử dụng phải giữ gìn bảo vệ dấu mốc đo đạc, không làm hư hỏng, sử dụng xong phải khôi phục lại tình trạng như ban đầu.
5. Cơ quan, tổ chức được giao thực hiện các công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ bằng nguồn ngân sách nhà nước phải quản lý kế hoạch hàng năm trên cơ sở dự án (thiết kế kỹ thuật - dự toán) được lập theo các quy phạm kỹ thuật và định mức kinh tế kỹ thuật do cơ quan quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ ban hành; và phải áp dụng hệ tọa độ VN-2000 theo kinh tuyến trục cho hệ thống bản đồ địa chính tại Khánh Hòa là 108030’.
6. Sau khi hoàn thành các dự án đo đạc và bản đồ, chủ đầu tư dự án phải giao nộp bản sao thành quả cho cơ quan quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ.
7. Thông tin tư liệu đo đạc và bản đồ về hệ thống điểm đo đạc cơ sở, cơ sở dữ liệu địa lý và hệ thống thông tin đất đai phục vụ mục đích chuyên dụng trọng phạm vi địa bàn tỉnh được cập nhật tại cơ quan Tài nguyên và Môi trường theo phân cấp và được cung cấp cho các đối tượng sử dụng theo quy định của pháp luật.
8. Các tổ chức hoạt động đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh phải thực hiện nghiêm túc chế độ đăng ký và báo cáo Sở Tài nguyên và Môi trường về kết quả hoạt động đo đạc và bản đồ hàng năm theo quy định của pháp luật.
9. Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện kiểm tra, thẩm định chất lượng công trình, sản phẩm đo đạc và bản đồ địa chính, bản đồ chuyên dụng khác trên địa bàn tỉnh.
Chỉ thị này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký ban hành./.
| | TM. ỦY BAN NHÂN DÂN |
Chỉ thị 03/2008/CT-UBND về hoạt động đo đạc và bản đồ - sử dụng tư liệu bản đồ trên địa bàn tỉnh Khánh hòa do Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa ban hành
- Số hiệu: 03/2008/CT-UBND
- Loại văn bản: Chỉ thị
- Ngày ban hành: 19/02/2008
- Nơi ban hành: Tỉnh Khánh Hòa
- Người ký: Võ Lâm Phi
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 29/02/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
