Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 81/2026/HS-PT

Ngày: 28-01-2026

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Khoa

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hoà Hiệp

Ông Phạm Văn Công

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Loan, Thư ký viên Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia V, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 490/2025/TLPT-HS ngày 17/11/2025, đối với bị cáo Trịnh Quang N, do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 647/2025/HS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Trịnh Quang N, sinh năm 1957 tại tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: 4 L, Tổ A, Khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Công chứng viên; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh T (đã chết) và bà Trần Thị C (đã chết); Có vợ và 01 con; Tiền sự, tiền án: Không; Bị bắt tạm giam ngày 11/10/2022 đến ngày 31/8/2023 được thay đổi bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Hải Đ, là Luật sư của Văn phòng Luật sư Trần Hải Đ, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:

  1. Ông Lê Hữu L, sinh năm 1974;
  2. Bà Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm 1977;

Cùng nơi cư trú: 1411 Đại lộ B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương - nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (cùng vắng mặt);

Người đại diện hợp pháp của ông L và bà C1: Ông Trương Quốc T1, sinh năm 1974; địa chỉ: Số B P, Tổ E, Khu phố E, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương - nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông L và bà C1: Ông Nguyễn Hoàng M là Luật sư của Văn phòng L6, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (vắng mặt).

* Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị cáo, 08 người bị hại và 13 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Toà án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Văn T2 là nhân viên tại Doanh nghiệp Tư nhân C4, địa chỉ: A Đại lộ B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương do ông Lê Hữu L làm Giám đốc nên quen biết với vợ chồng ông L và bà Nguyễn Thị Kim C1. Từ năm 2011, T2 nghỉ việc tại đây để làm dịch vụ các giấy tờ liên quan đến nhà đất, môi giới bất động sản. Lợi dụng công việc này, T2 thực hiện nhiều hành vi gian dối để chiếm đoạt tiền của các bị hại, cụ thể như sau:

Vào khoảng cuối năm 2019 đến đầu năm 2020 vợ chồng ông L và bà C1 nhận chuyển nhượng theo hình thức Hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng C5 đối với 04 thửa đất tọa lạc tại phường Đ, thành phố T gồm:

  • - Thửa đất số 1125, tờ bản đồ số 5-3, diện tích 332,2m2 do bà Nguyễn Thị Quỳnh N1 đứng tên quyền sử dụng đất, chuyển nhượng theo ủy quyền cho ông L theo Hợp đồng số 0011 ngày 02/01/2020.
  • - Thửa đất số 1164, tờ bản đồ số 27-6, diện tích 98m2 do vợ chồng ông Nguyễn Văn C2 và bà Đoàn Thị Kim C3 đứng tên quyền sử dụng đất, chuyển nhượng theo ủy quyền cho ông L theo Hợp đồng số 0165 ngày 06/01/2020.
  • - Thửa đất số 1119, tờ bản đồ số 5-3, diện tích 146,9m2 do vợ chồng Nguyễn Văn L1 và bà Võ Thị P đứng tên quyền sử dụng đất, chuyển nhượng ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H theo Hợp đồng số 3481 ngày 19/4/2019 sau đó bà H ủy quyền cho bà C1 theo Hợp đồng số 10834 ngày 25/10/2019.
  • - Thửa đất số 1165, tờ bản đồ số 27-6, diện tích 101,6m2 do bà Nguyễn Thúy N2 đứng tên quyền sử dụng đất, chuyển nhượng ủy quyền cho ông L theo Hợp đồng số 12589 ngày 10/12/2019.

Đầu năm 2020, do có nhu cầu để sang tên từ ông Lê Hữu L cho bà Nguyễn Thị Kim C1 đứng tên các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa 1125, 1164, 1165 còn đối với thửa 1119 thì tiến hành sang tên từ bà Nguyễn Thị Kim C1 cho ông Lê Hữu L nên ông L đưa cho T2 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) các thửa đất. Sau khi nhận được các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nêu trên, T2 nảy sinh ý định giả chữ ký của ông L và bà C1 trên Hợp đồng ủy quyền, Hợp đồng chuyển nhượng liên quan đến 03 thửa đất trên để chuyển nhượng đất của ông L và bà C1 cho người khác...

[...] (Nội dung chi tiết vụ án được lược bỏ để ngắn gọn)

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Quang N, không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hữu L và bà Nguyễn Thị Kim C1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 647/2025/HS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Quang N phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 360; các điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 của Bộ luật Hình sự,
    Xử phạt: Bị cáo Trịnh Quang N 03 năm (ba) năm tù. Thời chấp hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giam ngày 11/10/2022 đến ngày 31/8/2023.
  3. Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự,
    Buộc ông Lê Hữu L và bà Nguyễn Thị Kim C1 nộp lại số tiền 2.250.000.000 (hai tỷ hai trăm năm mươi triệu) đồng mà bị cáo Đoàn Văn T2 giao cho ông Lê Hữu L, bà Nguyễn Thị Kim C1 để khắc phục hậu quả chung trong vụ án.
  4. Ông Lê Hữu L, bà Nguyễn Thị Kim C1 và các đương sự có liên quan đến các giao dịch phát sinh từ các thửa đất 1164, 1125 và 1119, 1165 được quyền khởi kiện vụ án dân sự để giải quyết theo quy định pháp luật.
  5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trịnh Quang N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Hữu L và bà Nguyễn Thị Kim C1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng.
  7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện CT và KSXXPT tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - THADS TP. Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam số 02 - TP. Hồ Chí Minh;
  • - Các bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, HCTP (NTCL).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 81/2026/HS-PT ngày 28/01/2026 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự

  • Số bản án: 81/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Quang N, không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hữu L và bà Nguyễn Thị Kim C1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 647/2025/HS-ST ngày 23/9/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger