Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 78/2026/DS-PT

Ngày: 29-01-2026

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

và yêu cầu bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm

phạm.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thảo

Các Thẩm phán: Ông Dư Thành Trung

Bà Lê Thị Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Huê - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ông Trần Minh Công - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 452/2026/TLPT-DS ngày 18/11/2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm”.

Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 42/2025/DS-ST ngày 03/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2026/QĐ-PT ngày 05/01/2026; Quyết định hoãn phiên toà số 26/2026/QĐ-PT ngày 20/01/2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Bùi T, sinh năm 1960. Địa chỉ: Thôn H, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Vũ Văn S, sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn H, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Bá S1, sinh năm 1992. Địa chỉ: C P, Phường C B, tỉnh Lâm Đồng. Theo văn bản ủy quyền ngày 10/10/2025. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Ka B, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn H, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  2. Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1972. Thôn H, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Bá S1, sinh năm 1992. Địa chỉ: C P, Phường C B, tỉnh Lâm Đồng. Theo văn bản ủy quyền ngày 10/10/2025. Có mặt.

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn A phường B B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  2. Anh K'Bùi Thanh N, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn H, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
  3. Ủy ban nhân dân huyện B.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ: UBND xã B, tỉnh Lâm Đồng

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Hữu C, chức vụ: Chủ tịch. Vắng mặt.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Bùi Thọ. Bị đơn ông Vũ Văn S. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ka B, anh K'Bùi Thanh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/10/2021, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 17/8/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Bùi T trình bày:

Gia đình ông T, bà Ka B canh tác sử dụng với tổng diện tích là 22.352,2m² đất toạ lạc tại thôn H, xã L, huyện B. Nguồn gốc diện tích đất nêu trên do gia đình ông nhận chuyển nhượng vào năm 1997 của các ông K diện tích 3.000m², ông K1 diện tích 7.000m² và ông K2 diện tích 6.000m². Khi nhận chuyển nhượng không viết giấy tờ, không có xác nhận của chính quyền địa phương và một phần diện tích do gia đình khai hoang vào từ năm 1997 đến năm 2015. Trong tổng số diện tích đất nêu trên thì thửa 125, tờ bản đồ 24, xã L có diện tích 16.421m² được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu sổ BK 769170 ngày 26/6/2012 và thửa 42, tờ bản đồ 24, xã L có diện tích 3.433m² được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu số CC 094290 ngày 30/11/2015 cho ông Bùi T và bà Ka B.

Đối với thửa 125, năm 2012 gia đình ông làm thủ tục tách thành 04 thửa, gồm: thửa 201 có diện tích 267m², thửa 202 có diện tích 3.168m², thửa 203 có diện tích 9.297m² và thửa 204 có diện tích 3.689m² đều thuộc tờ bản đồ 24 (sau khi tách huỷ thửa 125).

Ngày 11/12/2012 ông bà đã chuyển nhượng cho vợ chồng Đoàn Quốc H1 và bà Trần Thị V (thôn T, xã L, thành phố B) thửa 203, tờ bản đồ 24 có diện tích 9.297m²; các thửa còn lại là 42, 201, 202 và 204 gia đình ông bà vẫn canh tác sử dụng.

Năm 2018, ông T và bà Ka B tặng cho con trai là K' Bùi Thanh N1 thửa 201 có diện tích 267m², thửa 202 có diện tích 3.168m², thửa 204 có diện tích 3.689m² và thửa 42 có diện tích 3.433m². Sau đó, anh K’ Bùi Thanh N1 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thanh H và bà H chuyển nhượng cho ông Vũ Văn S và bà Vũ Thị T1; Đối với phần diện tích còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình ông bà vẫn canh tác sử dụng.

Đến năm 2019, ông Vũ Văn S lấn chiếm phần diện tích còn lại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông. Do vậy, nay khởi kiện yêu cầu ông Vũ Văn S phải trả lại phần diện tích 11.487m² nêu trên, nay là thửa 128, tờ bản đồ 65, xã L, huyện B cho ông T và yêu cầu ông S phải bồi thường thiệt hại gồm: 130 cây Bơ ghép 036 x 3.275.700 đồng/cây = 425.841.000 đồng; 12 cây Mít thái x 2.340.000 đồng/cây = 28.080.000 đồng; 03 cây sầu riêng thái x 5.047.000 đồng/cây = 15.141.000 đồng; 960 cây Cà phê ghép T2 trường x 389.700 đồng/cây = 371.112.000 đồng, tổng cộng là 843.174.000 đồng (Tám trăm bốn mươi ba triệu một trăm bảy mươi bốn ngàn đồng chẵn).

