Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG


Bản án số: 84/2026/DS-PT

Ngày 30-01-2026

“V/v tranh chấp hợp đồng xây dựng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hà Ngân

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương và ông Nguyễn Thế Hạnh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng cơ sở 2, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 537/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 734/2025/QĐ-PT ngày 30-12-2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2026/QĐ-PT ngày 20-01-2026, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Sở Văn hóa , Thể thao và Du lịch tỉnh Đ (nay là Sở Văn hóa , Thể thao và Du lịch tỉnh L).

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Tấn P; chức vụ: Phó Trưởng Phòng Kế hoạch – Tài chính Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh L - Có mặt.

  2. Bị đơn: Công ty TNHH X; địa chỉ: Số E, thôn F, xã H, tỉnh Đắk Lắk.

    Người đại diện theo ủy quyền: Chị Phạm Thị Hồng H; địa chỉ: Số C L, phường B, tỉnh Đắk Lắk – Văn bản uỷ quyền ngày 17-11-2026 – Có mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lê Xuân Anh P1 – Luật sư thuộc Công ty L và cộng sự; địa chỉ: Số I P, phường B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần T1; địa chỉ: Đường N, tổ dân phố B N, phường B, tỉnh Lâm Đồng.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Ngọc C; chức vụ: Giám đốc Công ty – Có đơn xét xử vắng mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn Công ty TNHH X.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 03-02-2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đ (Nay là tỉnh Lâm Đồng) trình bày: Theo dự án trụ sở làm việc đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh Đắk Nông được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ phê duyệt tại quyết định số: 1029/QĐ-UBND ngày 14-7-2020, giao Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Đ (Sở Văn hóa) làm chủ đầu tư. Sau khi Sở Văn hóa triển khai thực hiện các thủ tục đấu thầu để lựa chọn nhà thầu, đơn vị trúng thầu gói thầu thi công xây dựng là Công ty TNHH X (Sau đây viết tắt là Công ty X) đã ký Hợp đồng số: 15/HĐXD ngày 31-5-2013 về việc thi công xây dựng gói thầu số 7: Xây dựng nhà làm việc, nhà tập thể và hạ tầng kỹ thuật với giá trị hợp đồng là 20.739.000.000đ. Công trình khởi công xây dựng vào ngày 16-8-2023 theo Lệnh khởi công ngày 12-8-2023 của Sở Văn hóa; thời gian hoàn thành là 540 ngày. Theo quy định và thỏa thuận tại khoản 8.2 Điều 8 Hợp đồng thi công số 15/HĐXD, Sở Văn hóa đã tạm ứng cho Công ty X số tiền 2.100.000.000đ.

Ngày 20-12-2023 Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số: 1343/SXD-QLCLCT về việc đề nghị tạm dừng thi công xây dựng công trình Trụ sở làm việc đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh. Ngày 06-8-2014 Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Quyết định số: 82/QĐ-SXD thực hiện thanh tra đột xuất dự án và ngày 16-10-2014 đã ban hành Kết luận thanh tra số: 966/KL-SXD. Thực hiện Kết luận thanh tra số: 966/KL-SXD và ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh về xử lý, khắc phục sai phạm sau thanh tra, Sở Văn hóa đã ban hành Văn bản số: 807/SVHTTDL-XDCB ngày 30-12-2014, Văn bản số: 249/SVHTTDL-XDCB ngày 05-5-2014, Văn bản số: 726/SVHTTDL-XDCB ngày 14-9-2016 gửi nhà thầu thi công (Công ty X) thực hiện việc khắc phục sai phạm với số tiền 1.120.396.000đ, do nghiệm thu sai khối lượng nhưng nhà thầu thi công cố tình không chấp hành, không thực hiện kết luận thanh tra. Ngày 03-3-2017 Sở Văn hóa đã ban hành Công văn số: 265/SVHTTDL-XDCB đề nghị nhà thầu gia hạn bảo lãnh tạm ứng còn lại của hợp đồng (số tiền 982.401.000đ) tuy nhiên, nhà thầu không thực hiện.

Thực hiện kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh về dự án Trụ sở làm việc đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh Đắk Nông, tại Thông báo số: 100/TB-UBND ngày 07-8-2017, trong đó có nội dung chuyển Ban Quản lý các dự án xây dựng tỉnh Đắk Nông làm chủ đầu tư, để triển khai công việc còn lại của dự án và chuyển hồ sơ thanh tra sang Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ để điều tra, xử lý sai phạm, Sở Văn hóa đã tổ chức cuộc họp với nhà thầu về việc hoàn trả tiền tạm ứng và thực hiện các kiến nghị, kết luận thanh tra. Tại cuộc họp, Công ty X cam kết hoàn trả số tiền tạm ứng 982.401.000đ trước ngày 31-12-2017 nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện hoàn trả tạm ứng. Ngày 26-10-2018 UBND tỉnh Đ ban hành Công văn số: 5409/UBND-CNXD dừng thực hiện dự án Trụ sở làm việc Đoàn ca, múa nhạc dân tộc tỉnh.

Căn cứ điểm c khoản 8.2 Điều 8 Hợp đồng thi công số 15/HĐXD, quy định: “Trường hợp tạm ứng vẫn chưa được hoàn trả trước khi ký kết biên bản nghiệm thu công trình và trước khi chấm dứt hợp đồng theo Điều 17 (Tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng bởi chủ đầu tư), Điều 18 (Tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng với nhà thầu) hoặc Điều 20 (Rủi ro và bất khả kháng), khi đó toàn bộ số tiền tạm ứng chưa thu hồi được sẽ là nợ đến hạn và nhà thầu phải chịu trách nhiệm thanh toán cho chủ đầu tư”; căn cứ Điều 22 của Hợp đồng thi công số 15/HĐXD về khiếu nại và xử lý các tranh chấp, Sở Văn hoá đã gửi văn bản đôn đốc và tiến hành họp đối với nhà thầu thi công nhưng nhà thầu vẫn chưa thực hiện cam kết.

Vì vậy, Sở Văn Hóa yêu cầu Công ty X (Nhà thầu thi công) phải trả số tiền tạm ứng 982.401.000đ và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 01-11-2018 đến ngày xét xử sơ thẩm.

2. Đối với bị đơn Công ty X: Tòa án cấp sơ thẩm đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, do đó đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.

3. Người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T1 (Công ty T1): ông Phan Ngọc C; chức vụ: Giám đốc, trình bày: Năm 2013 Công ty T1 ký hợp đồng tư vấn giám sát với chủ đầu tư (Sở Văn hóa), nội dung hợp đồng là chịu trách nhiệm tư vấn, giám sát công trình đối với hợp đồng số 15/HĐXD. Công ty T1 hoạt động độc lập, chỉ chịu trách nhiệm tư vấn, giám sát và thanh lý hợp đồng với chủ đầu tư. Về phương thức làm việc thì công ty giám sát tiến độ, chất lượng của công trình. Sau khi hoàn thành mỗi hạng mục thì công ty N và báo cáo với chủ đầu tư. Về việc Công ty X còn nợ tiền hoàn ứng với chủ đầu tư thì Công ty T1 không biết và không liên quan. Thời điểm Công ty T1 kết thúc hợp đồng với chủ đầu tư thì dự án vẫn chưa hoàn thành. Do đó, Công ty T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

4. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2025/DS-ST ngày 29-9-2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng đã căn cứ: Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92, Điều 96; khoản 5 Điều 105; Điều 217; Điều 27; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 84, 121, 388, 389, 401, 402 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 357, 401, 422, 468, 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 75, 76, 80, 81, 107, 108, 110 của Luật Xây dựng năm 2003, quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Sở Văn hóa: Buộc Công ty X phải trả cho Sở Văn hóa số tiền đã tạm ứng 982.401.000đ và tiền lãi là 611.053.000đ. Tổng là 1.593.454.000đ.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

5. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27-10-2025, bị đơn bà Công ty X kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Sở Văn hóa hoặc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án do đã hết thời hiệu khởi kiện.

6. Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Sở Văn hóa , Thể thao và Du lịch tỉnh L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn Công ty X vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 01 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của Công ty X, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2025/DS-ST ngày 29-9-2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu lưu trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Công ty X nộp trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.

[2]. Đối với Công ty TNHH T2 không có quyền lợi hoặc nghĩa vụ liên quan việc hoàn trả lại số tiền Công ty X đã tạm ứng 982.401.000đ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định Công ty TNHH T2 không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[3]. Xét yêu cầu kháng cáo của Công ty X, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[3.1]. Về thời hiệu khởi kiện:

Khoản 2 Điều 149 của Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định: “2. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc.”

Khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định: “Thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong trường hợp sau đây: 2. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn Công ty X nhưng phía Công ty X vắng mặt, không có văn bản trình bày yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi ra bản án sơ thẩm. Mặt khác, nguyên đơn Sở Văn hóa yêu cầu Công ty X hoàn trả số tiền Công ty X đã tạm ứng 982.401.000đ theo Hợp đồng xây dựng số: 15/HĐXD ngày 31-5-2013, thuộc trường hợp bảo vệ quyền sở hữu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng thời hiệu đối với vụ án là đúng pháp luật.

[3.2]. Về nội dung:

[3.2.1]. Về hiệu lực của hợp đồng: Hợp đồng xây dựng số: 15/HĐXD ngày 31-5-2013 giữa Sở Văn hoá và Công ty X, được ký kết trên cơ sở kết quả lựa chọn nhà thầu hợp pháp, được lập thành văn bản có chữ ký và đóng dấu của các bên; nội dung điều khoản rõ ràng về tạm ứng, thu hồi tạm ứng và trách nhiệm của nhà thầu. Căn cứ quy định tại 84; Điều 121, các điều 388, 389, 401, 402 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 19; Điều 107 và Điều 108 Luật Xây dựng năm 2003, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Hợp đồng xây dựng số 15/HĐXD nêu trên đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm giao kết.

[3.2.2]. Về việc thực hiện hợp đồng: Sau khi giao kết hợp đồng, Công ty X đã nhận tạm ứng của Sở Văn hóa số tiền 2.100.000.000đ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Ngày 20-12-2023 Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Công văn số: 1343/SXD-QLCLCT về việc đề nghị tạm dừng thi công xây dựng công trình Trụ sở làm việc đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh. Ngày 06-8-2014 Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Đ ban hành Quyết định số: 82/QĐ-SXD thực hiện thanh tra đột xuất dự án và ngày 16-10-2014 đã ban hành Kết luận thanh tra số: 966/KL-SXD (BL số 444- 452). Thực hiện Kết luận thanh tra số: 966/KL-SXD và ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh về xử lý, khắc phục sai phạm sau thanh tra, Sở Văn hóa đã ban hành Văn bản số: 807/SVHTTDL-XDCB ngày 30-12-2014, Văn bản số: 249/SVHTTDL-XDCB ngày 05-5-2014, Văn bản số: 726/SVHTTDL-XDCB ngày 14-9-2016 yêu cầu Công ty X thực hiện việc khắc phục sai phạm với số tiền 1.120.396.000đ, do nghiệm thu sai khối lượng nhưng nhà thầu thi công cố tình không chấp hành, không thực hiện kết luận thanh tra. Ngày 03-3-2017 Sở Văn hóa đã ban hành Công văn số: 265/SVHTTDL-XDCB đề nghị nhà thầu gia hạn bảo lãnh tạm ứng còn lại của hợp đồng (số tiền 982.401.000đ) tuy nhiên, Công ty X không thực hiện. Ngày 18-8-2017 Sở Văn hóa đã tổ chức cuộc họp với Công ty X về việc hoàn trả tiền tạm ứng và thực hiện các kiến nghị, kết luận thanh tra. Tại cuộc họp, Công ty X cam kết hoàn trả số tiền tạm ứng 982.401.000đ trước ngày 31-12-2017 nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện hoàn trả tạm ứng (BL số 453-458) (Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ ghi nhận số tiền tạm ứng còn lại là 982.401.000đ, nhưng “biên bản cuộc họp ngày 18/8/2017” ghi 982.104.000đ” là do sai sót trong việc đánh máy đã được Sở Văn Hoá giải trình). Ngày 26-10-2018 UBND tỉnh Đ ban hành Công văn số: 5409/UBND-CNXD dừng thực hiện dự án Trụ sở làm việc Đoàn ca, múa nhạc dân tộc tỉnh, do thực hiện sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, việc xây dựng Trụ sở làm việc Đoàn Ca múa nhạc dân tộc tỉnh Đắk Nông trong thời điểm hiện nay là chưa phù hợp.

[3.2.3]. Điểm c Khoản 8.2 Điều 8 Hợp đồng xây dựng số: 15/HĐXD ngày 31-5-2013, quy định “trường hợp tạm ứng vẫn chưa được hoàn trả trước khi ký kết biên bản nghiệm thu công trình và trước khi chấm dứt Hợp đồng theo điều 17 (tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng bởi Chủ đầu tư), Điều 18 (tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng bởi nhà thầu) hoặc Điều 20 (rủi ro và bất khả kháng), khi đó toàn bộ số tiền tạm ứng chưa thu hồi được sẽ là nợ đến hạn và Nhà thầu phải chịu trách nhiệm thanh toán cho Chủ đầu tư”.

[3.2.4]. Mặt khác, ngày 26-10-2018 UBND tỉnh Đ ban hành Công văn số 5409/UBND-CNXD về việc thống nhất dừng triển khai dự án. Vì vậy, Sở Văn Hoá yêu cầu tính lãi chậm trả đối với Công ty X từ ngày 01-11-2018 với mức lãi suất 9%/năm (thấp hơn 10%) là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

[3.3]. Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Bản án sơ thẩm tuyên buộc Công ty X phải trả cho Sở Văn hóa số tiền đã tạm ứng 982.401.000đ và tiền lãi là 611.053.000đ (tính từ ngày 01-11-2018 đến ngày xét xử sơ thẩm), là có căn cứ, đúng pháp luật; do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty X, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên Công ty X phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH X, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2025/DS-ST ngày 29-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lâm Đồng, tuyên xử:

1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Sở Văn hóa thể thao và Du lịch tỉnh Đ (nay là Sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh L): Buộc Công ty X phải thanh toán cho Sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh L số tiền 982.401.000đ và tiền lãi chậm trả 611.053.000đ, tổng số tiền 1.593.454.000đ (một tỷ năm trăm chín mươi ba triệu bốn trăm năm mươi bốn nghìn đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, người phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

1.2. Không chấp nhận yêu cầu của Sở Văn hóa thể thao và Du lịch tỉnh Đ (nay là Sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh L) về thời hạn tính lãi chậm trả đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí sơ thẩm: Công ty X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 59.804.000đ (năm mươi chín triệu tám trăm lẻ bốn nghìn đồng).

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự: Công ty X phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0009032 ngày 21-11-2025 của Chi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ II);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND khu vực 6- Lâm Đồng;
  • - Phòng THADS khu vực 6 - Lâm Đồng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Dương Hà Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 84/2026/DS-PT ngày 30/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng xây dựng

  • Số bản án: 84/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây dựng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger