TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2026/DS-PT Ngày: 23-01-2026 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Phận;
Bà Phạm Thị Hồng Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 396/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 526/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 10 năm 2025; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà số: 358/2025/TB-TA ngày 24 tháng 11 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 437/2025/QĐPT-DS ngày 24 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1.
Địa chỉ: Số D, N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Đình L, chức vụ: Phó Giám đốc Phòng Quản lý nợ.
Ông Nguyễn Đình L uỷ quyền lại cho: Bà Nguyễn Thị Xuân Á, sinh năm 1989. Địa chỉ: Lầu H, Tòa nhà A, D, C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường N, Thành phố Hồ Chí Minh). (Có mặt)
- Bị đơn:
- + Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1959;
- + Bà Lê Thúy H, sinh năm 1978;
Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là phường H, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Đình L, Lê Thúy H: Ông Võ Trung D, sinh năm 1973. Địa chỉ: Khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)
- Người kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1, là nguyên đơn; ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm;
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/9/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Theo Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số TRA.CN.1775.060224 ngày 06/02/2024 và Hợp đồng cấp tín dụng số TRA.CN.1776.060224 ngày 06/02/2024, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 (sau đây viết tắt là A) đã giải ngân cho ông Nguyễn Đình L và bà Lê Thúy H số tiền 1.000.000.000 đồng vào ngày 06/02/2024, phương thức giải ngân: Chuyển tiền vào tài khoản thanh toán số 260545539 của ông Nguyễn Đình L tại A; thời hạn cho vay từ ngày 07/02/2024 đến ngày 06/8/2024 (06 tháng); lãi suất vay trong hạn 9,70%/năm; lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn; lãi suất phạt chậm trả lãi: 10%/năm. Khoản nợ được bảo đảm bằng Cam kết thế chấp tài sản ngày 06/02/2024 và Hợp đồng thế chấp số TRA.BĐCN.443.091019 ngày 10/10/2019 đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 273, tờ bản đồ số 71, diện tích 126m², đất tọa lạc tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp V, phường L, tỉnh Vĩnh Long), thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 457910 cấp ngày 16/9/2019.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với A nên A yêu cầu ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H phải có trách nhiệm trả cho A số tiền nợ gốc 999.999.998 đồng, tiền lãi tính đến ngày 21/7/2025 là 174.734.390 đồng (trong đó: lãi trong hạn 32.140.036 đồng, lãi quá hạn 139.121.918 đồng, tiền lãi chậm trả: 3.472.436 đồng và lãi phát sinh tiếp theo kể từ ngày 22/7/2025 cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 273, tờ bản đồ số 71, diện tích 126m², tọa lạc tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là phường L, tỉnh Vĩnh Long) thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H được xử lý để thu hồi nợ.
Tại bản tự khai, bị đơn ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H trình bày: Ông bà có thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là căn nhà ở L để vay số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Do làm ăn thất bại, gặp khó khăn nên ông bà không có thanh toán tiền lãi và tiền vốn cho A. Ông bà xin được trả dần số tiền vốn 1.000.000.000 đồng và xin miễn giảm lãi suất đến mức thấp nhất có thể theo quy định của A.
Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long đã tuyên:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35; 39, 147, 227, 228, 264, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 317, 318, 323, 463, 466 và 470 của Bộ luật dân sự; Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1.
- Buộc ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 số tiền nợ gốc 999.999.998đ (Chín trăm chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi tám đồng), tiền lãi tính đến ngày 21/7/2025 là 174.734.390đ (Một trăm bảy mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi bốn nghìn ba trăm chín mươi đồng), trong đó: lãi trong hạn: 32.140.036 đồng, lãi quá hạn 139.121.918 đồng, tiền lãi chậm trả: 3.472.436 đồng.
Kể từ ngày 22/7/2025 ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H còn phải tiếp tục chịu khoản lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3/ Xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 273, tờ bản đồ số 71, diện tích 126m², tọa lạc tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là phường L, tỉnh Vĩnh Long) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 457910 cấp ngày 16/9/2019.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04/8/2025, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H còn phải tiếp tục chịu khoản lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán và phạt chậm trả lãi theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 22/7/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
Ngày 05/8/2025, ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bỏ hết phần lãi tính đến ngày 21/7/2025 là 174.734.390 đồng và lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 22/7/2025 trở về sau theo mức lãi suất của Ngân hàng đồng thời xin trả dần số nợ gốc.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 là bà Nguyễn Thị Xuân Á trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu ông L, bà H còn phải chịu khoản lãi chậm trả lãi theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 22/7/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc; không đồng ý yêu cầu kháng cáo của ông L, bà H.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H là ông Võ Trung D trình bày: Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Do bị đơn bị bệnh nặng và làm ăn thua lỗ dẫn đến ảnh hưởng khả năng trả nợ nên xin bỏ hết tiền lãi; không đồng ý yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.
- - Về nội dung: Căn cứ quy định khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 và bị đơn ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 và ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H kháng cáo, đã thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ và còn trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 yêu cầu ông Nguyễn Đình L và bà Lê Thúy H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 số tiền nợ gốc là 999.999.998 đồng, tiền lãi tính đến ngày 21/7/2025 là 174.734.390 đồng (trong đó: lãi trong hạn 32.140.036 đồng, lãi quá hạn 139.121.918 đồng, tiền lãi chậm trả: 3.472.436 đồng) và lãi phát sinh tiếp theo kể từ ngày 22/7/2025 cho đến khi trả hết nợ. Ông L, bà H không đồng ý trả lãi, yêu cầu bỏ phần tiền lãi tính đến ngày 21/7/2025 là 174.734.390 đồng và lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 22/7/2025 trở về sau theo mức lãi suất của Ngân hàng, xin trả dần nợ gốc. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Xét kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1: Về lãi, căn cứ quy định tại Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng quy định: “4.Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:
- Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;
- Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;
- Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.”
Căn cứ khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định: “Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01-01-2017 được xác định như sau:
- Lãi trên nợ gốc, lãi trên nợ gốc quá hạn được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này.
- Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn.”
Các bên đương sự không có tranh chấp về các điều khoản đã thoả thuận trong các giấy tờ, hợp đồng đã ký gồm: Giấy đề nghị giải ngân kiêm chứng từ nhận nợ số 426798529; Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số TRA.CN.1775.060224 ngày 06/02/2024; Hợp đồng cấp tín dụng số TRA.CN.1776.060224 ngày 06/02/2024 nên các điều khoản về lãi của hợp đồng được áp dụng, phù hợp các quy định viện dẫn nêu trên. Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 yêu cầu ông L, bà H trả lãi của số tiền nợ gốc chưa trả và lãi chậm trả lãi theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 22/7/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc là có cơ sở. Toà án sơ thẩm tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 là đã bao gồm các khoản lãi theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Tuy nhiên, để đảm bảo việc thi hành án đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, Hội đồng xét xử điều chỉnh lại cách tuyên cho phù hợp về phần trách nhiệm của ông L, bà H phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết kể từ ngày 22/7/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[2.2] Ông L, bà H thừa nhận nợ gốc và yêu cầu được trả dần số tiền nợ gốc, tuy nhiên người đại diện của nguyên đơn không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy, việc thỏa thuận thời gian và phương thức trả nợ thuộc về giai đoạn thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết yêu cầu này. Ông L, bà H yêu cầu bỏ phần tiền lãi với lý do bị đơn bị bệnh nặng và làm ăn thua lỗ dẫn đến ảnh hưởng khả năng trả nợ. Về nội dung này, xét thấy yêu cầu của bị đơn xin bỏ phần tiền lãi là không có cơ sở, người đại diện của nguyên đơn không đồng ý nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn không có cơ sở, đương sự không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn.
[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Đình L là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí. Do đó, Hội đồng xét xử điều chỉnh lại án phí sơ thẩm, buộc bà Lê Thúy H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên, do bị đơn ông Nguyễn Đình L là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 và bị đơn ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2025/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 264, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 317, 318, 323, 463, 466 và 470 của Bộ luật Dân sự; Điều 100, 103 của Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1.
Buộc ông Nguyễn Đình L và bà Lê Thúy H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 số tiền nợ gốc 999.999.998đ (chín trăm chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi tám đồng), số tiền lãi tính đến ngày 21/7/2025 là 174.734.390đ (một trăm bảy mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi bốn nghìn ba trăm chín mươi đồng), trong đó lãi trong hạn: 32.140.036 đồng, lãi quá hạn: 139.121.918 đồng, lãi chậm trả: 3.472.436 đồng.
Ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H phải tiếp tục trả các khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết kể từ ngày 22/7/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 273, tờ bản đồ số 71, diện tích 126m², tọa lạc tại ấp V, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (nay là phường L, tỉnh Vĩnh Long) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho ông Nguyễn Đình L và bà Lê Thúy H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CS 457910 cấp ngày 16/9/2019.
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H phải chịu số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 đã nộp tạm ứng nên buộc ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 số tiền trên.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Đình L, bà Lê Thúy H phải chịu án phí 47.242.000đ (bốn mươi bảy triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn đồng). Tuy nhiên, ông Nguyễn Đình L là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí. Do đó, buộc bà Lê Thúy H phải chịu án phí là 47.242.000đ (bốn mươi bảy triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 không phải chịu án phí. H1 lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.580.000đ (hai mươi mốt triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009618 ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - Vĩnh Long).
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 phải chịu án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002026 ngày 19/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 đã nộp xong án phí.
Bà Lê Thúy H phải chịu án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001476 ngày 05/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Bà Lê Thúy H đã nộp xong án phí.
Ông Nguyễn Đình L phải chịu án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Tuy nhiên, do ông Nguyễn Đình L là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí số tiền trên.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Đức |
Bản án số 77/2026/DS-PT ngày 23/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 77/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