- Bị đơn ông Vũ Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị T1 trình bày: Vợ chồng ông S, bà T1 nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Thanh H diện tích đất khoảng 02 hécta theo giấy viết tay ngày 15/4/2019 với giá 600.000.000 đồng. Trong đó: Thửa 42, tờ bản đồ 24 có diện tích 3.433m²; thửa 201, tờ bản đồ 24 có diện tích 267m², thửa 202, tờ bản đồ 24 có diện tích 3.168m², thửa 204, tờ bản đồ 24 có diện tích 3.689m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được công chứng tại Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3) công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nay đã đăng ký biến động sang tên ông S, bà T1 theo đúng quy định của pháp luật; diện tích còn lại là 10.557m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; việc chuyển nhượng đã giao đủ tiền, bà H đã giao đất cho ông S, bà T1 quản lý sử dụng cho đến nay. Do vậy, ông S, bà T1 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ka B trình bày: Thống nhất như trình bày của ông T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh K'Bùi Thanh N trình bày: Ngày 04/10/2018, anh chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thanh H các thửa đất gồm: thửa 201, tờ bản đồ 24 có diện tích 267m², thửa 202, tờ bản đồ 24 có diện tích 3.168m², thửa 204, tờ bản đồ 24 có diện tích 3.689m² và thửa 42, tờ bản đồ 24 có diện tích 3.433m² theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được UBND xã Lộc Bảo chứng thực số 61 quyển số 01/2018/TPCC-SCT/HĐGD ngày 04/10/2018, ngoài diện tích đất nêu trên thì anh không chuyển cho bà H diện tích đất nào khác. Do vậy, nay đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông T.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày: Vào khoảng tháng 9/2018, bà H mua (nhận chuyển nhượng) của anh K’ Bùi Thanh N1 diện tích gần 02 héc ta đất trồng cà phê tại thôn A, xã L, huyện B. Khi nhận chuyển nhượng, anh N1 có chỉ dẫn ranh giới, một bên giáp đất bà Ka B1, một bên giáp đất K' C1, một bên giáp đất ông S, một bên giáp đường đi. Sau đó, bà chuyển nhượng lại cho ông Vũ Văn S và bà Vũ Thị T1 với giá thỏa thuận 600.000.000 đồng tất cả diện tích đất nêu trên theo đúng hiện trạng mà chủ cũ (anh N1) đã giao.

· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện B trình bày: Không

- Người kế thừa quyền, nghĩa vụ của UBND huyện B: UBND xã B 5, trình bày: Không.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

Tại Bản án sơ thẩm số 42/2025/DS-ST ngày 03-9-2025 của Toà án nhân dân khu vực 4-Lâm Đồng đã xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm” đối với bị đơn ông Vũ Văn S.

Buộc vợ chồng ông Vũ Văn S, bà Vũ Thị T1 có trách nhiệm phải thanh toán cho ông Bùi T, bà Ka B giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích 930m² thuộc một phần thửa đất 128, tờ bản đồ 65, xã L (cũ) theo chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T3 với số tiền 786.780.000 đồng (Bảy trăm tám mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi ngàn đồng).

(Kèm theo kết quả đo đạc bản đồ địa chính ngày 31/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B).

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, đương sự có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Bùi T về việc buộc ông Vũ Văn S phải bồi thường thiệt hại với số tiền 843.174.000 đồng (bao gồm: 130 cây Bơ ghép 036 x 3.275.700 đồng/cây là 425.841.000 đồng; 12 cây Mít thái x 2.340.000 đồng/cây là 28.080.000 đồng; 03 cây sầu riêng thái x 5.047.000 đồng/cây là 15.141.000 đồng; 960 cây Cà phê ghép T2 trường x 389.700 đồng/cây là 371.112.000 đồng).

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và trách nhiệm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 16-9-2025 nguyên đơn ông Bùi T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ka B, anh K'Bùi Thanh N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 17-9-2025 bị đơn ông Vũ Văn S kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về phần bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa: Bị đơn ông Bùi T; Bị đơn ông Vũ Văn S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ka B, anh K'Bùi Thanh N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị chấp nhận kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: Đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự hủy bản án dân sự sơ thẩm số 42/2025/DS-ST ngày 03/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi T; bị đơn ông Vũ Văn S; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ka B, anh K4 Thanh Nhã đúng thời hạn luật định, thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Bùi T khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn ông Vũ Văn S phải trả lại diện tích 11.487m² thuộc thửa 128 tờ bản đồ số 65 và yêu cầu ông S phải bồi thường thiệt hại gồm: 130 cây bơ ghép 036 x 3.275.700 đồng/cây = 425.841.000 đồng; 12 cây mít thái x 2.340.000 đồng/cây = 28.080.000 đồng; 03 cây sầu riêng thái x 5.047.000 đồng/cây = 15.141.000 đồng; 960 cây Cà phê ghép Thiện Trường x 389.700 đồng/cây = 371.112.000 đồng, tổng cộng là 843.174.000 đồng. Toà án cấp sơ thẩm xác định “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” do tài sản bị xâm phạm là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Bùi T, bà Ka B, anh K'Bùi Thanh N và bị đơn ông Vũ Văn S thấy rằng:

[2.1] Ông Bùi T, bà Ka B được UBND xã B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 125 tờ bản đồ số 24 diện tích 16.421m²; thửa 42 tờ bản đồ 24 diện tích 3.433m². Thửa 125 đã tách thành 03 thửa: thửa 201 diện tích 267m², thửa 202 diện tích 3.168m², thửa 203 diện tích 9.297m², thửa 204 diện tích 3.389m². Đối với thửa 203 đã chuyển nhượng cho ông Đoàn Quốc H1, bà Trần Thị V; các thửa đất còn lại gồm thửa 42, 201, 202, 204 ông T, bà Ka B lập hợp đồng tặng cho con trai là K’Bùi Thanh Nhã; sau đó anh N chuyển nhượng các thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị Thanh H và bà H tiếp tục chuyển nhượng cho ông Vũ Văn S, bà Vũ Thị T1.

Đối chiếu bản đồ đo vẽ ngày 31/5/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B (lồng ghép theo bản đồ địa chính cũ) thì ranh theo sự chỉ dẫn của ông Bùi T 11.487m² gồm các thửa 42, 40, 204, 149, 36, 203 và một phần diện tích đất chưa được đo đạc. Còn ranh theo sự chỉ dẫn của ông S xác định là 14.988,3m², cũng bao gồm các thửa 42, 40, 204, 149, 36, 203 và một phần diện tích đất chưa được đo đạc. Như vậy, kết quả đo vẽ cho thấy diện tích đất mà các bên chỉ ranh trên thực địa có sự chênh lệch đáng kể so với diện tích thể hiện trên giấy tờ và lời khai, nhưng cấp sơ thẩm chưa làm rõ nguyên nhân của sự chênh lệch này để xác định chính xác diện tích đất đang tranh chấp và diện tích nào thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của các bên.

[2.2] Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm ông S đều khẳng định ngoài diện tích đất nhận chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị Thanh H thì ông không nhận chuyển nhượng của bất kỳ cá nhân nào khác. Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 30/11/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B (BL 229) thể hiện các thửa đất số 201, 202, 204 và 42 được đổi thành thửa 120/9.699m², thửa 123/17.474,2m², thửa 128/22.352m² chủ sử dụng là ông Vũ Văn S. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án không làm rõ căn cứ pháp lý của việc chuyển đổi các thửa đất; không làm rõ diện tích đất ông S đang sử dụng theo thực tế với thửa 128 nêu trên cũng như không xác định rõ phạm vi, ranh giới, nguồn gốc hình thành thửa 128 để làm căn cứ giải quyết vụ án.

[2.3] Theo kết quả đo vẽ ngày 31/5/2023, trong phạm vi diện tích đất các bên chỉ ranh không thể hiện có thửa 201, thửa 202; đối với thửa 204 diện tích theo Giấy chứng nhận được cấp là 3.689m² nhưng kết quả đo vẽ xác định thực tế là 4.058,5m² (chênh lệch 369,5m²). Cấp sơ thẩm chưa làm rõ đây là sai số kỹ thuật đo đạc hay là phần diện tích sử dụng ngoài phạm vi được cấp Giấy chứng nhận, nhưng vẫn lấy tổng diện tích 11.487m² do ông T chỉ ranh để trừ đi diện tích 10.557m² đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bao gồm cả diện tích thửa 201, 202), để từ đó xác định phần diện tích còn lại 930m² đất chưa chuyển nhượng buộc bị đơn trả cho nguyên đơn; trong khi không xác định cụ thể diện tích 930m² nằm ở vị trí nào trong tổng thể khu đất tranh chấp, không đảm bảo cho việc thi hành án sau này.

[2.4] Mặt khác, cấp sơ thẩm chưa làm rõ vị trí, ranh giới, hiện trạng, điều kiện tách thửa đối với diện tích 930m²; chưa có căn cứ xác định việc không thể chia đất bằng hiện vật nhưng vẫn tuyên buộc thanh toán giá trị quyền sử dụng đất là chưa đúng nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai.

[2.5] Bên cạnh đó, theo Công văn số 3003/PCCTT-CN.BLA ngày 02/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B, các thửa đất số 149 và thửa 36 tờ bản đồ số 24 (cũ) là những thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; các thửa đất này trong phạm vi diện tích các bên chỉ ranh và Tòa án cấp sơ thẩm sử dụng cặc cứ xác định diện tích tranh chấp, nhưng chưa làm rõ ai là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng hợp pháp các thửa đất này.

[2.6] Ngoài ra, trong phạm vi đo vẽ còn có 298,2m² thuộc một phần thửa 203 là thửa đất ông T, bà Ka B đã chuyển nhượng hợp pháp cho ông Đoàn Quốc H1. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm sử dụng cả diện tích đất này để xác định diện tích tranh chấp nhưng không đưa ông H1 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ảnh hưởng trực tiếp đến quyền sử dụng đất hợp pháp của ông H1.

[2.7] Mặt khác, ông T khởi kiện 11.487m², cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T đối với 930m² nhưng không giải quyết phần diện tích còn lại không được chấp nhận; cũng như buộc ông S, bà T1 thanh toán giá trị quyền sử dụng đất diện tích 930m² nhưng không công nhận phần diện tích đất này cho bị đơn sẽ ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự.

[2.8] Từ những phân tích trên, Toà án cấp sơ thẩm đã vi phạm về tố tụng và nội dung giải quyết vụ án. Toà án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được tại phiên tòa. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nêu trên, do đó cần huỷ bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Do huỷ án sơ thẩm nên Toà án cấp phúc thẩm không xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

[3] Về án phí:

Án phí phúc thẩm: Do huỷ án sơ thẩm nên ông Bùi T, bà Ka B, anh K'Bùi Thanh N và bị đơn ông Vũ Văn S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Án phí dân sự sơ thẩm: Sẽ được xem xét khi vụ án được giải quyết lại.

[4] Về chi phí tố tụng khác: Số tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, xem xét, thẩm định tại chỗ mà các đương sự đã tạm nộp sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 03/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lâm Đồng về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm” giữa nguyên đơn ông Bùi T; bị đơn ông Vũ Văn S; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Ka B, bà Vũ Thị T1, bà Nguyễn Thị Thanh H, anh K'Bùi Thanh N, UBND huyện B - người kế thừa quyền và nghĩa vụ: Chủ tịch UBND xã B, tỉnh Lâm Đồng.

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 4 - tỉnh Lâm Đồng giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  1. Về án phí:

+ Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét khi giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

+ Về án phí dân sự phúc thẩm:

Hoàn trả cho bà Ka B, anh K'Bùi Thanh N Sự mỗi người số tiền 300.000đ đã nộp theo các biên lai thu số 0007165, 0007164 cùng ngày 30/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

Hoàn trả cho ông Vũ Văn S số tiền 300.000đ đã nộp theo các biên lai thu số 0004674 cùng ngày 10/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

  1. Về chi phí tố tụng khác: Sẽ được xem xét khi giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Phòng GĐ, TTr, KT&THA;
  • - TAND khu vực 4 - Lâm Đồng;
  • - Phòng THADS khu vực 4 - Lâm Đồng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bích Thảo

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Vân

Dư Thành Trung

Nguyễn Thị Bích Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 78/2026/DS-PT ngày 29/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm

  • Số bản án: 78/2026/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản bị xâm phạm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/01/2026
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy án dân sự sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger