Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2026/DS-PT

Ngày: 02 – 02 – 2026

V/v: Tranh chấp thừa kế, Quyền sử dụng

đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Đào Thị Thủy.
Các Thẩm phán:Bà Võ Bích Hải
Ông Phạm Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 29 tháng 01 và ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 462/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp thừa kế, Quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2025/DS-ST, ngày 03 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 45/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 45/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Phạm Văn C, sinh năm 1965

    Địa chỉ: Ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ

    Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lâm Phú T, sinh năm 1964

    Địa chỉ: Số B, đường T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản uỷ quyền ngày 26/02/2025). Có mặt.

  2. Bị đơn:
    1. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1974. Có mặt
    2. Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1977. Vắng mặt

    Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Phạm Văn V, sinh năm 1966. Có mặt
    2. Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1991. Vắng mặt

    Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ

    1. Văn phòng C1. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt

    Đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T2, chức vụ: Trưởng văn phòng

    Địa chỉ: số F khu B, trung tâm thương mại, ấp V, thị trấn V, huyện V, Tp Cần Thơ

  4. Người kháng cáo: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Văn H

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn ông C trình bày tại đơn khởi kiện ngày 14/12/2022 và trong quá trình giải quyết như sau:

Cha của ông là ông Phạm Văn H1, chết ngày 16/9/2022 và mẹ là bà Đặng Thị L, chết ngày 04/01/2010, không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: ông Phạm Văn V; Phạm Văn C; Phạm Văn H; Phạm Văn T1. Ngoài ra, cha mẹ không có ai có con nuôi con riêng gì khác, ông bà nội, ngoại đều đã chết từ lâu.

Lúc sinh thời cha mẹ có tạo lập được 02 thửa đất, cụ thể thửa 189, diện tích 200m² đất ở tại nông thôn; Thửa số 188, diện tích 2.247m², gồm 2.134m² đất CLN, 113 m² đất chuyên trồng lúa nước. Khi còn sống, cha ông có cho riêng ông 0 cái nền diện tích ngang 05m x dài 22m = 110m², hai bên có làm “Tờ cho đất” ngày 19/5/2022, do loại đất CLN nên hạn mức tách thửa đất không được nên phần đất này vẫn chưa tách Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được, phần đất tại thửa số 188, tờ bản đồ số 05, khi cho các anh em đều biết, ông Phạm Văn T1 có ký tên chứng nhận. Hiện toàn bộ phần đất nêu trên thì ông Phạm Văn T1 và ông Phạm Văn H đều quản lý, sử dụng, nhưng anh em không tự thoả thuận phân chia, nhiều lần xảy ra mâu thuẫn trong anh em, đến mức không ai nhìn mặt ai. Vì vậy nay ông C khởi kiện yêu cầu:

  • Được công nhận diện tích 110m², ngang 5m x dài 22m, thuộc 01 phần thửa đất số 188, tờ bản đồ số 05, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 02551, cấp ngày 21/5/2019 cho ông Phạm Văn H1 (chết) đứng tên quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn C, theo tờ cho đất ngày 19/5/2022.
  • Phần còn lại yêu cầu Toà án chia thừa kế quyền sử dụng đất thửa số 189, tờ bản đồ số 05, diện tích 200m², loại đất ở tại nông thôn, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 01988, do Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho ông Phạm Văn H1 (chết), ngày 04/01/2016 và thửa số 188, tờ bản đồ số 05, diện tích 2.247m², gồm 2.134m² là đất CLN; 113m² là đất chuyên trồng lúa nước, theo qui định của pháp luật thành 04 suất bằng nhau. Ông yêu cầu được nhận ¼ trong tổng số diện tích trên, cụ thể: Trong thửa 189, ông yêu cầu được chia diện tích 200m²/4 = 50m², loại đất ONT. Thửa 188 ông yêu cầu được chia diện tích 2115m²/4 = 528,75m², loại đất CLN và 132m²/4 = 33m², loại đất LUC.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phạm Văn H trình bày:

Ông H là con ruột của cụ H1 và cụ Đặng Thị L. Ông cũng thừa nhận trước khi cha mẹ chết không thể lại di chúc. Phần đất ông làm nhà và đang ở là thuộc diện nhà đại đoàn kết Nhà nước cấp cho ông, khi cha ông còn sống đã cho ông phần đất đó có lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 4115, quyển số 11/2017/TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 09/8/2017 nhưng chưa sang tên tách giấy, diện tích cũng không rõ là bao nhiêu, nhưng tính từ lộ giao thông đến giáp phần mộ phía sau nhà ông đang ở. Nay ông H yêu cầu:

  • Được công nhận phần đất theo hiện trạng thực tế hiện nay ông đang ở theo đúng vị trí, kích thước và diện tích đo đạc thực tế do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thể hiện.
  • Đối với phần thừa kế nếu ông được chia thì ông không nhận xin nhường để lại cho em ông là Phạm Văn T1 thừa hưởng, để lo cho gia đình. Còn phần đất diện tích 110m² phần ông C trình bày thì cha ông là H1 còn sống có cho ông C phần đất này hay không thì ông không biết. Đối với yêu cầu chia thừa kế của ông C thì ông đề nghị giải quyết theo qui định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phạm Văn T1 trình bày:

  • Đối với yêu cầu của ông C công nhận phần đất có diện tích 110m², thuộc thửa số 188, thì ông cũng đồng ý công nhận phần diện tích đất đó cho ông C, nhưng trên phần đất ông C yêu cầu thì trước đây có nhà và vật kiến trúc của gia đình ông trên đất, ông C từng hứa với ông nếu di dời ông C hỗ trợ 01 cái nền nhà, còn giá trị bao nhiêu thì ông C không có nói, ông đã di dời rồi, nên ông yêu cầu ông C phải hỗ trợ cho ông số tiền là 70.000.000đ.
  • Đối với phần đất hiện ông T1 đang ở trên đất, ông T1 yêu cầu được công nhận theo vị trí, kích thước, diện tích do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C đo vẽ, không đồng ý chia thừa kế

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Phạm Văn V trình bày:

Ông là anh ruột của ông C, ông H, ông T1, cha ông là ông Phạm Văn H1, chết năm 2022, mẹ là bà Đặng Thị L, chết năm 2010, không để lại di chúc. Nguồn gốc thửa số 188, 189 là do cha mẹ nhận chuyển nhượng lại của người khác mà có, đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Thửa số 188, có 03 phần, phần nhà ông H, nhà ông T1 và một phần đất trống, phần đất trống đó các anh em thống nhất chia cho ông C, như bản trích đo địa chính của Trung tâm K thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C thể hiện, còn thửa số 189 hiện do ông T1 đang quản lý phần đất đó, ông T1 đã trồng cây ăn trái trên phần đất đó. Ông yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

  • Đối với thửa đất số 188 đề nghị Toà án công nhận theo bản đo đạc của Toà án đã thành lập đoàn cho các nguyên, bị đơn, ông không yêu cầu chia thửa đất đó, ông biết phần này trước đây cha mẹ còn sống đã cho T1, H, C mỗi người một phần, như hiện trạng đo đạc, nên ông không yêu cầu chia liên quan đến thửa 188 nữa.
  • Đối với thửa số 189, ông yêu cầu chia thừa kế theo quy định pháp luật vì trước đến nay ông không được chia gì cả, Ông thống nhất với bản trích đo, biên bản đo đạc, định giá do Toà án lập để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn V1 trình bày:

Đối với phần đất thửa số 683, ông nhận chuyển nhượng của ông H1 và năm 2019. Giá chuyển nhượng là 90 triệu, hiện ông đã sang đứng tên được cơ quan có thẩm quyền chỉnh lý sang tên hợp lệ, hiện tại ông đã làm nhà ở. Phần trước của thửa số 683, được thể hiện trong Bản trích đo địa chính ngày 15/5/2023 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và Môi trường thành phố C thể hiện phần (H) có diện tích 35,8m², phần đất đó ông đã sử dụng lâu rồi, nhưng phần đó còn thể hiện trong giấy là thửa số 188, ông H1 (chết) đang đứng tên quyền sử dụng.

Qua yêu cầu khởi kiện của các đương sự, ông yêu cầu được công nhận phần đất 35,8m², cho ông. Đồng thời, ông V1 cũng đã có đơn yêu cầu độc lập về việc yêu cầu Toà án công nhận phần diện tích 35,8m², trong thửa 188, cho ông (vì phần này nằm trước nhà ông, hiện là lối vào duy nhất vào nhà ông).

Văn phòng C1, có ý kiến trình bày tại văn bản số 04/CV-VPCC, ngày 19/3/2025 như sau:

Việc Toà án xét xử vụ việc tranh chấp giữa các đương sự có liên quan đến hợp đồng đã được công chứng số công chứng 4115, quyển số 11/2017/TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 09/8/2017, kết quả công nhận hợp đồng, hay tuyên bố vô hiệu hoặc huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được công chứng tại Văn phòng C1, thì Văn phòng C1 cũng không có ý kiến gì. Văn phòng C1 yêu cầu được vắng mặt trong tất cả các lần Toà án triệu tập của các cấp Toà án trong vụ án tranh chấp nêu trên.

Tại Bản án sơ thẩm số: 26/2025/DS-ST ngày 03/6/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn C

Xác định diện tích theo đo đạc thực tế thửa 189 là: 200m², loại đất ONT; Thửa số 188, diện tích theo đo đạc thực tế là 1.910m², loại đất CLN và LUC, đất do ông Phạm Văn H1 (chết), đứng tên quyền sử dụng đất là di sản thừa kế.

Xác định ông Phạm Văn H1 chết ngày 16/09/2022, không để lại di chúc.

Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Phạm Văn H1 gồm 04 người con ruột: Ông Phạm Văn V, ông Phạm Văn C, ông Phạm Văn H, ông Phạm Văn T1.

- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn V1:

Công nhận diện tích 35,8m², loại đất LUC, trong thửa 188 (ký hiệu trong bản trích đo địa chính là phần (H) ông Nguyễn Văn V1 đang quản lý sử dụng cho ông Nguyễn Văn V1.

Ông Nguyễn Văn V1 có trách nhiệm trả lại ¼ giá trị quyền sử dụng cho Phạm Văn T1 là: 2.685.000₫ (Hai triệu, sáu trăm tám mươi lăm ngàn đồng)

Công nhận diện tích: 2,7m² loại đất ONT, trong thửa 189 và diện tích 152,7m² loại đất CLN + LUC trong thửa 188 (có 48,7m² đất LUC trong HLLG), do ông Phạm Văn H đang quản lý sử dụng cho ông Phạm Văn H.

Ông Phạm Văn T1 có trách nhiệm thối lại giá trị phần chênh lệch thiếu cho ông Phạm Văn H là: 459.740.000₫ – 110.900.000đ = 348.840.000₫ (Ba trăm bốn mươi tám triệu, tám trăm bốn mươi ngàn đồng).

Chia giá trị quyền sử dụng đất một suất thừa kế cho ông Phạm Văn C, buộc ông Phạm Văn T1 có trách nhiệm trả giá trị quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn C là: 459.740.000₫ (Bốn trăm năm mươi chín triệu, bảy trăm bốn mươi ngàn đồng).

Chia giá trị quyền sử dụng đất một suất thừa kế cho ông Phạm Văn V, buộc ông Phạm Văn T1 có trách nhiệm trả giá trị quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn V là: 459.740.000₫ (Bốn trăm năm mươi chín triệu, bảy trăm bốn mươi ngàn đồng).

Giao toàn bộ phần đất còn lại sau khi đã công nhận, giao các đương sự trên, diện tích còn lại cụ thể là: Thửa 189, diện tích 197,3m², loại đất ONT {ký hiệu trong bản trích đo địa chính là phần (A) (B) (D)}; Thửa 188, diện tích 1.736,6m², loại đất CLN, LUC, DGT {ký hiệu trong bản trích đo địa chính là phần (F), (G), (I) (J), cho ông Phạm Văn T1.

Trong quá trình sử dụng phần đất đã được công nhận, giao các đương sự có nhu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đáp ứng đủ điều kiện của Luật đất đai về điều kiện tách thửa, hợp thửa (nếu có), theo qui định của pháp luật.

Huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, số công chứng 4115, quyền số 11/2017/TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 09/8/2017, công chứng tại Văn phòng C1. “Tờ cho đất” ngày 19/5/2022 (giấy tay có nội dung ông Phạm Văn H1 cho ông Phạm Văn T3 (Chợ), diện tích đất ngang 5m x 22m) không còn giá trị pháp lý kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tài sản, biên bản định giá do Toà án lập ngày 13.3.2023 và bản trích đo địa chính só 447/TTKTTNMT, có xác nhận của Trung tâm K (nay là Văn phòng Đ), thuộc sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C xác nhận ngày 15/5/2023, để làm căn cứ công nhận và thi hành.

Ngoài ra, Bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm; quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 16/6/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn H có đơn kháng cáo:

Nội dung yêu cầu kháng cáo: Yêu cầu công nhận diện tích 167m² thửa đất 656 cho ông H, vì đây là phần đất cha tặng cho ông trước khi chết.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người kháng cáo Phạm Văn H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, phần đất này ông H đã sử dụng liên tục từ năm 2012, quá trình cất nhà và sử dụng anh em trong gia đình đều biết và không ai ngăn cản, ông H1 và ông H có lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 4115, quyển số 11/2017/TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 09/8/2017, vì vậy ông yêu cầu công nhận phần đất theo đo đạc tại các vị trí C, E, t; Đối với các phần đất còn lại thì ông xin nhường lại cho ông T1 vì ông T1 có công sức chăm sóc cha mẹ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn V đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

  • Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
  • Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông H, áp dụng khoản 01 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Sau khi xét xử sơ thẩm người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Văn H có đơn kháng cáo đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, có đương sự vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu kháng cáo của ông H, yêu cầu được công nhận phần đất tại vị trí C, E, t, theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng 4115, quyển số 11/2017/TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 09/8/2017. Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Ông H cho rằng ông được cha ruột tặng cho phần đất trên, nên yêu cầu được công nhận theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được công chứng (BL:127); ông C và ông V không thống nhất cho rằng không biết việc cụ H1 cho đất cho ông H nên yêu cầu chia thừa kế phân đất trên theo quy định pháp luật, Ông T1 không có ý kiến đối với yêu cầu chia thừa kế của ông C.

[2.2] Theo quy định tại khoản 2 Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013định: “Việc tặng cho quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào Sổ địa chính". Đối chiếu trường hợp trên, thì hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông H1 và ông H chỉ mới được công chứng tại Văn phòng C1. Tại phiên toà ông H cũng xác định là ông chưa đăng ký vì không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận theo quy định (hạn mức tách thửa không đủ diện tích). Hơn nữa, hợp đồng tặng cho 01 phần thửa số 188, được ông H1 và ông H xác lập vào năm 2017, công chứng số 4115, quyển số 11/2017/TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 09/8/2017, nhưng ông H không đăng ký. Đến năm 2019 ông H1 được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02551, ngày 21/5/2019 bao trùm luôn toàn bộ phần diện tích năm 2017 đã tặng cho ông H, chứng tỏ ông H1 đã không cho ông H phần đất đó nữa. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất công chứng số 4115, quyển số 11/2017/TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 09/8/2017, tại Văn phòng C1, thành phố Cần Thơ giữa ông H1 và ông H, chia di sản thừa kế của ông H1 theo quy định pháp luật là có căn cứ.

[3]

Từ những nhận định trên, xét thấy ông Phạm Văn H kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới có giá trị chứng minh nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Văn H.
  2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 26/205/DS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Văn H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) sang án phí theo biên lai số 00004085 lập ngày 17/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ (nay là khu vực 4 – Cần Thơ).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 02 tháng 02 năm 2026.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND khu vực 4 – Cần Thơ;
  • - Chi cục THADS khu vực 4– Cần Thơ;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Đào Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2026/DS-PT ngày 02/02/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp thừa kế, quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 90/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế, Quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/02/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger