Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28-11-2025

V/v tranh chấp về xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Ngọc Minh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Đồng.
  • Bà Vũ Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thành Đạt, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 236/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lò Thị H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1998.
  • Địa chỉ: Thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh.
  • Số căn cước công dân: [...].
  • (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  • - Bị đơn: Anh Hoàng Văn M, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1998.
  • Địa chỉ: Thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh.
  • Số căn cước công dân: [...].
  • (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • Anh Tẩn Phúc Q, sinh năm 1990 (vắng mặt).
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, tỉnh Tuyên Quang.
  • Số căn cước công dân: [...].

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/7/2025 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Lò Thị H trình bày:

Năm 2016, chị kết hôn với anh Tẩn Phúc Q và có 02 con chung là Tẩn Văn T, sinh ngày 13/10/2016 và Tẩn Linh Đ, sinh ngày 31/8/2019. Chị và anh Q chung sống đến năm 2020 thì nảy sinh mâu thuẫn, không thể hòa giải, ly thân từ năm 2020 và đã được Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Tuyên Quang giải quyết cho ly hôn tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án số 18/2025/QĐCNTTLH ngày 03/4/2025. Trong thời gian ly thân với anh Q thì chị có quen biết và có quan hệ tỉnh cảm với anh Hoàng Văn M. Lần lượt trong các ngày 24/02/2022 và ngày 27/4/2024, chị sinh con, dự định đặt tên là Hoàng Thị T1 và Hoàng Hải N. Tuy nhiên, chị xác định hai cháu không phải con chung của chị và anh Q do thời điểm này chúng chị đã ly thân, không gặp gỡ, không quan hệ vợ chồng. Do các cháu sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và anh Q nên chị chưa làm thủ tục khai sinh cho các cháu được. Theo kết quả xét nghiệm ADN thì xác định cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Thị T1, sinh ngày 24/02/2022 và cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Hải N, sinh ngày 27/4/2024 có quan hệ cha con với anh Hoàng Văn M. Nay chị đề nghị Tòa án tuyên bố xác định anh Hoàng Văn M là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Thị T1, sinh ngày 24/02/2022 và cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Hải N, sinh ngày 27/4/2024.

* Tại Bản tự khai, bị đơn là anh Hoàng Văn M trình bày:

Năm 2021, anh quen biết và có quan hệ tình cảm với chị Lò Thị H. Trong thời gian quen biết với chị H và chưa đăng ký kết hôn thì chị H có sinh hai cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Thị T1, sinh ngày 24/02/2022 và cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Hải N, sinh ngày 27/4/2024 tại Trung tâm Y tế huyện L, tỉnh Bắc Giang. Thời điểm chị H sinh cháu T1, cháu N thì chị H chưa làm thủ tục ly hôn với anh Q. Do vậy, đến nay anh và chị H chưa làm thủ tục khai sinh cho hai cháu. Theo kết quả giám định gen thì anh và cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Thị T1, sinh ngày 24/02/2022 và cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Hải N, sinh ngày 27/4/2024 có quan hệ huyết thống cha con. Nay chị H khởi kiện đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Thị T1, sinh ngày 24/02/2022 và cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Hải N, sinh ngày 27/4/2024 thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Tẩn Phúc Q trình bày:

Khoảng tháng 03/2022 anh với chị Lò Thị H là vợ chồng hợp pháp. Anh và chị H không có mâu thuẫn gì thì chị H tự ý bỏ đi từ tháng 7/2022 đến tháng 3/2025 thì chị H về, anh với chị H làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ tại Quyết định số 18/2025/QĐCNTTLH ngày 03/4/2025. Nay chị Lò Thị H đề nghị Tòa án xác định anh Hoàng Văn M là cha đẻ cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Thị T1, sinh ngày 24/02/2022 và cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Hải N, sinh ngày 27/4/2024 thì anh xác định anh không hề hay biết việc chị H có con với người đàn ông khác và sự việc không liên quan tới anh. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo pháp luật.

* Tại Công văn số 82 ngày 23/07/2025 về việc giám định ADN của Công ty cổ phần D xác định:

Vào ngày 02/6/2025 cộng tác viên thu mẫu của công ty D tại Bắc Giang đã hoàn thiện hồ sơ và thu mẫu để tiến hành xét nghiệm ADN của những người có tên sau: Thu mẫu của ông Hoàng Văn M, sinh ngày 20/3/1998, số CCCD: [...], do Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp, thu mẫu cháu Hoàng Thị Ngọc T1 (Tên dự định), sinh ngày 24/02/2022 (theo Giấy chứng sinh số 130, quyển số 01, cấp tại Trung tâm Y tế huyện V, tỉnh Bắc Giang) và cháu Hoàng Hải N (Tên dự định), sinh ngày 27/04/2024 (theo Giấy chứng sinh số GCS003152, quyển số 2024, cấp tại Bệnh viện S). Người đại diện yêu cầu xét nghiệm là ông Hoàng Văn M; Địa chỉ: K, thị xã C, Bắc Giang. Quy trình thu mẫu được tiến hành như sau: ông Hoàng Văn M, cháu Hoàng Thị Ngọc T1 (Tên dự định), và cháu Hoàng Hải N (Tên dự định) được cộng tác viên thu mẫu của công ty D tại Bắc Giang trực tiếp thu mẫu máu, chụp ảnh, lăn dấu vân tay và chụp các giấy tờ cá nhân theo đúng thông tin đã khai trên phiếu yêu cầu phân tích ADN theo thủ tục hành chính pháp lý. Các giấy tờ xác nhận do gia đình tự cung cấp. Trên phiếu yêu cầu phân tích ADN mã HID25 40414 có đầy đủ chữ ký của ông ông Hoàng Văn M và bà Lò Thị H (giám hộ cho cháu Hoàng Thị Ngọc T1 và cháu Hoàng Hải N). Kết quả phân tích ADN đã được Công ty D trả lời trong Phiếu kết quả mã số HID25 40414 (số KQ: 2502211 & 2502207) ngày 06 tháng 6 năm 2025. Công ty D xác nhận các thông tin trên là đúng sự thật.

* Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lò Thị H, bị đơn anh Hoàng Văn M, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tẩn Phúc Q vắng mặt. Hội đồng xét xử đã tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 238, 271, 273 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 và 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị H: Xác định anh Hoàng Văn M là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Thị T1, sinh ngày 24/02/2022 (theo Giấy chứng sinh số 130 quyển số 01, cấp ngày 25/02/2022 tại Trung tâm Y tế huyện V) và cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Hải N, sinh ngày 27/4/2024 (theo Giấy chứng sinh số 03152.GCS.24022.24, quyển số 2024, cấp ngày 28/4/2024 tại Bệnh viện S1, tỉnh Bắc Giang). Ngoài ra còn phát biểu về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Lò Thị H yêu cầu Tòa án xác định anh Hoàng Văn M là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Thị T1, sinh ngày 24/02/2022 và cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Hải N, sinh ngày 27/4/2024; anh Hoàng Văn M cư trú tại thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 101 và 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định đây là quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về xác định cha cho con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh.

[2] Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lò Thị H, bị đơn anh Hoàng Văn M văng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tẩn Phúc Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Lò Thị H, anh Hoàng Văn M, anh Tẩn Phúc Q.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

[3.1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự xác định: Chị Lò Thị H và anh Tẩn Phúc Q kết hôn vào năm 2016. Quá trình chung sống, chị Lò Thị H và anh T2 Phúc Quý nảy sinh mâu thuẫn, sống ly thân từ năm 2020, đã được giải quyết ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại Tòa án số 18/2025/QĐCNTTLH ngày 03/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Ngày 24/02/2022 chị Lò Thị H sinh cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Thị T1 và ngày 27/4/2024, chị Lò Thị H sinh cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Hải N. Tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng”. Như vậy, thời điểm cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Thị T1 và Hoàng Hải N sinh ra là trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Lò Thị H và anh Tẩn Phúc Q.

[3.2] Quá trình giải quyết vụ án, chị Lò Thị H, anh Tấn Phúc Q đều thừa nhận mặc dù cháu Hoàng Thị T1 và Hoàng Hải N được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và anh Tẩn Phúc Q nhưng thực tế thì chị H đã ly thân anh Q từ năm 2020. Chị H và anh Q không có quan hệ tình cảm gì, không có việc quan hệ vợ chồng, không liên lạc hỏi thăm gì nhau nên cháu Hoàng Thị T1 và cháu Hoàng Hải N không phải con chung của chị H và anh Q. Mặt khác, tại Kết quả phân tích ADN đã được Công ty cổ phần D trả lời trong Phiếu kết quả mã số HID25 40414 (số KQ: 2502211 & 2502207) cùng ngày 06 tháng 6 năm 2025 đã kết luận: Người có mẫu ghi tên Hoàng Văn M, ngày sinh 20/3/1998, số CCCD: 0240098014618, ký hiệu mẫu: HID2507163-1 (cha giả định) và người có mẫu ghi tên Hoàng Thị Ngọc T1 (Tên dự định), sinh ngày 24/02/2022 (theo Giấy chứng sinh số 130, quyển số 01, cấp tại Trung tâm Y tế huyện V, tỉnh Bắc Giang) và cháu Hoàng Hải N (Tên dự định), sinh ngày 27/04/2024 (theo Giấy chứng sinh số GCS003152, quyển số 2024, cấp tại Bệnh viện S) có quan hệ huyết thống cha-con. Việc giám định được thực hiện khách quan, đúng quy định pháp luật.

[3.3] Từ những đánh giá trên, căn cứ vào Kết quả giám định, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị H, cần xác định anh Hoàng Văn M là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Thị T1, sinh ngày 24/02/2022 (theo Giấy chứng sinh số 130 quyển số 01, cấp ngày 25/02/2022 tại Trung tâm Y tế huyện V) và cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Hải N, sinh ngày 27/4/2024 (theo Giấy chứng sinh số 03152.GCS.24022.24, quyển số 2024, cấp ngày 28/4/2024 tại Bệnh viện S1, tỉnh Bắc Giang) là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì các đương sự trong vụ án không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên cần chấp nhận.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án;
  • - Điều 88, Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
  • - Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị H:

    Xác định anh Hoàng Văn M, ngày sinh 20/3/1998, trú tại thôn C, xã K, tỉnh Bắc Ninh (số căn cước công dân: 0240098014618) là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Thị T1, sinh ngày 24/02/2022 (theo Giấy chứng sinh số 130, quyển số 01, cấp ngày 25/02/2022 tại Trung tâm Y tế huyện V) và cháu bé dự định đặt tên là Hoàng Hải N, sinh ngày 27/4/2024 (theo Giấy chứng sinh số 03152.GCS.24022.24, quyển số 2024, cấp ngày 28/4/2024 tại Bệnh viện S1, tỉnh Bắc Giang).

  2. Về án phí: Các đương sự không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 5 - Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 5 - Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Ngọc Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 75/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH về tranh chấp về xác định cha cho con

  • Số bản án: 75/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 236/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger