|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 749/2025/HS-PT Ngày: 27 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Châu
Các Thẩm phán:1. Ông Vũ Hoài Nam
2. Ông Nguyễn Văn Hậu
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 634/2025/TLPT-HS ngày 29/10/2025 đối với các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Lê Đình Q, Nguyễn Trọng N và Nguyễn Hồng P do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 208/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Thị Kim L (Tên gọi khác: V); giới tính: Nữ; sinh năm 1994, tại tỉnh Đồng Tháp; nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp); chỗ ở: Số H đường L, khu phố C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Số H đường L, khu phố C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Nhân viên massage; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Việt H và bà Nguyễn Thị D; sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thái H1, có 02 con, lớn sinh năm 2010; nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/9/2023 đến ngày 18/9/2023 được tại ngoại; có mặt.
2. Lê Đình Q; giới tính: Nam; sinh năm 1998, tại tỉnh Hậu Giang (nay là Thành phố Cần Thơ); nơi đăng ký thường trú: khu vực B, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là khu vực B, phường L, Thành phố Cần Thơ); chỗ ở: Số H đường L, khu phố C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là số H đường L, khu phố C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Nhân viên massage; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh V1 (đã chết) và bà Trương Thị N1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt, tạm giam từ ngày 18/9/2023; có mặt.
3. Nguyễn Trọng N; giới tính: Nam; sinh năm 1994, tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp); nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp P, xã L, tỉnh Đồng Tháp); chỗ ở: Số H đường L, khu phố C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Số H đường L, khu phố C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Nhân viên massage; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Trần Thị L1; có vợ và có 01 con: sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định số 43/2020/QĐTA ngày 30/10/2020 của TAND huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (nay là Toà án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp) áp dụng đưa đi chữa bệnh bắt buộc 16 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, ngày 06/01/2022, bị cáo chấp hành xong; Quyết định số 1156/QĐ - XPHC ngày 20/5/2022 của Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong).
Bị bắt, tạm giam từ ngày 18/9/2023; có mặt.
4. Nguyễn Hồng P; giới tính: Nam; sinh năm 1989, tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Số B Khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là Số B Khóm Đ, phường M, tỉnh An Giang); chỗ ở: Số D đường L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là số D đường L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Quản lý cơ sở M1; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q1 (đã chết) và bà Trần Mỹ D1 (đã chết); tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt, tạm giam từ ngày 09/9/2023; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Kim L: Luật sư Trần Bùi N2, Công ty TNHH MTV H2, Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
Trong vụ án còn có bị cáo Hình Thái Đ không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cơ sở massage T7, địa chỉ số H L, khu phố C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Số H đường L, khu phố C, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) do Trương Thành T đứng tên đăng ký giấy phép kinh doanh và Nguyễn Thái H1 là người quản lý ban đầu sau đó giao toàn quyền quản lý cho Nguyễn Thị Kim L (chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thái H1). Cơ sở massage M1, địa chỉ số D L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Số D L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) do Đoàn Thị M (là nhân viên massage) đứng tên đăng ký giấy phép kinh doanh nhưng cơ sở do L quản lý, điều hành hoạt động 02 cơ sở massage Đ, T. H1 lập nhóm quản lý nhân viên trên ứng dụng Telegram giao cho L quản lý, sử dụng.
Quá trình kinh doanh, do muốn tăng thêm thu nhập nên Nguyễn Thị Kim L trao đổi thống nhất với nhân viên nữ muốn kiếm thêm thu nhập thì có thể bán dâm khi khách massage có nhu cầu và địa điểm bán dâm tại cơ sở kinh doanh. L dùng ứng dụng Telegram quảng cáo tại cơ sở massage T7, Đ có nhân viên nữ bán dâm cho khách theo các gói dịch vụ như: Gói 01 giá 1.700.000 đồng, khách được quan hệ tình dục 01 lần (nhân viên nữ hưởng 1.000.000 đồng); gói 02 giá 3.500.000 đồng thì khách được quan hệ tình dục 02 lần (nhân viên nữ hưởng 2.000.000 đồng). Nguyễn Thị Kim L hàng ngày xem tin nhắn trên ứng dụng Telegram để đăng các quảng cáo và nhận thỏa thuận với khách mua dâm. Khi khách mua dâm vào xem sẽ thỏa thuận với Nguyễn Thị Kim L mua gói massage nào và mua dâm đối với nhân viên nữ có số thứ tự để khách mua dâm lựa chọn. Sau khi Nguyễn Thị Kim L nhận thỏa thuận với khách mua dâm sẽ thông báo lên nhóm trên ứng dụng Zalo để Nguyễn Trọng N, Hình Thái Đ, Lê Đình Q (nhân viên cơ sở massage T7) và Nguyễn Hồng P (nhân viên cơ sở massage M1) biết.
Ngày 09/9/2023, tại Cơ sở massage T7 và Cơ sở massage M1, Công an H3 phối hợp Đ1, Công an phường B, Công an phường B kiểm tra phát hiện nhân viên nữ của hai cơ sở massage đang có hành vi bán dâm nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi “Chứa mại dâm”.
Tại cơ sở massage T7: Vào khoảng 14 giờ 40 phút ngày 09/9/2023, kiểm tra phát hiện tại Phòng V2, lầu C, nhân viên Đoàn Thị M đang bán dâm cho Nguyễn Văn T1, giá vé 3.500.000 đồng và tại phòng V3, lầu C, nhân viên Nguyễn Ngọc T2 đang bán dâm cho Trương Minh C, giá vé 3.500.000 đồng. Tại thời điểm kiểm tra, có Nguyễn Thị Kim L và các nhân viên quản lý Hình Thái Đ, Lê Đình Q, Nguyễn Trọng N.
Tại cơ sở massage M1: Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 09/9/2023, kiểm tra phát hiện tại phòng Vip 3 lầu 2, nhân viên Nguyễn Thanh N3 đang massage cho Giản Nguyễn Anh S1 và phòng Vip 5 lầu 3 nhân viên Bùi Anh T3 đang bán dâm cho Lê Trung T4 giá vé 3.500.000 đồng. Thời điểm kiểm tra tại cơ sở massage M1 có nhân viên quản lý Nguyễn Hồng P.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trọng N, Lê Đình Q, Hình Thái Đ, Nguyễn Hồng P khai nhận giúp sức cho Nguyễn Thị Kim L quản lý cơ sở massage và hoạt động chứa mại dâm tại hai cơ sở massage Đ và T. Các bị cáo Nguyễn Trọng N, Lê Đình Q và Nguyễn Hồng Phúc L2 trả lương 6.000.000 đồng/tháng, riêng Hình Thái Đ được trả lương 4.000.000 đồng/tháng và được hưởng thêm tiền khách mua dâm cho. Tiền thu được từ cơ sở bao gồm tiền bán vé gói massage cho khách mua dâm và tiền nhân viên nữ bán dâm thì Nguyễn Trọng N, Nguyễn Hồng P giữ, cuối ngày tổng kết trả tiền cho nhân viên nữ bán dâm, số tiền còn lại là phần thu lợi của cơ sở massage thì Nguyễn Trọng N, Nguyễn Hồng P bàn giao lại cho Nguyễn Thị Kim L hoặc đối tượng tên T5 (chưa rõ lai lịch).
Bản Cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh) truy tố các bị cáo về tội “Chứa mại dâm” theo điểm a, c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 208/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2023 đến ngày 18/9/2023.
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lê Đình Q 05 (năm) năm tù về tội “Chứa mại dâm”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2023.
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2023.
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng P 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Chứa mại dâm".
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/9/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn căn cứ Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hình T6 Đ 03 năm tù về tội “Chứa mại dâm” và quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/9/2025, bị cáo Nguyễn Thị Kim L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/9/2025, bị cáo Lê Đình Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/9/2025, bị cáo Nguyễn Trọng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/9/2025, bị cáo Nguyễn Hồng P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bản án sơ thẩm số 208/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự và căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải xử phạt bị cáo Lê Đình Q 05 năm tù, Nguyễn Trọng N 05 năm 03 tháng tù, Nguyễn Hồng P 05 năm 03 tháng tù cùng về tội “Chứa mại dâm”; ngoài ra bị cáo Nguyễn Thị Kim L thuê bị cáo Hình Thái Đ giúp sức trong việc phạm tội khi bị cáo Đ chỉ mới 17 tuổi 6 tháng là thuộc trường hợp xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội, xử phạt bị cáo L 05 năm 06 tháng về tội “Chứa mại dâm” là có căn cứ. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Lê Đình Q, Nguyễn Trọng N và Nguyễn Hồng P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời gian luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Lê Đình Q, Nguyễn Trọng N tự nguyện rút đơn kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử kháng cáo đối với các bị cáo rút đơn kháng cáo. Xét, mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo L, P là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo L, P không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Kim L trình bày: Luật sư đồng ý về tội danh của tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim L, kể từ khi bị bắt, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều tỏ thái độ thành khẩn và rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về tình tiết giảm nhẹ cấp sơ thẩm đã áp dụng thì hiện nay bị cáo có haonf cảnh khó khăn đang nuôi 02 con nhỏ, đang có thai, sức khỏe không ổn định, nên đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, giảm hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Hồng P không tham gia tranh luận.
Kiểm sát viên đối đáp: Luật sư bào chữa cho bị cáo chỉ đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Luật sư, Kiểm sát viên bảo lưu quan điểm đã trình bày tranh luận, đối đáp.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Lê Đình Q, Nguyễn Trọng N và Nguyễn Hồng P trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Hồng P giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các bị cáo Lê Đình Q, Nguyễn Trọng N tự nguyện rút kháng cáo, căn cứ Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo rút kháng cáo.
[3] Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thị Kim L là chủ mưu cùng đồng phạm đã có hành vi chứa mại dâm tại các cơ sở masage do L làm quản lý đã bị cơ quan công an bắt quả tang, hành vi phạm tội của các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có tổ chức và phạm tội 02 lần trở lên. Cấp sơ thẩm đã căn cứ hành vi, tính chất, mức độ và hậu quả của vụ án, vai trò của từng bị cáo đồng phạm và các tình tiết định khung quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Hồng P cùng các bị cáo khác trong vụ án về tội “Chứa mại dâm” là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Hồng P: Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo L có hành vi xúi giục Hình Thái Đ là người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim L 05 năm 06 tháng tù, Nguyễn Hồng P 05 năm 03 tháng tù về tội “Chứa mại dâm” là phù hợp với vai trò, tính chất mức độ phạm tội của từng bị cáo. Trước khi xét xử phúc thẩm, bị cáo L cung cấp tài liệu thể hiện là phụ nữ có thai và đã nộp tiền thu lợi bất chính và tiền phạt bổ sung nên cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phúc trình bày gia đình có công với cách mạng, cha là thương binh nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo phạm tội có tổ chức, phạm tội từ 02 lần trở lên là các tình tiết định khung quy định của điều luật. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận lời bào chữa của luật sư và kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
[5] Do không chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Hồng P phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Hồng P. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 208/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh đối với các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Hồng P như sau:
1.1. Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 327; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa mại dâm”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được cấn trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2023 đến ngày 18/9/2023.
1.2. Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng P 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Chứa mại dâm".
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/9/2023.
2. Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Lê Đình Q, Nguyễn Trọng N. Bản án sơ thẩm số 208/2025/HS-ST ngày 25/9/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử đối với các bị cáo Lê Đình Q, Nguyễn Trọng N về phần hình phạt có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Ghi nhận bị cáo Nguyễn Thị Kim L đã nộp tiền thu lợi bất chính, tiền phạt bổ sung 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) theo biên lai thu số 0009608 ngày 19/11/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Hồng P, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Châu |
Bản án số 749/2025/HS-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội chứa mại dâm
- Số bản án: 749/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Chứa mại dâm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Hồng P và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.
