Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - HÀ NỘI

Bản án số: 69/2026/HS-ST

Ngày 26/01/2026

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Hải

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cao Biền

Ông Bùi Văn Chanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Tưởng Quốc Cường - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Minh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 261/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số 65/2025/HPT-QĐ ngày 29/12/2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: HÀ VĂN Q; Sinh năm 1987; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Xóm Y, phường T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Hà Văn T, sinh năm 1961 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1964; Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Bản án số 22/2016/HSST ngày 29/02/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ) xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

- Ngày 14/6/2018, bị Công an phường P, quận H (cũ), thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 21/10/2025 đến ngày 31/10/2025 và hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Họ và tên: NGUYỄN VĂN G; Sinh năm 1984; Giới tính: Nam; HKTT: Thôn P, xã M, thành phố Hải Phòng; Nơi ở: Khu L, phường H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Nguyễn Văn D, sinh năm 1963; Họ tên mẹ: Vũ Thị T1, sinh năm 1962; Anh chị em ruột: 04 người, bị cáo là con thứ 4; Vợ: Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1987; Con: 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 21/10/2025 đến ngày 31/10/2025 và hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

3. Họ và tên: NGUYỄN ĐỨC H2; Sinh năm 1987; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Số nhà C, đường P, Tổ dân phố A, phường H, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: 12/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1951; Họ tên mẹ: Đặng Bích Y, sinh năm 1964; Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Trần Thu H3, sinh năm 1989; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 21/10/2025 đến ngày 31/10/2025 và hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

4. Họ và tên: NGUYỄN ĐÌNH M; Sinh năm 1981; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Số C, Ngõ E, Đ, thôn V, xã V, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Nguyễn Đình M1, sinh năm 1956; Họ tên mẹ: Tưởng Thị N, sinh năm 1956; Anh chị em ruột: có 05 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Trần Thu T3, sinh năm 1985; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 21/10/2025 đến ngày 31/10/2025 và hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

5. Họ và tên: NGÔ TIẾN MẠNH; Sinh năm 1986; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Số I, Tổ D, thôn Đ, xã Ứ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Ngô Bá D1, sinh năm 1962; Họ tên mẹ: Ngô Thị T4, sinh năm 1961; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Trần Thị Lệ G1, sinh năm 1989; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 21/10/2025 đến ngày 31/10/2025 và hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

6. Họ và tên: CÀ VĂN LINH; Sinh năm 1987; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Bản N, xã C, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Cà Văn Í, sinh năm 1964; Họ tên mẹ: Lù Thị T5, sinh năm 1965; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Lò Thị M2, sinh năm 1987; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 21/10/2025 đến ngày 31/10/2025 và hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

7. Họ và tên: ĐẶNG THỊ H4; Sinh năm 1977; Giới tính: Nữ; HKTT: Tổ C, phường Y, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số E, đường Q, phường D, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Đặng Quang H5, sinh năm 1950; Họ tên mẹ: Dương Thị M3, sinh năm 1954; Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Chồng: Ngô Doãn V, sinh năm 1974; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 21/10/2025 đến ngày 31/10/2025 và hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 4/2025, Đặng Thị H4 thuê căn nhà mục đích để ở và kinh doanh tại địa chỉ Số E, đường Q, phường D, thành phố Hà Nội của bà Nguyễn Thị Hương G2 (sinh năm 1969, trú tại Số A, phố B, phường H, thành phố Hà Nội).

Khoảng 13 giờ ngày 21/10/2025, khi H4 đang ở nhà thì có một số bạn quen biết xã hội đến chơi uống nước ở tầng 1, gồm: Nguyễn Văn G, Ngô Tiến M4, Nguyễn Đình M, Nguyễn Đức H2, Cà Văn L, Hà Văn Q. Sau đó, 06 đối tượng rủ nhau chơi đánh bạc dưới hình thức chơi “Liêng” sát phạt nhau bằng tiền. H4 đồng ý và chỉ cho các đối tượng lên tầng 6 để chơi đánh bạc. Cách thức và mức độ sát phạt như sau: Các đối tượng sử dụng 01 bộ bài T6-lơ-khơ gồm 52 quân bài (Do Nguyễn Đức H2 chuẩn bị sẵn đem đến) để chơi. Trước khi chia bài, tất cả người chơi bỏ ra 20.000 đồng/ván (gọi là tiền “gà”), tùy thuộc vào từng người chơi và quân bài mình có để “tố”, mức độ sát phạt từ 20.000 đồng đến 200.000 đồng/lần. Bắt đầu ván bài, mỗi người chơi sẽ được chia 03 quân bài để tự tính điểm của mình. Sau đó người chơi có các lựa chọn:

  • Úp bài: Nếu thấy bài kém, người chơi úp bài chấp nhận thua và bị mất đi số tiền cược ban đầu và kết thúc ván bài tại đó.
  • “Tố”: Đặt thêm tiền cược cao hơn số tiền của những người cửa trên đã đặt (không giới hạn vòng “tố”, mức tiền “tố” từ 20.000 đồng đến 200.000 đồng).
  • “Theo”: Đặt tiền cược đúng bằng số tiền của người ở cửa trên đặt. Sau khi mọi người đặt tiền cược, người nào có bài cao nhất sẽ là người thắng và được thu toàn bộ số tiền “gà” và tiền cược của ván đó.

Bài “liêng” xếp theo thứ tự từ cao đến thấp lần lượt như sau: Sáp, L1, Ảnh, 9, 8, ..., 0. “Sáp” là 3 quân cùng loại (trong đó “sáp” 03 quân A là lớn nhất), “Liêng” là 03 quân bài có số thứ tự liên tiếp nhau (trong đó “Liêng” 03 quân Q, K, A là lớn nhất), tiếp sau tính điểm (trong đó 9 điểm là lớn nhất). Người chơi thắng khi “tố” mà không có ai theo hoặc hạ bài có 03 quân lớn nhất trong số những người cùng chơi thì sẽ được số tiền gà và tiền người chơi “tố” cùng. Các đối tượng thỏa thuận trong quá trình chơi, nếu ai được liêng “đồng hoa” thì bỏ ra chiếu 60.000 đồng, ai được “sáp” thì bỏ ra chiếu 100.000 đồng cho Đặng Thị H4.

Hành vi cụ thể của các đối tượng như sau: Đặng Thị H4 là chủ nhà, đồng ý cho các đối tượng tham gia đánh bạc, khi bắt quả tang các đối tượng đã bỏ ra chiếu số tiền 160.000 đồng cho H4. Nguyễn Văn G sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt có 2.600.000 đồng. Nguyễn Đức H2 sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt có 1.000.000 đồng. Nguyễn Đình M sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt có 1.900.000 đồng. Ngô Tiến M4 sử dụng 920.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt có 1.460.000 đồng. Cà Văn L sử dụng 700.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt có 1.000.000 đồng. Hà Văn Q sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt có 1.000.000 đồng. Các đối tượng chơi đánh bạc đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng công kiểm tra hành chính phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng để phục vụ điều tra làm rõ sự việc.

Vật chứng thu giữ:

Khi bắt quả tang, công an đã thu giữ tại chiếu bạc 01 bộ bài T6-lơ-khơ gồm 52 quân và 9.120.000 đồng tiền Ngân hàng N1 đang lưu hành (Trong đó có 160.000 đồng H4 thu được từ các đối tượng tham gia đánh bạc).

Trong giai đoạn điều tra, truy tố các bị can Hà Văn Q, Nguyễn Văn G, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đình M, Ngô Tiến M4, Cà Văn L và Đặng Thị H4 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại bản cáo trạng số 169/CT-VKS-HS ngày 08/12/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hà Nội đã truy tố các bị cáo Hà Văn Q, Nguyễn Văn G, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đình M, Ngô Tiến M4, Cà Văn L và Đặng Thị H4 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ; các bị cáo đều có thái độ ăn năn, hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hà Nội duy trì quyền công tố: Tại phiên tòa, các bị cáo khai báo phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu khác có đủ cơ sở kết luận cáo trạng truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nên giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với 07 bị cáo.

- Đối với bị cáo Hà Văn Q: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hà Văn Q cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Phú Thọ quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đình M, Ngô Tiến M4, Cà Văn L và Đặng Thị H4 mỗi bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 9.120.000 đồng; Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bộ tú lơ khơ, 52 quân.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đình M, Ngô Tiến M4, Cà Văn L và Đặng Thị H4.

Các bị cáo không tranh luận gì với phần luận tội và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 15 giờ 30 phút ngày 21/10/2025, tại Tầng F, Số nhà E, đường Q, phường D, thành phố Hà Nội, các đối tượng Hà Văn Q, Nguyễn Văn G, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đình M, Ngô Tiến M4, Cà Văn L đã có hành vi cùng nhau đánh bạc dưới hình thức chơi “Liêng” sát phạt bằng tiền, với tổng số tiền đánh bạc chứng minh được là 9.120.000 đồng. Đặng Thị H4 là người thuê và đang quản lý, sử dụng số nhà trên đã đồng ý giúp sức cho các bị cáo mượn địa điểm để đánh bạc, thu lợi bất hợp pháp được số tiền 160.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo thoả mãn dấu hiệu của tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4]. Về vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn. Bị cáo Đặng Thị H4 tuy không tham gia đánh bạc, nhưng là người thuê và đang quản lý, sử dụng số nhà E, đường Q, phường D, thành phố Hà Nội đã đồng ý giúp sức cho các đối tượng mượn địa điểm để đánh bạc.

[5]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

- Về các tình tiết giảm nhẹ: Cả 7 bị cáo đều được hưởng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đình M, Ngô Tiến M4, Cà Văn L và Đặng Thị H4 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hà Văn Q có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Kim H là người thờ cúng liệt sỹ, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

- Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

+ Đối với bị cáo Hà Văn Q có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

+ Đối với các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đình M, Ngô Tiến M4, Cà Văn L và Đặng Thị H4 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hành vi phạm tội của các bị cáo ít nghiêm trọng, xét thấy có thể áp dụng hình phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo nói riêng, phòng ngừa tội phạm nói chung, tạo điều kiện tốt nhất để các bị cáo cải tạo thành người tốt.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Hà Văn Q. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đình M, Ngô Tiến M4, Cà Văn L và Đặng Thị H4.

[7]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 9.120.000 đồng; Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bộ tú lơ khơ, 52 quân.

[8]. Về án phí và quyền kháng cáo.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ các nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Các bị cáo Hà Văn Q, Nguyễn Văn G, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đình M, Ngô Tiến M4, Cà Văn L và Đặng Thị H4 phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Văn Q 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hà Văn Q cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Phú Thọ quản lý, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên. Thì tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Hà Văn Q số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng)

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 58; Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng)

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H2 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng)

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình M số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)

+ Xử phạt bị cáo Ngô Tiến M4 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)

+ Xử phạt bị cáo Cà Văn L số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)

+ Xử phạt bị cáo Đặng Thị H4 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng)

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 9.120.000 đồng theo Ủy nhiệm chi ngày 15/01/2026, Công an thành phố H nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1054168.00000 tại Kho bạc nhà nước khu vực I- Phòng giao dịch số 10-0017.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bộ tú lơ khơ, 52 quân (đã qua sử dụng). Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/12/2025 giữa Công an thành phố H với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6, thành phố Hà Nội.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo Hà Văn Q, Nguyễn Văn G, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đình M, Ngô Tiến M4, Cà Văn L và Đặng Thị H4 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo Hà Văn Q, Nguyễn Văn G, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đình M, Ngô Tiến M4, Cà Văn L và Đặng Thị H4 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND khu vực 6 – Hà Nội;
  • - CA phường Dương Nội;
  • - THADS thành phố Hà Nội;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 69/2026/HS-ST ngày 26/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về đánh bạc

  • Số bản án: 69/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Hà Văn Q, Nguyễn Văn G, Nguyễn Đức H2, Nguyễn Đình M, Ngô Tiến M4, Cà Văn L và Đặng Thị H4 có hành vi Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger