Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 87/2026/DS-PT

Ngày: 27-01-2026

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lương;

Bà Đặng Duy Mỹ Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Định - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 482/2025/TLPT-DS ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2025/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 714/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số: 51/2026/QĐPT-DS ngày 13 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

+ Ông Huỳnh Ngọc L, sinh năm 1977;

+ Bà Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Ấp V, xã B, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Quang H1, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)

- Bị đơn:

+ Bà Văn Lâm Phương H2, sinh năm 1985;

Địa chỉ: C, N, Khu phố B, xã B, tỉnh Vĩnh Long.

+ Ông Tống Hữu N, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Ấp A, xã B, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Văn Lâm Phương H2 và Tống Hữu N: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp A, xã B, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)

- Người kháng cáo: Ông Huỳnh Ngọc L, bà Nguyễn Thị Ánh H, là nguyên đơn; bà Văn Lâm Phương H2, ông Tống Hữu N, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm;

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/7/2024, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 26/9/2024, đề ngày 07/5/2025 và biên bản hòa giải ngày 20/5/2025, ông Trần Chí T1 (là đại diện theo ủy quyền của ông L, bà H) trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết nên ông L, bà H có cho ông N, bà H2 vay số tiền 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng), mục đích phát triển kinh tế gia đình, lãi suất 2,5%/tháng. Các lần cụ thể:

Lần 1: Ngày 11/6/2021, vay số tiền 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng), giao tiền mặt tại quán C1. Hai bên có làm giấy mượn tiền ghi ngày 11/6/2021, lãi suất thỏa thuận 2,5%/tháng, nhưng giấy mượn tiền ngày 11/6/2021 đã bị xé bỏ do có giấy chốt nợ ngày 25/12/2025.

Lần 2: Ngày 18/9/2022, hỏi vay tiếp số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng). Ngày 19/9/2022 đưa tiền mặt 10.000.000đ (mười triệu đồng), bà H chuyển khoản cho ông N 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng) vào tài khoản của ông N là 7102205010411 tại Ngân hàng A chi nhánh B. Ngày 25/12/2022 ông L chuyển khoản cho ông N số tiền 97.000.000đ (chín mươi bảy triệu đồng) vào số tài khoản của ông N 7102205010411 tại Ngân hàng A chi nhánh B và tiền lãi ông N nợ ông L là 3.000.000đ (ba triệu đồng); số tiền lãi 3.000.000đ (ba triệu đồng) do hai bên thỏa thuận bằng lời nói. Tổng cộng là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng).

Cùng ngày 25/12/2022, ông N, bà Huỳnh T2 soạn giấy mượn tiền để hai bên ký thỏa thuận nhận nợ, thời gian trả nợ đối với số tiền vay tổng cộng đến ngày 25/12/2022 là 400.000.000₫ (bốn trăm triệu đồng). Đồng thời, ông N, bà H2 yêu cầu ông L xé bỏ giấy vay số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) đã vay ngày 11/6/2021.

Nay ông L, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Tống Hữu N và bà Văn Lâm Phương H2 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông L, bà H số tiền gốc 400.000.000 đồng; yêu cầu tính lãi trong thời hạn vay là 05 tháng (tính từ ngày 25/7/2023 đến ngày 25/12/2023) là 400.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 5 tháng = 33.200.000 đồng và tiền lãi chậm trả tạm tính là 09 tháng (tính từ ngày 26/12/2023 đến ngày 26/9/2024) là 400.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 09 tháng = 29.880.000đ (hai mươi chín triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng); yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 27/9/2024 đến khi giải quyết xong vụ án.

Tại biên bản hòa giải ngày 20/5/2025, ông Nguyễn Thanh T (là đại diện theo ủy quyền của ông N, bà H2) trình bày:

Ông Tống Hữu N, bà Văn Lâm Phương H2 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L, bà H về việc yêu cầu ông N, bà H2 trả số tiền gốc 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh. Trước đây ông N có hỏi vay mượn tiền của ông L nên ông L yêu cầu ông N ký tên vào văn bản vay mượn tiền, sau khi ký tên vào văn bản vay mượn tiền thì ông L sẽ đi xoay sở tiền để đưa tiền cho ông N mượn, khi giao nhận tiền hai bên sẽ làm biên nhận nhận tiền, sau đó ông L thông báo với ông N là không có tiền cho mượn nên không có cho mượn tiền, không lập biên nhận giao nhận tiền. Ông N đã kêu ông L hủy văn bản vay mượn tiền, còn việc ông L có hủy văn bản vay mượn tiền hay không thì ông N không biết. Đối với chữ ký tên trong giấy mượn tiền đề ngày 25/12/2022 do ông L cung cấp cho Tòa án thì ông N cho rằng không xác định được chữ ký dưới mục bên mượn, phía trên dòng chữ ghi đầy đủ họ tên Tống Hữu N có phải của ông N hay không, còn bà H2 thì cho rằng chữ ký dưới mục bên mượn, phía trên dòng chữ ghi đầy đủ họ tên Văn Lâm Phương H2 không phải là của bà H2.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ông Trần Chí T1 trình bày: Ông vẫn giữ nguyên lời trình bày của ông L, bà H là việc ông N, bà H2 có chuyển khoản các lần 2.500.000 đồng, các lần 5.000.000 đồng, các lần 10.000.000 đồng là chuyển khoản đóng lãi cho số nợ vay 200.000.000 đồng lúc đầu và 400.000.000 đồng lúc sau tương ứng với lãi suất 2.5%/tháng hoặc mỗi lần chuyển khoản đóng lãi thiếu thì chuyển thêm 2.500.000 đồng nên ông L, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ông N, bà H2 phải liên đới trả cho ông L, bà H số tiền nợ vay 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng), tiền nợ lãi từ ngày 26/7/2023 đến ngày 26/12/2023 với mức lãi suất 1.66%/tháng, thành tiền lãi 33.200.000đ (ba mươi ba triệu hai trăm nghìn đồng), tiền nợ lãi từ ngày 26/12/2023 đến ngày 06/8/2025 (19 tháng 10 ngày), thành tiền lãi là 64.186.000₫ (sáu mươi bốn triệu một trăm tám mươi sáu nghìn đồng); tổng cộng tiền nợ vay và nợ lãi là 497.386.000đ (bốn trăm chín mươi bảy triệu ba trăm tám mươi sáu nghìn đồng). Đồng thời, yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2024/QĐ-BPKCTT ngày 27/9/2024 về việc “Phong tỏa tài sản người có nghĩa vụ”.

Ông Nguyễn Thanh T trình bày: Ông N chỉ xác nhận có vay của ông L, bà H số tiền 187.000.000đ (một trăm tám mươi bảy triệu đồng) của hai lần chuyển khoản (ngày 19/9/2022 chuyển khoản 90.000.000 đồng; ngày 25/12/2022 chuyển khoản 97.000.000 đồng). Việc bên ông N chuyển khoản cho bà H, anh L1 (con của ông L, bà H) tổng số tiền 115.000.000 đồng là không phải chuyển khoản đóng lãi mà là chuyển trả tiền số tiền nợ vay 187.000.000 đồng nên hiện nay ông N chỉ còn thiếu ông L, bà H số tiền 72.000.000đ (bảy mươi hai triệu đồng) và đồng ý trả số tiền còn thiếu nêu trên. Đồng thời, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2024/QĐ-BPKCTT ngày 27/9/2024 về việc “Phong tỏa tài sản người có nghĩa vụ”. Bà H2 cho rằng việc ông N vay tiền của ông L, bà H để sử dụng vào mục đích riêng của ông N chứ bà không có cùng sử dụng số tiền này nên bà H2 không đồng ý cùng liên đới với ông N trả nợ vay của ông L, bà H.

Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2025/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2025 của

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã tuyên:

Căn cứ vào Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Ngọc L, bà Nguyễn Thị Ánh H.
  2. Buộc ông Tống Hữu N, bà Văn Lâm Phương H2 liên đới trả cho ông L, bà H số tiền nợ vay còn thiếu là 187.000.000đ (một trăm tám mươi bảy triệu đồng) và tiền nợ lãi là 37.767.700đ (ba mươi bảy triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm đồng); tổng cộng là 224.767.700đ (hai trăm hai mươi bốn triệu bảy trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm đồng).

  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Ngọc L, bà Nguyễn Thị Ánh H về việc yêu cầu ông Tống Hữu N, bà Văn Lâm Phương H2 liên đới trả cho ông L, bà H số tiền nợ vay, nợ lãi còn thiếu là 272.618.300đ (hai trăm bảy mươi hai triệu sáu trăm mười tám nghìn ba trăm đồng), trong đó nợ vay 213.000.000đ (hai trăm mười ba triệu đồng), nợ lãi 59.618.300đ (năm mươi chín triệu sáu trăm mười tám nghìn ba trăm đồng).
  4. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 02/2024/QĐ-BPKCTT ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long) về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, tiền lãi chậm thi hành án, chi phí tố tụng, quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 21/8/2025, bị đơn ông Tống Hữu N có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng cấn trừ nợ số tiền 115.000.000 đồng mà ông N chuyển khoản cho bà H, anh L1 nên ông N chỉ còn nợ ông L, bà H số tiền 72.000.000 đồng, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tính lãi số tiền đã chuyển khoản cho bị đơn.

Ngày 21/8/2025, bị đơn bà Văn Lâm Phương H2 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc bà Huỳnh C trách nhiệm liên đới trả nợ cho nguyên đơn.

Ngày 21/8/2025, nguyên đơn ông Huỳnh Ngọc L, bà Nguyễn Thị Ánh H có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa cấp phúc thẩm buộc ông Tống Hữu N, bà Văn Lâm Phương H2 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vay là 400.000.000 đồng, tiền lãi từ ngày 27/7/2023 đến ngày 27/12/2023, thành tiền 33.200.000 đồng, tiền lãi từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/8/2025, thành tiền 64.076.000 đồng (mức lãi suất 1.66%/tháng); tổng cộng 497.276.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Quang H1 trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Tống Hữu N và bà Văn Lâm Phương H2 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ vay, nợ lãi 497.276.000 đồng; không đồng ý yêu cầu kháng cáo của các bị đơn.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Thanh T trình bày: Các bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.

- Về nội dung: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Tống Hữu N và không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Văn Lâm Phương H2; sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn ông N, bà H2 phải liên đới trả cho ông L, bà H số tiền vay là 400.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 0,83%/tháng từ ngày 27/7/2023 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, đồng ý cấn trừ số tiền lãi đã trả là 140.000.000 đồng vào số tiền nợ của ông N, bà H2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Ngọc L, bà Nguyễn Thị Ánh H và bị đơn ông Tống Hữu N, bà Văn Lâm Phương H2 cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Các bên đương sự có kháng cáo, đã thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét kháng cáo của bà H, ông L: Ông L, bà H kháng cáo yêu cầu bà H2, ông N có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ vay 400.000.000 đồng, tiền lãi từ ngày 27/7/2023 đến ngày 27/12/2023 với lãi suất 1.66%/tháng, thành tiền 33.200.000 đồng, tiền lãi từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/8/2025 với lãi suất 1.66%/tháng, thành tiền 64.186.000 đồng; tổng cộng 497.276.000 đồng. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện do nguyên đơn cung cấp là “giấy mượn tiền” ngày 25/12/2022 có nội dung thể hiện ông L, bà H cho ông N vay số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất 2,5%/tháng; các bản phô tô đoạn tin nhắn Zalo tên tài khoản “thnhan” của ông Tống Hữu N xác nhận số tiền vay là 400.000.000 đồng; bảng sao kê các lần ông N chuyển khoản trả lãi cho bà H, anh L1 với mức lãi suất 2,5%/tháng, trong đó các lần chuyển khoản từ ngày 11/5/2022 đến 12/12/2022 tổng cộng 42.500.000 đồng phát sinh trước thời điểm ông L chuyển khoản cho vay lần 2 ngày 19/8/2022. Quá trình giải quyết vụ án, phía người đại diện của bị đơn chỉ thừa nhận ông N vay ông L, bà H2 số tiền 187.000.000 đồng từ 02 lần chuyển khoản ngày 19/9/2022 số tiền 90.000.000 đồng; ngày 25/12/2022 số tiền 97.000.000 đồng, có bảng sao kê.

Đối với “giấy mượn tiền” ngày 25/12/2022: Căn cứ kết luận giám định số 7558/KL-KTHS ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C2 tại Thành Phố Hồ Chí Minh thể hiện không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Tống Hữu N, Văn Lâm Phương H2 tại “giấy mượn tiền” ngày 25/12/2022 so với mẫu so sánh là do cùng một người ký ra. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét giấy mượn tiền ngày 25/12/2022 như là một chứng cứ để giải quyết vụ án.

Đối với bản phô tô các đoạn tin nhắn zalo tên tài khoản “thnhan”: Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của bị đơn không thừa nhận tài khoản zalo có tên “thnhan” là của ông Tống Hữu N; đồng thời người đại diện của nguyên đơn cũng xác nhận hiện tại tài khoản zalo nêu trên đã bị xóa, không thể lập vi bằng đối với chứng cứ này cũng như không thể xác minh chủ tài khoản Zalo “thnhan” có đúng là ông N hay không, ngoài ra phía nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ nào khác chứng minh tài khoản zalo “thnhan” là của ông N và nội dung các đoạn tin nhắn là của ông N viết. Do đó, căn cứ lời trình bày của các bên và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, Hội đồng xét xử không có đủ cơ sở xem xét các đoạn tin nhắn Zalo do nguyên đơn cung cấp nêu trên.

Mặc dù kết luận giám định không đủ cơ sở để kết luận chữ ký trong giấy mượn tiền ngày 25/12/2022 là của ông N, bà H2 ký ra, tuy nhiên xét lời trình bày của phía nguyên đơn khẳng định có cho ông N vay 400.000.000 đồng là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên cần xem xét cụ thể như sau:

Lần 1: Ngày 11/6/2021, nguyên đơn xác định cho bị đơn vay số tiền 200.000.000 đồng, giao bằng tiền mặt. Mặc dù bị đơn không thừa nhận việc vay tiền, tuy nhiên bị đơn có chuyển khoản trả lãi cho bà H từ ngày 11/5/2022 đến 12/12/2022 tổng cộng 42.500.000 đồng, các lần chuyển khoản đều phát sinh trước thời điểm nguyên đơn chuyển khoản cho bị đơn vay lần 2 ngày 19/8/2022, mỗi lần chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng là phù hợp với mức lãi suất 2,5%/tháng mà phía nguyên đơn trình bày, có sao kê Ngân hàng. Điều này cho thấy bị đơn có vay số tiền 200.000.000 đồng ngày 11/6/2021 nên mới phát sinh giao dịch chuyển khoản từ ngày 11/5/2022 đến 12/12/2022 mỗi lần 2.500.000 đồng, 5.000.000 đồng để trả lãi. Phía bị đơn không thừa nhận số tiền đã chuyển khoản cho nguyên đơn là tiền lãi mà cho rằng giữa các bên có giao dịch cho vay mượn tiền qua lại với nhau và số tiền 42.500.000 đồng là tiền bị đơn cho nguyên đơn mượn là không có cơ sở, không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Lần 2: Ngày 19/9/2022, nguyên đơn cho bị đơn vay bằng tiền mặt số tiền 10.000.000 đồng, bà H chuyển khoản cho ông N số tiền 90.000.000 đồng vào số tài khoản của ông N 7102205010411 tại Ngân hàng A chi nhánh B. Ngày 25/12/2022, ông L chuyển khoản cho ông N số tiền 97.000.000 đồng vào số tài khoản của ông N 7102205010411 tại Ngân hàng A chi nhánh B và tiền lãi ông N nợ ông L là 3.000.000 đồng. Tổng cộng chốt vay 200.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện của bị đơn thừa nhận ông N có vay ông L, bà H2 số tiền 187.000.000 đồng từ các lần chuyển khoản ngày 19/9/2022, 25/12/2022, có bảng sao kê. Căn cứ bảng sao kê và sự thừa nhận của người đại diện bị đơn là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với số tiền cho vay bằng tiền mặt 10.000.000 đồng ngày 19/9/2022 thì nguyên đơn không cung cấp được biên nhận cho vay tiền và số tiền lãi ông N nợ 3.000.000 đồng thì không có giấy tờ chứng minh, mặc dù phía bị đơn không thừa nhận nợ số tiền 13.000.000 đồng nêu trên nhưng quá trình vay tiền lần 2 phía bị đơn có chuyển khoản cho nguyên đơn hằng tháng số tiền 10.000.000 đồng phù hợp với mức lãi suất 2,5%/tháng trên số tiền 400.000.000 đồng cho thấy ông N, bà H2 có thừa nhận vay ông L, bà H2 số tiền 400.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu tính lãi của số tiền nợ vay: Ông N không đồng ý tính lãi của số tiền nợ vay theo yêu cầu khởi kiện của ông L, bà H. Xét thấy, các bên thực hiện hợp đồng vay số tiền 400.000.000 đồng không có thể hiện thời hạn vay, các bên không thống nhất thời hạn vay và lãi suất vay. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn có trả lãi hằng tháng nên xác định đây là hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi. Do các bên có tranh chấp về lãi suất nên mức lãi suất áp dụng là 10%/năm (0,83%/tháng) theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tính từ lần trả lãi cuối cùng từ 26/7/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (06/8/2025), thành tiền (400.000.000 đồng x 24 tháng 11 ngày x 0.83%/tháng) là 80.897.000 đồng.

Tổng nợ gốc và lãi là: 480.897.000 đồng.

[2.2] Xét kháng cáo của ông N: Ông N kháng cáo yêu cầu cấn trừ số tiền mà ông N chuyển khoản cho bà H, anh L1 tổng cộng 115.000.000 đồng vào số tiền vay 187.000.000 đồng do cho rằng đây là tiền ông N trả số nợ vay 187.000.000 đồng. Ông L, bà H không thừa nhận lời trình bày của phía ông N mà xác định các lần ông N chuyển khoản cho bà H và anh L1 là các lần ông N trả lãi của số tiền vay, tổng cộng 140.000.000 đồng. Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện của nguyên đơn thừa nhận số tiền lãi đã nhận là 140.000.000 đồng là tình tiết không phải chứng minh theo quy định Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận cấn trừ số tiền 140.000.000 đồng tiền lãi đã trả vào tổng số tiền nợ gốc và lãi là 480.897.000 đồng. Như vậy, tổng số nợ còn lại 340.897.000 đồng.

[2.3] Xét kháng cáo của bà H2: Bà H2 không đồng ý liên đới trả nợ cùng với ông N do bà không biết số tiền ông N vay bà H, ông L. Hội đồng xét xử xét thấy, việc ông N vay tiền bà H, ông L phát sinh trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp của vợ chồng ông N, bà H2 (ngày 17/01/2024 ly hôn). Bà H2 không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc vợ chồng làm ăn riêng, có cuộc sống kinh tế riêng, việc vay tiền nhằm mục đích sử dụng riêng. Do đó, việc vay tiền trong thời kỳ hôn nhân được xác định nhằm phục vụ đời sống kinh tế trong gia đình nên về nguyên tắc nghĩa vụ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình là nghĩa vụ chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Tòa cấp sơ thẩm xác định bà H2 phải có trách nhiệm liên đới cùng ông N trả số tiền nợ cho ông L, bà H là có căn cứ theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông L, bà H và bị đơn ông N là có cơ sở một phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông L, bà H và ông N; xét kháng cáo của bà H2 không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận; sửa một phần bản án sơ thẩm.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Tại cấp sơ thẩm, ông L nộp tạm ứng án phí là 10.913.000 đồng theo biên lai thu số 0002362 ngày 04/7/2024 và tạm ứng án phí bổ sung là 664.000 đồng theo biên lai thu số 0002524 ngày 26/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Vĩnh Long). Tuy nhiên, Toà sơ thẩm chưa xử lý số tiền tạm ứng án phí 664.000 đồng theo biên lai thu số 0002524 ngày 26/9/2024 nêu trên là thiếu sót. Do yêu cầu khởi kiện của ông L, bà H được chấp nhận nên không phải chịu án phí sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử điều chỉnh lại án phí sơ thẩm cho phù hợp, hoàn trả lại cho ông L số tiền tạm ứng án phí theo các số biên lai trên.

Do ông N, bà H2 phải liên đới trả số tiền 340.897.000 đồng nên Hội đồng xét xử điều chỉnh lại án phí, buộc ông N, bà H2 phải liên đới chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch là 17.044.850 đồng.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của ông L, bà H và ông N được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí phúc thẩm. Do yêu cầu kháng cáo của bà H2 không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Ngọc L, bà Nguyễn Thị Ánh H và bị đơn ông Tống Hữu N.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Văn Lâm Phương Huỳnh .

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2025/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.

Căn cứ vào Điều 244, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 463, 466, 468, 469 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Ngọc L và bà Nguyễn Thị Ánh H.
  2. Buộc ông Tống Hữu N, bà Văn Lâm Phương H2 có trách nhiệm liên đới trả cho ông Huỳnh Ngọc L, bà Nguyễn Thị Ánh H số tiền nợ vốn vay và tiền lãi còn thiếu là 340.897.000đ (ba trăm bốn mươi triệu tám trăm chín mươi bảy nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Tiếp tục duy trì áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 02/2024/QĐ-BPKCTT ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long) về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”.
  4. Chi phí giám định: Buộc ông Huỳnh Ngọc L phải chịu chi phí giám định số tiền là 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng), đã nộp tạm ứng và quyết toán xong.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
  6. Buộc ông Tống Hữu N và bà Văn Lâm Phương H2 phải liên đới chịu án phí số tiền 17.044.850đ (mười bảy triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn tám trăm năm mươi đồng).

    Ông Huỳnh Ngọc L, bà Nguyễn Thị Ánh H không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ông Huỳnh Ngọc L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.913.000đ (mười triệu chín trăm mười ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002362 ngày 04 tháng 7 năm 2024 và 664.000₫ (sáu trăm sáu mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002524 ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Vĩnh Long).

  7. Án phí dân sự phúc thẩm:
  8. H3 lại cho ông Huỳnh Ngọc L số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002422 ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

    H3 lại cho bà Nguyễn Thị Ánh H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002418 ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

    H3 lại cho ông Tống Hữu N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002387 ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

    Bà Văn Lâm Phương H2 phải chịu án phí số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002386 ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Văn Lâm Phương H2 đã nộp xong án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- TAND KV8-Vĩnh Long;

- Phòng THADS KV8-VL;

- Các đương sự;

- VKSND tỉnh Vĩnh Long;

- Phòng GĐ,KT,TT&THA TAND tỉnh Vĩnh Long;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2026/DS-PT ngày 27/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 87/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger